Văn bản khác 07/BC-HĐNTNN

Báo cáo 07/BC-HĐNTNN về tình hình chất lượng và công tác quản lý chất lượng công trình do hội đồng nghiệm thu nhà nước công trình xây dựng tổ chức kiểm tra, nghiệm thu năm 2008 do Hội đồng nghiệm thu Nhà nước các công trình xây dựng ban hành

Nội dung toàn văn Báo cáo 07/BC-HĐNTNN tình hình chất lượng công tác quản lý chất lượng công


HỘI ĐỒNG NGHIỆM THU NHÀ NƯỚC CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------

Số: 07/BC-HĐNTNN

Hà Nội, ngày 09 tháng 02 năm 2009

 

BÁO CÁO

TÌNH HÌNH CHẤT LƯỢNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÁC CÔNG TRÌNH DO HỘI ĐỒNG NGHIỆM THU NHÀ NƯỚC CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TỔ CHỨC KIỂM TRA, NGHIỆM THU NĂM 2008

Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ

Thực hiện nhiệm vụ của Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 68/2006/QĐ-TTg ngày 22/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Hội đồng nghiệm thu nhà nước các công trình xây dựng (Hội đồng), Hội đồng kính báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình hình chất lượng và công tác quản lý chất lượng các công trình được Hội đồng tổ chức kiểm tra, nghiệm thu năm 2008 như sau:

I. HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG TRONG NĂM 2008

1. Số lượng công trình được giao cho Hội đồng tổ chức nghiệm thu, kiểm tra năm 2008

Theo nhiệm vụ của Thủ tướng giao tại Văn bản số 2414/VPVP-KTN ngày 16/04/2008 của Văn phòng Chính phủ, tổng số công trình được Hội đồng tổ chức nghiệm thu và kiểm tra năm 2008 là 62 công trình, trong đó có 12 công trình được Hội đồng nghiệm thu, 50 công trình được Hội đồng kiểm tra. Phân theo loại công trình, trong tổng số 62 công trình, có:

- Công trình thủy điện : 33

- Thủy lợi : 04

- Giao thông : 18

- Dầu khí : 03

- Công trình khác : 04

Trong số 62 công trình nêu trên có 9 công trình Hội đồng chưa tổ chức kiểm tra trong năm 2008 vì các công trình này chưa được triển khai thi công xây dựng hoặc khối lượng thi công xây dựng chưa được nhiều (như các công trình: Thủy điện sông Bung 2, Thủy điện sông Bung 4, Thủy điện Đăkdrink, Thủy điện Trung Sơn, Thủy điện Ngòi Phát, Cảng Cái Mép – Thị Vải, Đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai, Cầu Nhật Tân...). Số còn lại 53 công trình đã được Hội đồng tổ chức kiểm tra, kiểm soát chất lượng và tổ chức nghiệm thu theo quy định.

2. Hoạt động kiểm tra công trình

Trong năm 2008, Hội đồng đã tổ chức trên 120 đợt kiểm tra công trình. Để tổ chức kiểm tra công trình, Hội đồng đã ký hợp đồng và huy động trên 100 chuyên gia thuộc các chuyên ngành khác nhau giúp Hội đồng kiểm tra và kiểm soát chất lượng công trình.

Về cơ bản, nội dung kiểm tra tập trung vào chất lượng thi công xây dựng công trình, công tác quản lý chất lượng công trình của Chủ đầu tư và các Nhà thầu, hồ sơ nghiệm thu, các điều kiện đảm bảo an toàn cho công trình, bảo vệ môi trường; đồng thời Hội đồng cũng kịp thời hướng dẫn giúp Chủ đầu tư tuân thủ các quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng, tháo gỡ và giải quyết các vấn đề kỹ thuật phát sinh.

Trong quá trình kiểm tra, Hội đồng đã có đánh giá thường xuyên về tình hình chất lượng và có báo cáo kịp thời lên Thủ tướng Chính phủ về các vấn đề nổi cộm có liên quan.

