Quyết định 1000/QĐ-UBND

Quyết định 1000/QĐ-UBND phê duyệt Phương án phòng, chống hạn và nhiễm mặn năm 2014 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Nội dung toàn văn Quyết định 1000/QĐ-UBND phê duyệt Phương án phòng chống hạn nhiễm mặn 2014 Quảng Nam


ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NAM
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 1000/QĐ-UBND

Quảng Nam, ngày 01 tháng 4 năm 2014

 

QUYẾT ĐỊNH

PHÊ DUYỆT PHƯƠNG ÁN PHÒNG, CHỐNG HẠN VÀ NHIỄM MẶN NĂM 2014 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;

Căn cứ Luật Ngân sách Nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 12/12/2002;

Căn cứ Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách Nhà nước;

Xét đề nghị của Sở Nông nghiệp và PTNT tại Tờ trình số 89/TTr-SNN&PTNT ngày 25/3/2014 về việc đề nghị phê duyệt Phương án phòng, chống hạn và nhiễm mặn năm 2014 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt kèm theo Quyết định này "Phương án phòng, chống hạn và nhiễm mặn năm 2014 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam".

Điều 2. Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc các Sở: Nông nghiệp và PTNT, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư; Giám đốc Kho bạc Nhà nước Quảng Nam; Chủ tịch UBND các huyện, thành phố; Giám đốc Công ty TNHH Một thành viên Khai thác thủy lợi Quảng Nam và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký./.

 

 

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH




Nguyễn Ngọc Quang

 

PHƯƠNG ÁN

PHÒNG, CHỐNG HẠN VÀ NHIỄM MẶN NĂM 2014
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1000 /QĐ-UBND ngày 01 tháng 4 năm 2014 của UBND tỉnh Quảng Nam)

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH THỜI TIẾT, NGUỒN NƯỚC, DIỆN TÍCH BỊ ẢNH HƯỞNG

I. NHẬN ĐỊNH TÌNH HÌNH THỜI TIẾT VÀ DỰ BÁO NGUỒN NƯỚC NĂM 2014

1. Nhận định tình hình thời tiết

Theo thống kê của Trung tâm Khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Nam, tỷ trọng mưa từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 02 năm 2014 thiếu hụt từ 65 đến 85% so với TBNN; dòng chảy trên các sông từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 02 năm 2014 dao động nhỏ và hạ thấp dần, mực nước trung bình tháng 01/2014 tại Ái Nghĩa thấp hơn giá trị TBNN cùng kỳ là 37cm và tại Giao Thủy thấp hơn giá trị TBNN cùng kỳ là 87cm.

Theo nhận định của Trung tâm KTTV Quảng Nam, lượng mưa phổ biến từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2014 thấp hơn TBNN, lượng mưa này không có khả năng cải thiện lượng nước bổ sung phục vụ sản xuất; tình hình dòng chảy duy trì ở mức thấp và thấp hơn giá trị TBNN cùng kỳ, vùng hạ lưu các sông chịu ảnh hưởng mạnh của triều.

Do lượng mưa và dòng chảy ở mức thấp và có khả năng kéo dài trong vài tháng tới, nguy cơ thiếu nước, khô hạn là rất lớn, mặn có khả năng xâm nhập sâu vào hạ lưu sông Vu Gia, Thu Bồn và Bàn Thạch.

2. Dự báo tình hình nguồn nước, nhiễm mặn.

a) Đối với hồ chứa, đập dâng.

Quảng Nam hiện có 73 hồ chứa nước phục vụ cho khoảng 21.450ha/vụ, sau mùa lũ năm 2013 có lượng mưa tương đối lớn nên đa số các hồ chứa đều tích đầy nước, tuy nhiên, tình hình thời tiết từ tháng 12/2013 đến tháng 3/2014 rất bất lợi cho sản xuất nông nghiệp, lượng mưa phổ biến trên toàn tỉnh ở mức thấp hơn TBNN, do vậy phải thường xuyên mở nước phục vụ sản xuất nên đã làm suy giảm nhanh mực nước tại các hồ chứa; đến nay đa số các hồ chứa đều có mực nước thấp hơn mực nước cùng kỳ năm 2012; trong đó, có 04 hồ chứa mực nước thấp hơn năm 2012 từ 1,3 mét đến 1,5 mét (Phú Ninh, Đông Tiễn, Thạch Bàn, Khe Tân)

Qua tính toán, đánh giá nguồn nước, các hồ chứa nước đảm bảo nước tưới cho vụ Đông Xuân, cấp nước gieo sạ vụ Hè Thu và dự báo sẽ có nhiều hồ thiếu nước trong vụ Hè Thu nếu không có mưa tiểu mãn và mưa bổ sung trong tháng 7, tháng 8.

Ngoài ra, hầu hết các đập dâng ở khu vực miền núi, sẽ có nguy cơ cao bị suy giảm mạnh dòng chảy cơ bản, không đảm bảo nguồn nước tưới vào thời gian tháng 7, 8 năm 2014.

b) Đối với dòng chảy trên sông.

Dòng chảy trên các sông suối, nhất là hệ thống sông Vu Gia-Thu Bồn từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2014 ở mức thấp và thấp hơn giá trị TBNN cùng kỳ.

- Trên sông Vu Gia, mực nước tại trạm Thủy văn Ái Nghĩa dao động trung bình ở mức 2,53 ÷ 3.04 mét, thấp hơn từ 0,4 đến 0,7 mét với TBNN.

- Trên sông Thu Bồn, mực nước tại trạm thủy văn Giao Thủy dao động ở mức 1,0÷1,29 mét; thấp hơn từ 0,3 đến 0,5 mét so với TBNN.

Bên cạnh đó, hiện tượng bồi lấp trên sông Vu Gia, Thu Bồn và Vĩnh Điện gây ách tắc dòng chảy nên một phần gây ảnh hưởng đến nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp.

c) Tình hình nhiễm mặn:

Do ảnh hưởng của thời tiết trong những năm gần đây, tình hình nhiễm mặn trên sông Thu Bồn, Vĩnh Điện, Thanh Quýt, Bàn Thạch... diễn ra sớm, nồng độ cao và xâm nhập khá sâu vào nội địa, gây ảnh hưởng nghiêm trọng về nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt khu vực hạ du sông Vu Gia-Thu Bồn. Trong năm 2014, mặn xuất hiện từ đầu tháng 01, liên tiếp các tháng sau đó tình hình nhiễm mặn ngày càng tăng (ngày 03/3/2014 tại Tứ Câu nồng độ mặn đạt 6,2‰) đã gây ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt phục vụ sản xuất nông nghiệp.

II. DỰ BÁO TÌNH HÌNH KHÔ HẠN NĂM 2014

1. Kế hoạch sản xuất nông nghiệp năm 2014

- Tổng diện tích gieo trồng cây trong năm : 158.000 ha, trong đó:

+ Diện tích gieo trồng lúa : 86.500 ha.

+ Diện tích cây màu, cây công nghiệp : 71.500 ha.

- Diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt : 5.000 ha,.

- Diện tích gieo trồng được tưới chủ động bằng công trình thủy lợi:

+ Lúa cả năm : 73.314 ha.

+ Rau, màu : 4.343 ha.

+ Nuôi trồng thủy sản : 180 ha.

2. Dự báo diện tích sản xuất nông nghiệp bị khô hạn.

- Đối với vụ Đông Xuân: Các địa phương và Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Quảng Nam đã kịp thời triển khai các giải pháp chống hạn ngay trong tháng 3 nên đã hạn chế đáng kể diện tích thiếu nước. Hiện nay, ngoài diện tích khô hạn của lúa nước trời, chỉ có khoảng 430ha đất sản xuất của các huyện trung du, miền núi có khả năng xảy ra hạn vào cuối vụ Đông Xuân (Quế Sơn: 30ha; Tiên Phước: 115ha; Phước Sơn: 15ha; Tây Giang: 33ha; Nam Trà My: 55ha; Bắc Trà My: 96ha; Đông Giang: 42ha; Hiệp Đức: 45ha).

- Đối với vụ Hè Thu: Theo số liệu báo cáo của các địa phương và Công ty TNHH một thành viên Khai thác thủy lợi Quảng Nam, dự báo diện tích sản xuất nông nghiệp có khả năng xảy ra khô hạn khoảng gần 11.000ha; Trong đó:

+ Lúa chủ động nước : 10.600ha;

+ Màu : 400ha.

Phần thứ hai

CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG HẠN, NHIỄM MẶN

Nhằm giải quyết tình hình khô hạn và nhiễm mặn diễn ra trong năm 2014, các địa phương và Công ty TNHH một thành viên Khai thác thủy lợi Quảng Nam tập trung thực hiện các biện pháp sau:

I. CÁC BIỆN PHÁP PHI CÔNG TRÌNH

- UBND các cấp xây dựng phương án chống hạn cụ thể trên địa bàn; củng cố kiện toàn Ban Chỉ đạo phòng, chống hạn năm 2014 để theo dõi, chỉ đạo thực hiện kịp thời các biện pháp chống hạn có hiệu quả.

- Tăng cường theo dõi diễn biến thời tiết trên các phương tiện thông tin đại chúng và dự báo của cơ quan Khí tượng thuỷ văn để kịp thời triển khai các giải pháp chống hạn, chống nhiễm mặn thích hợp, giảm thiểu thiệt hại cho sản xuất do hạn hán gây ra.

- Các đơn vị quản lý công trình thủy lợi tính toán, cân đối lượng nước hiện có của công trình để bố trí diện tích sản xuất cho phù hợp, cắt giảm diện tích sản xuất ở những nơi có nguồn nước tưới được dự báo sẽ bị cạn kiệt sớm.

- Những nơi quá khó khăn nguồn nước, các địa phương hướng dẫn nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sử dụng các giống lúa chịu hạn và chịu mặn cao nhằm hạn chế thiệt hại cho sản xuất. Tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện chế độ tưới nước tiết kiệm theo phương pháp "ướt khô xen kẽ", tưới luân phiên, nhất là các hồ chứa nước có nguồn nước đang bị thiếu hụt.

- Vận động nhân dân ra quân nạo vét kênh mương nội đồng, đắp bờ vùng bờ thửa; thực hiện các biện pháp chống hạn truyền thống, tận dụng tối đa lượng nước tiêu từ các công trình thủy lợi và nguồn nước của ao hồ, sông suối để chống hạn.

- Củng cố, kiện toàn các tổ thủy nông cơ sở, tăng cường công tác quản lý, điều hành, phân phối nước thông qua hoạt động của các tổ chức thuỷ nông cơ sở và các tổ chức sử dụng nước ở địa phương.

- Đối với những trạm bơm có nguồn nước bị nhiễm mặn, tăng cường theo dõi chặt chẽ lịch thủy triều, quan trắc thường xuyên độ mặn để bơm lách triều, tuyệt đối không được vận hành bơm nước có nồng độ mặn lớn hơn 0,8‰ vào đồng ruộng.

- Phối hợp với các Nhà máy thủy điện trên thượng nguồn xây dựng và thực hiện quy chế xả nước phát điện hợp lý, bổ sung dòng chảy trên hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn để đẩy mặn và đảm bảo nguồn nước cho các trạm bơm điện hoạt động, phục vụ cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân ở vùng hạ du.