3. Hoạt động nghiệm thu và chấp nhận kết quả nghiệm thu công trình:

Năm qua, Hội đồng đã tổ chức nghiệm thu hoặc chấp nhận kết quả nghiệm thu hoàn thành thi công xây dựng một số hạng mục công trình và công trình gồm:

a) Hội đồng trực tiếp nghiệm thu (đối với công trình được Hội đồng nghiệm thu):

- Nghiệm thu công trình đường Hồ Chí Minh giai đoạn 1 đoạn Thạch Quảng (Thanh Hóa) - Ngọc Hồi (Kon Tum);

- Nghiệm thu hoàn thành Tổ máy số 1 Nhà máy thủy điện Tuyên Quang;

- Nghiệm thu hoàn thành Đường ống dẫn khí PM3 - Cà Mau và Nhà máy điện Cà Mau 1 và 2 thuộc cụm công trình Khí - Điện - Đạm Cà Mau.

b) Hội đồng chấp nhận kết quả nghiệm thu (đối với công trình được Hội đồng kiểm tra):

- Kiểm tra, chấp nhận kết quả nghiệm thu của Hội đồng nghiệm thu cơ sở (HĐNTCS) đối với công trình Khôi phục, cải tạo Quốc lộ 1A đoạn Cần Thơ - Cà Mau;

- Kiểm tra, chấp nhận kết quả nghiệm thu của HĐNTCS đối với công trình cầu Rạch Miễu;

- Kiểm tra, chấp nhận kết quả nghiệm thu của HĐNTCS đối với hạng mục công trình đê chắn sóng (Gói thầu 5A) Nhà máy Lọc dầu Dung Quất.

Các công trình, hạng mục công trình đã được Hội đồng trực tiếp nghiệm thu hoặc kiểm tra, chấp nhận kết quả nghiệm thu đều đảm bảo chất lượng, đáp ứng được yêu cầu về quy mô, công suất, công năng sử dụng theo thiết kế, đảm bảo an toàn chịu lực, an toàn trong vận hành và đã phát huy được hiệu quả.

4. Đánh giá về kết quả hoạt động của Hội đồng

Năm qua, các hoạt động kiểm tra, nghiệm thu công trình của Hội đồng đã được tăng cường và mang lại hiệu quả thiết thực. Hoạt động của Hội đồng đã giúp kiểm soát chặt chẽ hơn chất lượng công trình; kịp thời hướng dẫn giúp các chủ thể tuân thủ các quy định về quản lý chất lượng; phối hợp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc; giải quyết các vấn đề kỹ thuật phát sinh. Những yêu cầu, kiến nghị xác đáng của Hội đồng đã được các Chủ đầu tư tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo chất lượng công trình, nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng.

Hội đồng cũng đã triển khai thực hiện kịp thời các nhiệm vụ đột xuất về đánh giá chất lượng công trình do Thủ tướng Chính phủ giao như việc xem xét kết quả rà soát toàn bộ các công đoạn triển khai công trình, bao gồm cả khâu thiết kế, giám sát và tổ chức thi công phần cầu chính thuộc Dự án xây dựng cầu Cần Thơ sau khi xảy ra sự cố sập hai nhịp cầu dẫn; đánh giá nguyên nhân và kết quả khắc phục sự cố vỡ đập chính sau mùa lũ năm 2007 tại công trình Hồ chứa nước Cửa Đạt; phân tích, xác định nguyên nhân sạt lở Mỏ đá D3 công trình Thủy điện Bản Vẽ; đánh giá chất lượng các hạng mục công trình tại Dự án Đại lộ Đông – Tây... Các đánh giá của Hội đồng về chất lượng công trình được báo cáo kịp thời lên Thủ tướng Chính phủ đã giúp cho công tác chỉ đạo của Chính phủ đối với các công trình trọng điểm được sát sao và hiệu quả.

II. ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH CHẤT LƯỢNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG

A. VỀ TÌNH HÌNH CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH

1. Tình hình chung

Chất lượng các công trình được Hội đồng kiểm tra, nghiệm thu trong năm 2008 về cơ bản là đảm bảo yêu cầu kỹ thuật. Tuy nhiên, qua công tác kiểm tra, Hội đồng cũng đã phát hiện được một số khiếm khuyết trong công tác quản lý chất lượng công trình và một số tồn tại về chất lượng công trình. Các tồn tại và khiếm khuyết này đã được Hội đồng chỉ ra kịp thời sau mỗi lần kiểm tra và yêu cầu Chủ đầu tư, các Nhà thầu khắc phục.