II. CÁC GIẢI PHÁP CÔNG TRÌNH

1. Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Quảng Nam

a) Đối với khu vực hồ chứa:

- Khu tưới hồ chứa nước Phú Ninh: Sửa chữa, vận hành trạm bơm chống hạn An Lạc 2 với 02 máy bơm điện 33Kw, trạm bơm chống hạn Quế Phú với 02 máy bơm điện 33Kw chống hạn cho khu tưới cuối kênh N22-1 Bắc Phú Ninh;

- Khu tưới hồ Đông Tiển: Làm bờ ngăn, lắp đặt, vận hành trạm bơm chống hạn cuối kênh N1- kênh chính Đông với 01 bơm điện 22Kw và 01 bơm điện 7,5 Kw;

- Khu tưới hồ Phước Hà: Lắp đặt, vận hành 06 máy bơm dầu D20 cuối kênh chính;

- Khu tưới hồ Thái Xuân: Cấp nước từ kênh N2 Nam Phú Ninh tưới hỗ trợ một phần diện tích cuối kênh N1 hồ Thái Xuân;

- Khu tưới hồ Hố Giang: Sửa chữa, lắp đặt, vận hành 04 máy bơm dầu D20 chống hạn cuối kênh N1, xã Quế Châu, huyện Quế Sơn;

- Khu tưới hồ Thạch Bàn:

Sửa chữa, lắp đặt và vận hành:

+ 02 máy bơm điện 33Kw bơm chống hạn cuối kênh N4;

+ 01 máy bơm điện 22KW bơm chống hạn tại bậc nước kênh N4;

+ 02 máy bơm điện 33KW bơm nước lòng hồ Thạch Bàn từ cuối tháng 7/2014;

- Dự phòng thực hiện các biện pháp công trình bổ sung: Sửa chữa, lắp đặt, vận hành các máy bơm dầu, bơm điện bơm nước dưới mực nước chết của các hồ chứa.

b) Đối với khu vực trạm bơm:

- Vận hành tăng cường các trạm bơm điện cố định để chống hạn.

- Nạo vét bồi lấp kênh dẫn và bể hút trạm bơm Ái Nghĩa, Cẩm Văn, Đông Quang, La Thọ, Thái Sơn, Vĩnh Điện, Tứ Câu, Cẩm Sa và Xuyên Đông với tổng khối lượng nạo vét khoảng 17.000 m3;

- Lập phương án kỹ thuật nạo vét tại các vị trí:

+ Nạo vét bồi lấp sông Vu Gia đoạn từ sông Quảng Huế đến trạm bơm Ái Nghĩa, với khối lượng khoảng 65.000 m3 theo phương thức tận thu cát, sỏi để bù chi phí;

+ Nạo vét bồi lấp sông Vu Gia khu vực ngã ba sông Lạc Thành, với khối lượng khoảng 8.500 m3;

+ Nạo vét bồi lấp sông Thu Bồn tại ngã ba sông Vĩnh Điện (vòm Cẩm Đồng) với khối lượng khoảng 2.000 m3'

- Sửa chữa, lắp đặt, vận hành các trạm bơm điện dã chiến tại các vị trí: Cống Lở (01 máy 7,5Kw), Hồ Sen (01 máy 15Kw), Bàu Cung (02 máy 22Kw), Bãi Bồi (01 máy 15Kw);

- Sửa chữa, lắp đặt, vận hành các trạm bơm dầu dã chiến tại: Ao Trời (01 máy D20), Bàu Dừa (01 máy D20), cuối kênh trạm bơm Tứ Câu (04 máy D20);

- Đắp đập tạm kết hợp cống ngăn mặn, lấy ngọt tại cầu Gò Nổi (hoặc tại sông Bến Giá) và đào vét sông, kênh dẫn nước, với khối lượng khoảng 5.000 m3.

- Dự phòng thực hiện các biện pháp bổ sung: Sửa chữa, lắp đặt, vận hành 10 máy bơm dầu D20 bơm nước sông, lạch, ao, đầm chống hạn.

2. Các địa phương.

a) Thành phố Tam Kỳ:

- Đối với khu vực sử dụng nước ngầm, nước nhỉ tại các địa phương Tam Thăng, Tam Phú, An Phú chủ động ra quân nạo vét, khai thông mương lạch dẫn nước, đắp đập bổi giữ nước hồi quy và nước triều để bơm tát.

- Tổ chức lắp đặt và vận hành các trạm bơm điện, bơm dầu dã chiến tận dụng nguồn nước từ các sông, suối, ao, hồ để bơm chống hạn;

- Nạo vét bể hút, kênh dẫn các trạm bơm và kênh tưới;

- Ở những nơi vùng cát có nguồn nước ngầm, thực hiện khoan giếng lấy nước ngầm, đào ao lấy nước nhỉ để phuc vụ chống hạn.

- Biện pháp chống nhiễm mặn: Đối với các khu tưới sử dụng nguồn nước từ sông Bàn Thạch, chủ động quan trắc độ mặn để thực hiện bơm lách triều. Nếu nồng độ mặn vượt quá nồng độ cho phép thì dừng bơm và chuyển sang tận dụng nguồn nước khác để tưới.

- Thực hiện đắp đập tạm ngăn mặn tại cửa vào sông Đầm để ngăn chặn nước mặn xâm nhập vào Sông Đầm, đảm bảo nguồn nước ngọt phục vụ cho hơn 550 ha lúa Hè Thu của xã Tam Thăng và Tam Phú, hoàn thành trước ngày 15/4/2014.

b) Thành phố Hội An:

- Dọn vệ sinh và vớt bèo tại hồ chứa Lai Nghi để tăng khả năng cấp và tải nước;

- Nạo vét tiêu Đồng Hồ (3Km) để tăng khả năng cấp nước và tận dụng nước hồi qui cho 2 trạm bơm Cẩm Thanh và Cẩm Châu;

- Dọn vệ sinh hồ chứa Cẩm Kim để tăng khả năng chứa nước phục vụ sản xuất;

- Xây dựng các dàn cửa đóng mở điều tiết tại phường Thanh Hà, Cẩm Hà để đảm bảo tưới được cho các cánh đồng cao vào mùa khô hạn;

- Sửa chữa các cống điều tiết, ngăn mặn trên hệ thống đê ngăn mặn để chống xâm nhập mặn;

- Xử lý đường ống Cẩm Thanh bị rò rỉ nước;

- Nạo vét các ao trữ nước và đắp đập bổi ngăn mặn của xã Cẩm Kim;

- Nạo vét hệ thống kênh mương tiêu để tận dụng khả năng trữ nước;

c) Huyện Núi Thành:

- Lắp đặt, vận hành các trạm bơm dã chiến chống hạn;

- Tu sửa các công trình thủy lợi bị hư hỏng, rò rỉ nước;