Sau đây Hội đồng xin được báo cáo chi tiết hơn về chất lượng của một số công trình trọng điểm cần được lưu ý:

2. Tình hình chất lượng tại một số công trình trọng điểm

2.1. Đại lộ Đông – Tây

Năm qua, Hội đồng đã tổ chức 10 đợt kiểm tra hiện trường thi công các hạng mục công trình. Ngoài các công việc, hạng mục công trình đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, Hội đồng cũng đã lưu ý Chủ đầu tư một số tồn tại sau:

a) Hầm Thủ Thiêm:

- Đoạn Hầm dẫn (gồm hầm dẫn kín và hầm dẫn hở chữ U): tồn tại chất lượng chủ yếu là hiện tượng lún quá mức cho phép của nền hầm hở chữ U phía Thủ Thiêm. Hội đồng đã yêu cầu Chủ đầu tư chỉ đạo Nhà thầu nghiên cứu biện pháp khắc phục. Hiện nay, Chủ đầu tư đang thuê tư vấn để thẩm tra phương án xử lý của Nhà thầu.

- Các đốt hầm dìm: tồn tại về chất lượng đáng quan ngại nhất là hiện tượng nứt rạn bê tông trên bề mặt và một số vết nứt xuyên các đốt hầm dìm. Sau khi sự cố xảy ra, Hội đồng đã tổ chức nhiều đợt kiểm tra công trình và đã có báo cáo ban đầu lên Thủ tướng Chính phủ về tình hình chất lượng toàn bộ Dự án vào tháng 10/2008.

Kể từ khi các vết nứt được phát hiện đến nay, một số vết nứt vẫn phát triển cả về chiều rộng và chiều dài nhưng mức độ không lớn. Hội đồng đã yêu cầu Chủ đầu tư và các nhà thầu tổ chức khảo sát, đánh giá, xác định nguyên nhân và giải quyết dứt điểm các tồn tại về chất lượng.

Hiện nay, Chủ đầu tư đã tiến hành lựa chọn Nhà thầu Tư vấn kiểm định độc lập Connell Wagner để giúp làm rõ nguyên nhân cũng như biện pháp khắc phục.

Để chủ động có biện pháp xử lý phù hợp, Hội đồng đã giao Tổ chuyên gia của Hội đồng và Viện Khoa học Công nghệ xây dựng (Viện KHCNXD) kiểm tra hiện trường, khảo sát, nghiên cứu tính toán, phân tích, đánh giá xác định nguyên nhân sự cố và đề xuất biện pháp khắc phục nhằm phục vụ công tác phản biện của Hội đồng đối với kết quả của Nhà thầu Tư vấn độc lập.

Sau khi có kết quả của Nhà thầu Tư vấn độc lập dự kiến trong tháng 02/2009, Hội đồng sẽ có đánh giá, báo cáo lên Thủ tướng Chính phủ.

b) Đường mới Thủ Thiêm:

Hội đồng đã lưu ý, nhắc nhở Chủ đầu tư phải kiểm tra các chỉ tiêu cơ lý của nền đường sau khi xử lý thoát nước bằng bấc thấm ngang. Chất lượng hạng mục công trình này vẫn đang tiếp tục được theo dõi, kiểm tra.

c) Các dầm Super T thuộc Gói thầu số 6 “Xây dựng đường phía Tây và mở rộng đường ven kênh”:

Tồn tại ở gói thầu này là các dầm Super T sau khi căng cáp dự ứng lực xuất hiện vết nứt đầu dầm. Hội đồng đã yêu cầu nhà thầu thi công tiến hành thử tải dầm Super T với số lượng theo quy định trong chỉ dẫn kỹ thuật và các tiêu chuẩn tương ứng. Hội đồng đang theo dõi kết quả thử tải này để có chỉ đạo tiếp theo.

2.2. Hồ chứa nước Cửa Đạt

Sau sự cố vỡ đập chính đang thi công mùa lũ năm 2007, Chủ đầu tư đã kiểm tra, đánh giá lại chất lượng của đập chính và tổ chức khắc phục sự cố. Theo đánh giá của Hội đồng, phần xử lý sự cố sau mùa lũ năm 2007 đạt yêu cầu kỹ thuật.

Phương án chống lũ năm 2008 đã được thiết lập và tổ chức thực hiện cơ bản đạt các mục tiêu đề ra, đã đảm bảo an toàn cho công trình trong mùa lũ năm 2008.

Hội đồng đã tổ chức 06 đợt kiểm tra hiện trường. Qua kiểm tra, đánh giá chung, chất lượng các hạng mục công trình như: công tác đắp đập chính, đổ bê tông bản mặt đợt I, đổ bê tông truyền thống (CVC) đập tràn, thi công nhà máy thuỷ điện, tuyến áp lực của nhà máy thuỷ điện, tuy nen TN2, công tác đắp các đập phụ cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu thiết kế.

Tuy nhiên, do các đơn vị tham gia thiết kế và thi công công trình chưa có nhiều kinh nghiệm nên Hội đồng cũng lưu ý Chủ đầu tư cần tiếp tục chỉ đạo các nhà thầu thường xuyên tăng cường kiểm soát chất lượng. Hiện nay, Chủ đầu tư đang thuê tư vấn Trung Quốc để kiểm tra, rà soát về thiết kế, thi công các hạng mục của công trình đầu mối Hồ chứa nước Cửa Đạt. Hội đồng đã yêu cầu Chủ đầu tư chỉ đạo Tư vấn thiết kế và Tư vấn giám sát làm rõ yêu cầu về nội dung rà soát và kiểm tra; đồng thời Chủ đầu tư cần xem xét năng lực các đơn vị tư vấn để lựa chọn đơn vị có đủ kinh nghiệm và điều kiện năng lực phù hợp để thực hiện công tác kiểm tra, rà soát đạt hiệu quả.

2.3. Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí mở rộng

Công tác xây lắp cơ bản đã hoàn thành. Hiện nay, Nhà thầu vẫn đang tiến hành chạy thử và hiệu chỉnh các thiết bị đáp ứng các thông số kỹ thuật theo yêu cầu. Hiện tại, máy biến áp bị hư hỏng do sự cố sét đánh vào đường dây 220 kV đã được sửa chữa khắc phục xong. Hội đồng đã tổ chức kiểm tra công tác khắc phục sự cố và công tác hiệu chỉnh thiết bị, chuẩn bị hoàn thành bàn giao Nhà máy đưa vào sử dụng.

Chất lượng các hạng mục công trình đã thi công xong cơ bản đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật và đã được nghiệm thu bàn giao cho đơn vị vận hành. Tồn tại về chất lượng lớn nhất hiện nay là việc điều chỉnh chế độ cháy của lò hơi để tránh đóng xỉ và giải quyết hệ thống thải xỉ để đáp ứng chu kỳ chạy lò thông thường. Về việc này, Tổng thầu đã đề xuất hướng giải quyết hợp lý và đã thực hiện phương án khắc phục là điều chỉnh chế độ đốt của lò hơi và tăng cường năng lực thải xỉ.

Tất cả các kết quả khắc phục sẽ được kiểm chứng bằng các thông số cụ thể sau khi đốt lò lại vào tháng 2/2009. Hội đồng sẽ tổ chức kiểm tra tổng thể công trình vào tháng 6/2009 trước khi nghiệm thu hoàn thành đưa vào sử dụng công trình.

2.4. Thủy điện Sơn La

Công tác thi công xây dựng các hạng mục công trình cơ bản bám sát được mục tiêu tiến độ chung của công trình. Công tác chống lũ năm 2008 đã được thực hiện đảm bảo theo sơ đồ chống lũ và tần suất, lưu lượng tính toán được duyệt. Chủ đầu tư đã thực hiện ngăn sông Đà đợt 2 vào ngày 23/12/2008, sớm hơn so với dự kiến (tháng 01/2009). Công tác thi công đập bằng công nghệ bê tông đầm lăn (RCC) đang tiến hành khẩn trương và đạt tiến độ yêu cầu.

Kết quả các đợt kiểm tra công trình trong năm của Hội đồng cho thấy chất lượng các hạng mục công trình cơ bản đạt yêu cầu thiết kế.