- Tu bổ và đắp các đập thời vụ.

d) Huyện Phú Ninh:

- Sửa chữa công trình, nạo vét kênh mương, khai thông mương lạch, đào ao, bơm nước;

- Sửa chữa, củng cố các đập dâng, đập bổi và trạm bơm nhỏ;

- Lắp đặt các trạm bơm dã chiến ở khu vực cuối kênh Phú Ninh và tại cống áp lực các hồ chứa để tận dụng dung tích chết chống hạn;

- Đắp bờ bao và các cửa điều tiết để tận dụng lượng nước hồi quy và trữ nước khi có mưa giông.

e) Huyện Thăng Bình:

- Tập trung đắp các đập bổi để giữ nước;

- Nạo vét kênh mương, sửa chữa các đê và para ngăn mặn;

- Lắp đặt các trạm bơm dầu dã chiến tại các khu tưới của xã: Bình An, Bình Trung, Bình Tú, Bình Phục, Bình Đào, Bình Giang, Bình Định Bắc, Bình Định Nam, Bình Phú, Bình Lãnh và Bình Trị để tận dụng ngồn nước từ các suối, mương tiêu tưới hỗ trợ chống hạn;

- Đối với khu tưới sử dụng nước nhỉ vùng cát, thực hiện đóng giếng lấy nước ngầm, vét ao để tận dụng tối đa nguồn nước ngầm phục vụ sản xuất.

f) Huyện Quế Sơn:

- Đắp đập tạm và đào kênh dẫn dòng bổ sung nguồn nước cho hồ Suối Tiên;

- Nạo vét kênh dẫn, bể hút các trạm bơm: Cống Ba, Xuân Phú, Cửa Chùa (Quế Xuân 1); Thượng Vĩnh (Quế Xuân 2); Thôn 3, 4 (Quế Phú); Thôn 1, 2 (Quế Thuận); Sông Vực (Phú Thọ); Thôn 2B, 4, đồng Cây Dúi (Quế Châu); Cầu Liêu (Quế An);

- Sửa chữa, củng cố các đập dâng, đập thời vụ để giữ nước chống hạn;

- Lắp đặt các trạm bơm dã chiến chống hạn tại các khu tưới để tận dụng nguồn nước từ các suối, mương tiêu tưới hỗ trợ chống hạn;

- Huy động nhân dân ra quân nạo vét kênh mương nhằm tăng khả năng dẫn nước.

g) Huyện Duy Xuyên:

- Xã Duy Thu: Thực hiện lắp đặt 02 máy bơm dã chiến tại Khe Cát, Đá Núp để bơm nước từ sông Thu Bồn chống hạn; lắp đặt máy bơm dã chiến để bơm lượng nước chết trong hồ Hóc Kết;

- Xã Duy Tân: Thực hiện lắp đặt các máy bơm dã chiến tại Thôn Thu Bồn, Bậc Nước, Kiệt Dày, Cầu Ván và bổ sung thêm máy bơm tại trạm bơm Vinh Cường để tận dụng nước hồi quy và nước sông Thu Bồn chống hạn;

- Xã Duy Hòa: Thực hiện lắp đặt các máy bơm dã chiến để tận dụng nước tại kênh tiêu để hỗ trợ tưới;

- Xã Duy Châu: Thực hiện đắp đập tạm (đập Lão Thành) để giữ nước tiêu ngay sau vụ Đông Xuân; lắp đặt các máy bơm dã chiến để bơm chống hạn.

- Xã Duy Phú: Lắp đặt máy bơm dã chiến để bơm lượng nước chết trong hồ Hóc Bầu;

- Xã Duy Sơn: Thực hiện lắp đặt 02 máy bơm tạm thời tại Ba Truông thôn Chiêm Sơn và xây dựng đoạn kênh dài 300m để tưới bổ sung cho diện tích lúa tại cánh đồng: Đồng thị, Hóc khóm, Hóc Dung thôn Chiêm Sơn, xã Duy Sơn; đồng thời thực hiện duy tu,bão dưỡng các máy bơm để lắp đặt bơm lưu động khai thác các nguồn nước tại các khe, suối để chống hạn;

- Xã Duy Trung: Thực hiện nạo vét kênh mương; lắp đặt máy bơm chống hạn tại: Đồng Mít, Đồng Mía, Cống Sung, đập Thổ, Cồn Sen, đập Làng, cây sơn, Cấn Cần; đồng thời xây dựng kế hoạch sử dụng dung tích chết tại 02 hồ chứa Khe Cát và Cây Sơn khi cần thiết;

- Xã Duy Phước: Lắp đặt máy bơm chống hạn tại khu tưới cuối kênh trạm bơm Xuyên Đông; nạo vét kênh dẫn và bể hút trạm bơm Cầu Thấn để bơm hỗ trợ nguồn nước cho kênh chính trạm bơm 19/5; đắp đập tạm giữ ngọt tại Bến Ngọt dài 30m.

- Vùng cát Duy Nghĩa, Duy Hải: Do nắng hạn xảy ra sớm nên sẽ ảnh hưởng đến các loại cây hoa màu vụ Xuân Hè và Hè Thu tại 02 xã Duy Nghĩa và Duy Hải, vận động nhân dân khai thác các công trình thủy lợi đất màu bằng các hệ thống giếng khoan để tưới chống hạn cho cây trồng.

- Lập phương án kỹ thuật nạo vét tại các vị trí:

+ Nạo vét kênh dẫn và bể hút trạm bơm Cù Bàn theo phương thức tận thu cát, sỏi để bù chi phí;

+ Nạo vét bùn cát bồi lấp tại Bàu Văn nhằm khơi thông dòng chảy lấy nước tạo nguồn từ trạm bơm Xuyên Đông hỗ trợ cho trạm bơm Cầu Thấn phục vụ chống hạn cho khu tưới của trạm bơm 19/5.