Tồn tại về chất lượng đáng quan tâm hiện nay là việc xuất hiện các vết nứt bê tông RCC tại các khối C2, C3, L1, C4, C5 Đập không tràn bờ trái và bê tông thường (CVC) tại khối 26 Đập không tràn bờ phải. Chủ đầu tư đã chỉ đạo các bên liên quan tổ chức khảo sát, đánh giá, xác định nguyên nhân gây nứt và đề xuất giải pháp khắc phục. Hội đồng đã tổ chức họp với Chủ đầu tư và các nhà thầu để trao đổi về đánh giá nguyên nhân và biện pháp xử lý. Tư vấn Colenco đã có báo cáo ban đầu về nguyên nhân gây rạn nứt ở đập RCC Sơn La nhưng Hội đồng cho rằng những nhận định của Tư vấn về nguyên nhân tình trạng nứt ở các khối đổ và ảnh hưởng của các vết nứt đến an toàn chịu lực của đập chưa mang tính thuyết phục. Để có đủ cơ sở kết luận cuối cùng về nguyên nhân gây nứt và đề xuất các biện pháp ngăn ngừa nứt cho các khối đổ tiếp theo cũng như biện pháp xử lý vết nứt, Hội đồng đã yêu cầu Chủ đầu tư chỉ đạo Tư vấn thiết kế tính toán kiểm tra dựa trên các số liệu khảo sát đầy đủ về các thông số môi trường (nhiệt độ không khí, độ ẩm tương đối, bức xạ nhiệt...), hồ sơ hoàn công các lớp đổ (thời gian thi công mỗi lớp, nhiệt độ vữa RCC...), khoan nõn tại đập, thí nghiệm về co ngót bê tông v.v... Ngoài ra, cũng cần phải tính toán kiểm tra độ ổn định và độ bền của đập trong điều kiện vẫn tồn tại các vết nứt.

Hiện nay, Tư vấn Colenco đang nghiên cứu và hoàn thiện báo cáo. Các chuyên gia của Hội đồng đang phối hợp với Chủ đầu tư và các bên để tạo được sự thống nhất về đánh giá nguyên nhân cũng như biện pháp khắc phục.

2.5. Thủy điện Tuyên Quang

Phần xây dựng công trình đã cơ bản hoàn thành trong năm 2008. Tổ máy số 1 đã đưa vào vận hành thử từ tháng 01/2008 và đã được Hội đồng tổ chức nghiệm thu tháng 5/2008. Tổ máy số 2 đã hoàn thành và được Hội đồng nghiệm thu cơ sở nghiệm thu và đưa vào vận hành tháng 05/2008. Đến nay 02 tổ máy này đã sản xuất gần 1 tỷ Kwh. Ngày 08/12/2008 đã khởi động không tải Tổ máy số 3, vận hành thử nghiệm và phát điện lên lưới trong thời gian từ ngày 15/12 đến ngày 20/12/2008.

Qua các đợt kiểm tra công trình của Hội đồng cho thấy chất lượng thi công xây dựng các hạng mục công trình như đập bê tông bản mặt, đập bê tông trọng lực, đập phụ…; chất lượng công tác lắp đặt các thiết bị cơ khí thủy công tại đập tràn, cửa nhận nước và tổ hợp thiết bị công nghệ thuộc các tổ máy về cơ bản đạt yêu cầu thiết kế. Trạng thái làm việc của các hạng mục công trình an toàn và ổn định sau khi hồ chứa nước đã dâng nước tới mức nước dâng bình thường 120m.

Tồn tại chủ yếu về chất lượng là hiện tượng thấm khu vực Tổ máy số 1 do rò rỉ nước từ đường ống áp lực vào gian máy. Hiện đang ngừng Tổ máy số 1 để xử lý rò rỉ trong đường ống áp lực. Ngoài ra, các tồn tại liên quan đến một số thiết bị quan trắc bị hư hỏng hoặc cho số liệu đo chưa đủ độ tin cậy cũng được Hội đồng yêu cầu Chủ đầu tư tổ chức xử lý dứt điểm để đảm bảo việc theo dõi lâu dài trạng thái làm việc của công trình.

2.6. Đường Hồ Chí Minh:

Công trình Đường Hồ Chí Minh giai đoạn 1 đoạn Hòa Lạc (Hà Nội) đến Tân Cảnh (Kon Tum) với tổng chiều dài 1350 km đường, 300 cầu lớn các loại, 02 hầm đã hoàn thành và đưa vào sử dụng; trong đó đoạn Thạch Quảng (Thanh Hóa) đến Ngọc Hồi (Kon Tum) chiều dài 1212 km đã được Hội đồng tổ chức nghiệm thu vào tháng 3/2008. Chất lượng công trình cơ bản đạt yêu cầu thiết kế.