- Vận hành tăng cường các trạm bơm điện để chống hạn.

h) Huyện Điện Bàn:

- Lập phương án kỹ thuật các hạng mục công trình:

+ Nạo vét kênh dẫn và bể hút các trạm bơm: Bến Hục, Nam Hà 1 và Đông Lãnh theo phương thức tận thu cát, sỏi để bù chi phí;

+ Đắp đập tạm ngăn mặn trên sông Vĩnh Điện;

- Nạo vét bồi lấp kênh dẫn và bể hút các trạm bơm: Tư Phú, Triêm Nam, tổ 7, Bình Trị Thượng, Bình Trị Hạ, Đông Hồ 2, sông Hẹp, Ao Quỳnh, Điện Bình, Bằng An, Hà Bản, thôn 10, thôn 9A và Rộc Chùa;

- Sửa chữa, nâng cấp kênh nội đồng (kênh Gia Thân, kênh Học Trường) và kênh N1 trạm bơm Tứ Câu;

- Lắp đặt, vận hành máy bơm dầu lấy nước tại Bàu Dốc Khả để chống hạn cho cuối kênh trạm bơm Đại An.

i) Huyện Đại Lộc.

- Xã Đại Lãnh: Thực hiện nạo vét kênh dẫn và bể hút các trạm bơm điện đồng thời đắp chặn dòng bằng bao tải cát trên sông Côn lấy nước vào bể hút các trạm bơm;

- Xã Đại Hưng: Thực hiện nạo vét kênh dẫn và bể hút các trạm bơm điện đồng thời đắp chặn dòng bằng bao tải cát trên sông Côn lấy nước vào bể hút các trạm bơm; đắp đất gia cố đập chính hồ Chấn Sơn, nạo vét mở rộng lòng khe Gành, khe Cái;

- Xã Đại Đồng: Thực hiện chặn dòng khe Cái (nguồn nước chảy qua Bàu Quyền – Đại Lãnh) để đưa nước về hồ Cửu Kiến; vận hành 02 trạm bơm điện Lam Phụng 1 và Cầu Phao (Hà Nha) để bổ sung nguồn nước cho trạm bơm Máy Trắng và Bàu Gà bơm tưới hỗ trợ cho khu tưới đập An Thịnh; nạo vét kênh dẫn và bể hút các trạm bơm điện; lắp đặt máy bơm dầu để bơm tận dụng nước từ các ao, hồ nhỏ và sử dụng dung tích chết của hồ Cửu Kiến;

- Xã Đại Quang: Thực hiện nạo vét kênh dẫn và bể hút các trạm bơm điện; nạo vét lạch Cầu Chìm để dẫn nước tạo nguồn cho 03 trạm bơm Trường Đảng, Tam Hòa và Ao Làng. Trường hợp mực nước sông xuống thấp phải có kế hoạch đắp đê ngăn lạch Cầu Chìm và lắp đặt máy bơm dã chiến để nước vào lạch tạo nguồn cho các trạm bơm hoạt động;

- Xã Đại Hiệp: Khu vực Trà Cân 80 ha khi xảy ra hạn không đủ nguồn nước cần có kế hoạch sử dụng trạm bơm Bàu Vàng để hỗ trợ cho diện tích khu vực Trà Cân không có khả năng tưới đồng thời lắp đặt trạm bơm dầu dã chiến tận dụng dung tích chết trong hồ để tưới; nạo vét kênh dẫn và bể hút các trạm bơm Phú Đông, Bàu Vàng, Đông Phú, An Mỹ;

- Xã Đại Hòa: Nạo vét bể hút trạm bơm Bàu Thạch Bộ đồng thời có kế hoạch sử dụng nguồn nước từ trạm bơm Ái Nghĩa để tạo nguồn nước bổ sung và dự phòng một máy bơm điện khu Bàu Xứng (Bộ Nam) để tưới chống hạn;

- Xã Đại Tân: Nạo vét kênh mương thông thoáng nhằm đưa nước về đồng ruộng nhanh nhất và hạ chế tổn thất nước;

- Xã Đại Nghĩa: Thực hiện nạo vét kênh dẫn và bể hút các trạm bơm điện. Trường hợp Bàu Ông bị khô phải có kế hoạch lắp đặt thêm máy bơm tại trạm bơm Đại Phú hoặc Phước Nghĩa để bơm dợi nguồn nước từ sông Vu Gia cấp cho Bàu Ông tạo nguồn nước cho các trạm bơm này hoạt động;

- Thị trấn Ái Nghĩa: Thực hiện nạo vét kênh mương, bể hút các trạm bơm điện Hòa Đông, Khu 5, Nghĩa Phước, bơm lấy nước từ Khe Bàu Lá và Bàu Phốc để tưới; đào ao thu nước và lắp đặt trạm bơm dã chiến để tưới hỗ trợ đồng Hòa An, Tây An;

- Xã Đại An: Thực hiện lắp đặt máy bơm dầu lấy nước từ sông Thu Bồn và Vu Gia để tưới cho diện tích màu thường xuyên bị khô hạn tại các thôn Quảng Yên, Hóa Phú, Quảng Huế, Nghĩa Nam, Ái Mỹ, Đông Tây và Phước Yên;

- Xã Đại Sơn: Thực hiện nạo vét kênh mương và bể hút và có kế hoạch chặn dòng sông Vu Gia, Khe Hoa để có đủ nguồn nước cho các trạm bơm Đồng Hoa, Đồng Đụn, Đồng Cây hoạt động;

- Xã Đại Thạnh: Lắp đặt trạm bơm dã chiến để tận dụng nguồn nước từ các ao, hồ nhỏ để tưới hỗ trợ;

- Xã Đại Thắng: Nạo vét kênh mương thông thoáng, lắp đặt điều tiết trên kênh tiêu để tận dụng nguồn nước hồi quy tưới cho đồng Ồ Gà;

- Xã Đại Minh: Thực hiện nạo vét kênh mương thuộc hệ thống thủy lợi hồ Khe Tân, lắp đặt trạm bơm dã chiến bơm nước từ kênh tiêu để tưới hỗ trợ; khoan giếng, bơm dầu tưới cho diện tích màu bị khô hạn;

- Xã Đại Chánh: Thực hiện nạo vét kênh mương thuộc hệ thống thủy lợi hồ Khe Tân; nạo vét kênh dẫn và bể hút trạm bơm Gò Lõi;

- Xã Đại Cường: Thực hiện nạo vét kênh mương thuộc hệ thống thủy lợi hồ Khe Tân; lắp đặt máy bơm dã chiến để lấy nước từ Bàu Đơn, kênh tiêu T1 để tưới hỗ trợ;

- Xã Đại Phong: Thực hiện nạo vét kênh dẫn, bể hút trạm bơm Thuận Mỹ đồng thời nạo vét kênh tiêu để thu nước về Bàu Sấu cho trạm bơm Thuận Mỹ hoạt động; đắp đập tạm trên kênh tiêu Phong Minh Thắng để tận dụng lượng nước tiêu bơm tưới cho phần diện tích hai bên kênh tiêu;

- Xã Đại Hồng: Thực hiện nạo vét kênh dẫn và bể hút các trạm bơm điện.

j) Huyện Tiên Phước.