Hiện nay, Chủ đầu tư vẫn đang thực hiện các phần việc chưa hoàn thành của giai đoạn 1. Các công việc chuẩn bị đầu tư cho giai đoạn 2 từ năm 2007-2010 đang được triển khai; trong đó một số dự án thành phần đang được triển khai thi công. Dự kiến đến năm 2010 sẽ thông tuyến từ Cao Bằng đến Cà Mau. Hội đồng đã lưu ý Chủ đầu tư và các nhà thầu cần nghiêm túc rút kinh nghiệm từ giai đoạn 1, đặc biệt là về chất lượng thiết kế để tránh lặp lại những thiếu sót, bất hợp lý có thể ảnh hưởng đến chất lượng công trình, nhất là các yếu tố gây nguy cơ sạt trượt trên tuyến đường.

2.7. Nhà máy Lọc dầu số 1 Dung Quất

Gói thầu 5A (Đê chắn sóng), Gói thầu 5B (Cảng xuất sản phẩm) và Gói thầu 7 (Nhà hành chính) đã hoàn thành, Chủ đầu tư đang hoàn thiện hồ sơ và tổ chức nghiệm thu. Hội đồng đã kiểm tra và chấp nhận kết quả nghiệm thu của Hội đồng Nghiệm thu cơ sở đối với Gói thầu 5A. Các Gói thầu 1, 2, 3, 4 (Các phân xưởng công nghệ, phụ trợ, đường ống, khu bể chứa dầu thô phân xưởng công nghệ) đang trong giai đoạn vận hành thử để nghiệm thu trong năm 2009. Dự kiến trong Quý I/2009, Chủ đầu tư sẽ tổ chức nghiệm thu đưa công trình vào vận hành; tiến độ thi công đã đảm bảo theo kế hoạch đề ra.

Chất lượng các hạng mục công trình được Chủ đầu tư kiểm soát phù hợp với yêu cầu thiết kế. Công trình không có tồn tại lớn về chất lượng. Một số tồn tại về chất lượng đã được Hội đồng nhắc nhở trong các đợt kiểm tra hiện trường đã được Chủ đầu tư chỉ đạo các nhà thầu khắc phục như hiện tượng cát thâm nhập vào bể chứa nước làm mát đã được Tổng thầu tổ chức xử lý và làm sạch cát. Hiện tượng này sẽ được tiếp tục kiểm tra, theo dõi, nhất là trong mùa mưa bão tới.

2.8. Cụm công trình Khí – Điện – Đạm Cà Mau

Công trình Đường ống dẫn khí PM3 – Cà Mau đã hoàn thành giai đoạn 2 – cấp khí cho vận hành cả 2 nhà máy điện vào tháng 3/2008 và hoàn thành chạy thử chức năng vào tháng 11/2008. Công trình Nhà máy điện Cà Mau 1 đã hoàn thành vào tháng 9/2008. Hội đồng đã kiểm tra, chấp nhận kết quả nghiệm thu của Hội đồng nghiệm thu cơ sở đối với hai công trình trên trong tháng 09/2008. Công trình Nhà máy điện Cà Mau 2 đã hoàn thành tháng 12/2008. Hội đồng đã tổ chức nghiệm thu cấp nhà nước đối với công trình Đường ống dẫn khí PM3 – Cà Mau và Nhà máy điện Cà Mau 1 và 2. Hiện nay, công trình Nhà máy đạm mới bắt đầu triển khai hợp đồng thi công xây dựng.

Chất lượng thi công xây lắp các hạng mục công trình phù hợp yêu cầu thiết kế. Qua hơn 1 năm vận hành công trình Đường ống dẫn khí và qua thời gian vận hành công trình Nhà máy điện Cà Mau 1 và 2 cho thấy các hệ thống thiết bị chính đã hoạt động an toàn, tin cậy. Kết quả vận hành hệ thống thiết bị chu trình hỗn hợp Cà Mau 1 và 2 cho thấy các thông số vận hành, các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chủ yếu đều đạt trị số thiết kế và cam kết theo Hợp đồng.