- Đối với các hồ chứa thực hiện tưới tiết kiệm nước không gây lãng phí trong quá trình điều tiết nước tưới, nạo vét kênh mương để tiết kiệm nước cho vụ Hè Thu 2014;

- Đối với các đập dâng tổ chức quản lý tốt nguồn nước, thực hiện các biện pháp chống rò rỉ, thất thoát nước, nạo vét kênh mương, gia cố các công trình dẫn nước bị hư hỏng;

- Đối với trạm bơm điện thực hiện duy tu bảo dưỡng máy bơm, hệ thống đường dây điện và dự phòng máy bơm, xăng dầu, phụ tùng thay thế phục vụ kịp thời khi cần thiết;

- Đối với các đập bổi huy động nhân dân gia cố, sửa chữa chống thất thoát nước;

Ngoài ra tổ chức lắp đặt, vận hành một số bơm điện, bơm dầu, bơm điện di động, khoan giếng lấy nước ngầm chống hạn ở những nơi có điều kiện nguồn nước.

k) Huyện Bắc Trà My.

Thực hiện gia cố các đập bổi, đập thời vụ; sử dụng rọ thép chặn các suối, khe và dùng ống nhựa PVC dẫn nước về chống hạn cho sản xuất.

l) Huyện Nam Trà My.

- Thực hiện nạo vét kênh mương, sửa chữa công trình đập dâng kiên cố hiện có trên địa bàn huyện.

- Sử dụng rọ thép và đá hộc sửa chữa các đập bổi thời vụ chặn các suối nhỏ, dùng ống nhựa dẫn nước từ các đập bổi phục vụ tưới cho sản xuất.

m) Huyện Hiệp Đức.

- Củng cố các đập bổi hiện có; đắp bổ sung đập tạm trên sông, suối và dùng ống nhựa chuyển nước chống hạn cho cây trồng và nước sinh hoạt cho nhân dân;

- Nạo vét kênh mương thông thoáng; tu bổ các đập dâng bị hư hỏng, thất thoát nước;

- Lắp đặt các trạm bơm dã chiến tận dụng nguồn nước từ các sông, suối, ao hồ nhỏ, tại cống áp lực các hồ chứa để bơm tưới chống hạn.

n) Huyện Phước Sơn.

- Thực hiện hỗ trợ ống nước, rọ thép để nhân dân tự sửa chữa, gia cố thay thế các đập tạm, ống nước đã bị hư hỏng;

- Xây dựng mới các đập thời vụ để tận dụng nguồn nước tại các khe, suối nhỏ;

- Sửa chữa các công trình thủy lợi bị hư hỏng xuống cấp, gia cố sửa chữa các dập dâng, cống lấy nước, kênh bê tông và đường ống dẫn nước.

o) Huyện Nông Sơn.

- Củng cố các đập hiện có, Xây dựng mới các đập thời vụ để tận dụng nguồn nước tại các khe, suối nhỏ, dùng ống nước chuyển nước chống hạn cho cây trồng và sinh hoạt;

- Nạo vét bể hút các trạm bơm; ; nạo vét kênh mương, khơi thông dòng chảy; khoan giếng tận dụng nguồn nước ngầm để chống hạn;

- Lắp đặt máy bơm dã chiến tại các sông, suối và tại các hồ chứa để sử dụng dung tích chết chống hạn.

p) Huyện Đông Giang.

- Thực hiện sửa chữa các đập dâng và các tuyến đường ống dẫn nước, kênh mương hiện có bị hư hỏng;

- Vận động nhân dân nạo vét kênh mương, tháo dở các vật cản, tu sửa bờ vùng, bờ thửa để giữ nước, giảm thất thoát, tiết kiệm nước.

q) Huyện Nam Giang.

- Đối với nước sinh hoạt: Sửa chữa các công trình cấp nước bị hư hỏng; nạo vét khơi thông làm sạch đầu nguồn; vận hành cấp nước hợp lý; vận chuyển nước đến các điểm tập thể (Trường mẫu giáo, trường nội trú...) nếu không tìm được nguồn nước;

- Đối với nước phục vụ sản xuất nông nghiệp: Vận động nhân dân nạo vét kênh mương, khơi thông dòng chảy, thực hiện các biện pháp chống thất thoát nước tại các công trình thuỷ lợi, củng cố đầu mối các đập dâng, đập bổi.

r) Huyện Tây Giang:

- Đối với nước sinh hoạt: Sửa chữa các công trình cấp nước bị hư hỏng; nạo vét khơi thông làm sạch đầu nguồn; vận hành cấp nước hợp lý; vận chuyển nước đến các điểm cấp nước;

- Đối với nước phục vụ sản xuất nông nghiệp: Vận động nhân dân nạo vét kênh mương, khơi thông dòng chảy, thực hiện các biện pháp chống thất thoát nước tại các công trình thuỷ lợi, củng cố đầu mối các đập dâng, đập bổi; sử dụng ống nước, dẫn nước từ khe, suối để chống hạn cho cây trồng.