Tuy nhiên, Hội đồng cũng lưu ý Chủ đầu tư giải quyết một số vấn đề như: Tổ chức theo dõi quan trắc lún đối với công trình, trong đó chú ý tại các vị trí chuyển tiếp của đường ống từ gối đặt trên nền đất sang gối tựa trên móng cọc và theo dõi độ lún của các kết cấu đặt trên móng nông; theo dõi các tác động gây ảnh hưởng tới môi trường sau khi đưa các hạng mục công trình vào vận hành để chủ động khắc phục khi cần thiết.

2.9. Cầu Cần Thơ

Công trình cầu Cần Thơ gặp sự cố vào tháng 9/2008 bị dừng thi công 1 năm. Ủy ban Nhà nước điều tra sự cố đã kết thúc việc điều tra và lập báo cáo kết quả điều tra trình Thủ tướng Chính phủ. Trên cơ sở đề nghị của Bộ Giao thông vận tải và của Ủy ban, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép triển khai thi công tiếp Gói thầu số 2 – phần cầu chính.

Sau khi sự cố xảy ra, Chủ đầu tư và các nhà thầu đã có ý thức cao hơn trong công tác quản lý chất lượng, hệ thống quản lý chất lượng được kiện toàn. Hội đồng đang tiếp tục theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các công việc tiếp theo của Chủ đầu tư để đảm bảo chất lượng công trình và an toàn tuyệt đối trong quá trình thi công xây dựng.

Chất lượng các hạng mục công trình cơ bản đạt yêu cầu thiết kế. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại về chất lượng: Một số dầm Super T của nhà thầu Trung Quốc (Gói thầu 3) không đạt yêu cầu. Hội đồng đã yêu cầu Chủ đầu tư tổ chức phúc tra, đánh giá lại. Sau khi đánh giá, Chủ đầu tư đã loại một số dầm không đảm bảo chất lượng.

Hiện nay, các nhà thầu đang khẩn trương thi công phần cầu dẫn và nhịp cầu chính. Do hậu quả của sự cố, việc hoàn thành công trình sẽ chậm hơn so với kế hoạch ban đầu ít nhất là 15 tháng.

2.10. Cầu Vĩnh Tuy

Đã hoàn thành hợp long cầu chính vào ngày 30/6/2008. Hiện nay, các nhà thầu đang tiếp tục công tác hoàn thiện mặt cầu và thi công đường dẫn hai đầu cầu. Do gặp khó khăn về công tác giải phóng mặt bằng và sự biến động của giá vật liệu, việc triển khai thi công của các nhà thầu trên công trường rất chậm nên Dự án không thể hoàn thành trong năm 2008 theo kế hoạch. Dự kiến đến Quý III năm 2009 mới hoàn thành đường đầu cầu và phần đường dẫn để đưa một phần Dự án vào khai thác sử dụng và sẽ hoàn thành toàn bộ Dự án vào tháng 6/2010.

2.11. Chất lượng các công trình xây dựng khác

a) Thủy điện:

Tình hình chất lượng tại các công trình xây dựng nhà máy thủy điện khác nhìn chung đã được kiểm soát chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, qua kiểm tra, Hội đồng đã lưu ý các Chủ đầu tư tổ chức xử lý triệt để một số tồn tại về chất lượng tại một số công trình thủy điện như sau:

* Thủy điện Buôn Kuốp:

Sau khi chặn dòng đã xuất hiện hiện tượng thấm qua nền đập đất với lưu lượng tương đối lớn. Nguyên nhân được xác định là do cấu tạo địa chất có lớp bazan xốp trong nền đập, thiết kế chưa có phương án xử lý triệt để vấn đề này ngay từ đầu. Hiện nay, Chủ đầu tư vẫn đang tổ chức xử lý. Tuy nhiên, sau khi xử lý thấm đợt 1, lưu lượng thấm qua nền đập chính vẫn còn lớn, gây mất nước trong lòng hồ và có thể có ảnh hưởng nhất định đến an toàn của đập.

Hội đồng đã yêu cầu Chủ đầu tư tổ chức xử lý thấm nền đập chính theo phương án được duyệt, tổ chức theo dõi, đánh giá lưu lượng thấm trước và sau khi xử lý. Trong quá trình xử lý thấm, cần kiểm tra, theo dõi chặt chẽ để kịp thời điều chỉnh phương án, biện pháp thi công khi cần thiết; tham khảo ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm ở trong và ngoài nước để công tác xử lý đạt hiệu quả.