III. KINH PHÍ CHỐNG HẠN

Từ những biện pháp nêu trên, kinh phí thực hiện các công trình chống hạn, và nhiễm mặn năm 2014 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam được tổng hợp như sau:

ĐVT: 1.000.000 đồng

TT

Nội dung

ĐVT

Khối lượng

Thành tiền

1

Nạo vét các đoạn sông bị ách tắt, bồi lấp để khơi thông dòng chảy

m3

70.000

3.500

2

Lắp đặt các trạm bơm điện, bơm dầu dã chiến chống hạn

trạm

240

2.400

3

Nhiên liệu (dầu diezel) chống hạn của các TB dã chiến

tấn

20

460

 

Điện năng bơm chống hạn các TB dã chiến

KW

300.000

480

5

Điện năng vượt định mức của các TB điện do bơm chống hạn

KW

800.000

1.280

6

Nạo vét kênh mương các cấp

m3

100.000

5.000

7

Sửa chữa, kiên cố các đập dâng, hồ chứa nước.

Công trình

25

6.250

8

Nạo vét bể hút các trạm bơm điện

m3

100.000

5.000

9

Đóng giếng khoan lấy nước ngầm

Cái

300

3.000

10

Xây dựng, củng cố các đập thời vụ ở khu vực miền núi

Công trình

100

5.000

11

Xây dựng các đập tạm ngăn mặn trên sông:

- Sông Vĩnh Điện (huyện Điện Bàn)

- Sông Đầm (Tp Tam Kỳ)

- Sông Thu Bồn (tại Xuyên Đông, huyện Duy Xuyên)

 


Công trình

Công trình

Công trình

 


01

01

01

2.450


1.500

350

600

12

Công tác kiểm tra, chỉ đạo chống hạn

 

 

100

 

Cộng

 

 

34.920

Tổng kinh phí thực hiện các công trình chống hạn năm 2014: 34.920.000.000 đồng

Bằng chữ: (Ba mươi tư tỷ, chín trăm hai mươi triệu đồng)

Phần thứ ba

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

I. PHÂN CẤP QUẢN LÝ

- Các địa phương, đơn vị xây dựng phương án phòng, chống hạn cụ thể, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Theo đó, UBND cấp huyện, thành phố phê duyệt phương án phòng chống hạn của huyện, thành phố và của các xã, phường, thị trấn; Sở Nông nghiệp và PTNT phê duyệt phương án chống hạn của Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Quảng Nam; trong quá trình triển khai thực hiện nếu có phát sinh thêm những biện pháp chống hạn cần thiết thì phải có ý kiến thống nhất bằng văn bản của cấp thẩm quyền phê duyệt phương án chống hạn.

- Tùy tình hình diễn biến thực tế của thời tiết, các địa phương, đơn vị chủ động triển khai các biện pháp công trình phòng, chống hạn thích hợp theo phương án được phê duyệt, với phương châm ”kịp thời, tiết kiệm, hiệu quả”, trong đó:

+ Đối với các hạng mục công trình chống hạn do Công ty TNHH một thành viên Khai thác thủy lợi thực hiện, giao Sở Nông nghiệp và PTNT theo dõi, chỉ đạo, kiểm tra cụ thể và có văn bản thống nhất thực hiện;

+ Đối với các hạng mục công trình chống hạn do địa phương thực hiện, giao Chủ tịch UBND cấp huyện, thành phố theo dõi, chỉ đạo, kiểm tra cụ thể và có văn bản thống nhất thực hiện;

+ Đối với việc nạo vét lòng hồ chứa, nạo vét bồi lấp sông, bể hút, kênh dẫn khơi thông dòng chảy có khối lượng lớn, ảnh hưởng đến ổn định công trình, sạt lở bờ sông và nhất là đối với các công trình có tận thu cát, sỏi làm vật liệu xây dựng thông thường, các địa phương, đơn vị phải lập Phương án kỹ thuật, báo cáo Sở Nông nghiệp và PTNT thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt trước khi thực hiện;

+ Đối với các công trình chống hạn có tác động đến nhiều địa phương và có liên quan đến khu tưới của Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi, giao cho Công ty tổ chức thực hiện.

- Trong trường hợp cần phải thực hiện khẩn cấp các công trình chống hạn nhằm hạn chế thiệt hại do nắng hạn và nhiễm mặn gây ra, các địa phương, đơn vị có liên quan báo cáo ngay cho cấp có thẩm quyền theo phân cấp để đi kiểm tra thực tế, thống nhất phương án trước khi triển khai thực hiện theo phương thức vừa thiết kế, vừa thi công, sau đó phải hoàn chỉnh các hồ sơ theo quy định tại Nghị định số 71/2005/NĐ-CP ngày 06/6/2005 của Chính phủ về quản lý đầu tư xây dựng công trình đặc thù.

II. CÁC QUY ĐỊNH VỀ HỒ SƠ THỰC HIỆN CÔNG TRÌNH CHỐNG HẠN

Nhằm bảo đảm sử dụng nguồn kinh phí chống hạn đúng mục đích, hiệu quả, các đơn vị chủ đầu tư phải thực hiện các quy định sau:

- Đối với công trình chống hạn có tính chất xây dựng cơ bản phải lập bản vẽ thiết kế, dự toán, hợp đồng, nghiệm thu, thanh lý hợp đồng theo quy định hiện hành.

- Đối với việc mua nhiên liệu, máy bơm và các vật tư, vật liệu phục vụ công tác chống hạn phải có hóa đơn, chứng từ hợp lệ.

- Nếu lắp đặt vận hành các trạm bơm dầu dã chiến chống hạn phải có nhật ký vận hành, chủng loại máy bơm, công suất, định mức nhiên liệu, ngày tháng và số giờ vận hành, nhiên liệu tiêu hao mỗi đợt bơm tưới, tổng nhiên liệu tiêu thụ cả đợt bơm chống hạn. Sổ vận hành phải được đơn vị thực hiện công trình chống hạn lập, có xác nhận của Phòng Nông nghiệp và PTNT địa phương.

- Đối với chi phí điện năng chống hạn của các trạm bơm điện dã chiến phải có hóa đơn hợp lệ của ngành điện.

- Đối với các trạm bơm điện cố định, nếu do lý do hạn hán phải tăng thời gian bơm và điện năng vượt định mức. Đơn vị quản lý công trình phải có định mức kinh tế kỹ thuật được cấp có thẩm quyền phê duyệt để làm căn cứ so sánh, cấp bù (trong trường hợp chưa có định mức, vận dụng định mức sử dụng điện của các trạm bơm điện lân cận do Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi trực tiếp quản lý, vận hành).

III. CÁC YÊU CẦU VỀ HỒ SƠ, TẠM ỨNG VÀ QUYẾT TOÁN CÔNG TRÌNH CHỐNG HẠN

1. Hồ sơ tạm ứng kinh phí chống hạn vụ Đông Xuân 2013-2014.

Hồ sơ tạm ứng kinh phí chống hạn vụ Đông Xuân 2013-2014 gởi Sở Tài chính và Sở Nông nghiệp và PTNT, bao gồm:

- Tờ trình đề nghị cấp tạm ứng kinh phí chống hạn vụ Đông Xuân 2013-2014;

- Phương án phòng, chống hạn và nhiễm mặn năm 2014, kèm theo Quyết định phê duyệt phương án của UBND huyện, thành phố và Công ty TNHH một thành viên Khai thác thủy lợi Quảng Nam;

- Báo cáo kết quả thực hiện công tác chống hạn vụ Đông Xuân 2013-2014, kèm theo bảng tổng hợp kinh phí các biện pháp chống hạn đã thực hiện.

2. Hồ sơ quyết toán chống hạn năm 2014.

- Ngay sau khi kết thúc vụ sản xuất Hè Thu 2014, các địa phương, đơn vị phải chủ động lập hồ sơ quyết toán chống hạn để báo cáo các cấp có thẩm quyền xem xét, hỗ trợ kinh phí.

- Các đơn vị không được quyết toán những phần việc mang tính chất sửa chữa lớn, sửa chữa thường xuyên công trình vào kinh phí chống hạn.

- Hồ sơ quyết toán công trình chống hạn phải bảo đảm tính trung thực, chính xác, có đầy đủ chứng từ, hóa đơn hợp lệ theo đúng quy định của Nhà nước và phải được kiểm tra, thẩm định địa phương, đơn vị.

- Hồ sơ quyết toán chống hạn gởi về Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và PTNT và các cơ quan có liên quan trước ngày 30/10/2014, bao gồm:

+ Tờ trình đề nghị phê duyệt quyết toán công trình chống hạn và nhiễm mặn năm 2014;

+ Báo cáo đánh giá công tác chống hạn và nhiễm mặn năm 2014;

+ Bản tổng hợp quyết toán kinh phí chống hạn và nhiễm mặn.

IV. PHÂN CÔNG TRÁCH NHIỆM

1. Sở Nông nghiệp và PTNT là cơ quan thường trực, thường xuyên theo dõi, giám sát, chỉ đạo các địa phương, đơn vị về công tác chống hạn năm 2014 trên địa bàn tỉnh; tổng hợp tình hình báo cáo UBND tỉnh chỉ đạo, giải quyết. Chủ trì làm việc với các Nhà máy thủy điện trên thượng nguồn có kế hoạch và thống nhất chế độ điều tiết xả nước phát điện hợp lý nhằm bổ sung dòng chảy kiệt trên hệ thống sông Vu Gia-Thu Bồn; phối hợp với Sở Tài chính kiểm tra hồ sơ chống hạn của các địa phương, đơn vị trình UBND tỉnh xem xét, quyết định cấp hỗ trợ kinh phí chống hạn.

2. Sở Tài chính chủ trì, phối hợp Sở Nông nghiệp và PTNT tham mưu UBND tỉnh về cấp tạm ứng kinh phí chống hạn cho các địa phương, đơn vị; đồng thời kiểm tra, thẩm định hồ sơ quyết toán kinh phí chống hạn của các địa phương, đơn vị, làm cơ sở trình UBND tỉnh xem xét hỗ trợ.

3. Chủ tịch UBND các huyện, thành phố tăng cường công tác theo dõi, chỉ đạo UBND các xã, HTX và các đơn vị quản lý công trình thủy lợi trên địa bàn triển khai thực hiện kịp thời, tiết kiệm, hiệu quả các biện pháp công trình phòng, chống hạn, chống nhiễm mặn phục vụ sản xuất nông nghiệp và nguồn nước sinh hoạt cho nhân dân; chỉ đạo các bộ phận có liên quan kiểm tra, thẩm định hồ sơ quyết toán chống hạn và nhiễm mặn năm 2014 trước khi báo cáo Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và PTNT và các đơn vị có liên quan./.

 

 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 1000/QĐ-UBND

Loại văn bảnQuyết định
Số hiệu1000/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành01/04/2014
Ngày hiệu lực01/04/2014
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcTài nguyên - Môi trường
Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
Cập nhật6 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 1000/QĐ-UBND

Lược đồ Quyết định 1000/QĐ-UBND phê duyệt Phương án phòng chống hạn nhiễm mặn 2014 Quảng Nam


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Quyết định 1000/QĐ-UBND phê duyệt Phương án phòng chống hạn nhiễm mặn 2014 Quảng Nam
                Loại văn bảnQuyết định
                Số hiệu1000/QĐ-UBND
                Cơ quan ban hànhTỉnh Quảng Nam
                Người kýNguyễn Ngọc Quang
                Ngày ban hành01/04/2014
                Ngày hiệu lực01/04/2014
                Ngày công báo...
                Số công báo
                Lĩnh vựcTài nguyên - Môi trường
                Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
                Cập nhật6 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản hướng dẫn

                    Văn bản được hợp nhất

                      Văn bản gốc Quyết định 1000/QĐ-UBND phê duyệt Phương án phòng chống hạn nhiễm mặn 2014 Quảng Nam

                      Lịch sử hiệu lực Quyết định 1000/QĐ-UBND phê duyệt Phương án phòng chống hạn nhiễm mặn 2014 Quảng Nam

                      • 01/04/2014

                        Văn bản được ban hành

                        Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                      • 01/04/2014

                        Văn bản có hiệu lực

                        Trạng thái: Có hiệu lực