* Thủy điện Pleikrông:

Đập chính và đập tràn của Công trình đã hoàn thành công tác thi công từ năm 2006 và hồ chứa đã được tích nước từ tháng 10/2006. Trong thời gian tích nước hồ chứa, đã xuất hiện hiện tượng thấm nước trong hành lang thân đập với tổng lưu lượng tương đối lớn (trên 22 lít/s). Chủ đầu tư đã tổ chức xem xét, đánh giá nguyên nhân, lập biện pháp xử lý và đã xử lý chống thấm đợt 1.

Hội đồng đã lưu ý Chủ đầu tư tổ chức kiểm tra, theo dõi quá trình thi công xử lý thấm để điều chỉnh phương án khi cần thiết; lưu ý lựa chọn vật liệu phù hợp để đạt hiệu quả cao; tổ chức theo dõi thường xuyên tình trạng thấm, đặc biệt là thời gian trước và sau khi xử lý. Ngoài ra, cần chỉ đạo Tư vấn thiết kế tính toán, đánh giá ảnh hưởng của tình trạng thấm trong thân đập đến tuổi thọ công trình và xác định lưu lượng thấm cho phép trong thân đập để đảm bảo đập làm việc an toàn trong trường hợp có tổ hợp tải trọng bất lợi nhất.

* Thủy điện Bản Vẽ:

Đập chính của Công trình có kết cấu bê tông RCC, hiện đã thi công được gần 600.000m3. Tuy nhiên, qua kết quả thí nghiệm kháng kéo, kháng nén mẫu RCC lấy trong quá trình thi công cho thấy cường độ của khối RCC thi công từ ngày 14/4/2008 đến cuối tháng 7/2008 không đạt yêu cầu thiết kế. Chủ đầu tư đã tổ chức kiểm tra, đánh giá lại chất lượng phần RCC nêu trên; tổ chức đánh giá nguyên nhân và lập biện pháp xử lý, đã chỉ đạo lựa chọn loại phụ gia Puzoland phù hợp cho việc thi công RCC trong giai đoạn tiếp theo.

Hội đồng đã yêu cầu Chủ đầu tư tiếp tục chỉ đạo các đơn vị tham gia trên công trình tăng cường kiểm soát chất lượng phụ gia khoáng Puzoland từ khâu khai thác cho đến sản xuất ra sản phẩm; chỉ đạo rà soát lại quy trình thi công RCC, kiểm soát chặt chẽ việc tuân thủ quy trình cũng như các điều kiện kỹ thuật thi công RCC. Hội đồng cho rằng việc gia cường cho phần RCC không đạt yêu cầu thiết kế nhằm tăng khả năng chịu kéo cho đập dâng là cần thiết. Vì vậy, Chủ đầu tư cần chỉ đạo Tư vấn thiết kế tính toán, xác định vị trí cần gia cố cho phù hợp, đảm bảo đập làm việc an toàn trong trường hợp có tổ hợp tải trọng bất lợi nhất.

b) Thủy lợi

* Hồ chứa nước Định Bình

Công tác thi công xây dựng các hạng mục chính của Công trình về cơ bản đã hoàn thành. Hồ chứa nước đã được tích nước vào tháng 12/2008 và vận hành bình thường.

Qua các đợt kiểm tra công trình của Hội đồng, chất lượng các hạng mục công trình đã thi công về cơ bản đạt yêu cầu thiết kế. Hội đồng lưu ý Chủ đầu tư cần tổ chức kiểm tra, theo dõi và xử lý một số vết nứt xuất hiện ở đỉnh đập nhằm đảm bảo chất lượng đập trước khi nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào sử dụng.

* Hồ chứa nước Tả Trạch

Công trình đã hoàn thành thi công đập phụ số 1 và số 3, đường vào khu đập phụ và đập chính. Hiện đang thi công các hạng mục chính như: cầu số 1 và số 2, đập phụ số 2 và 4, đào kênh dẫn và kênh xả, đào hố móng đập tràn và đập chính.

Chất lượng các hạng mục công trình cơ bản đảm bảo yêu cầu thiết kế. Hội đồng đã nhắc nhở Chủ đầu tư khắc phục một số tồn tại trong công tác quản lý chất lượng như tài liệu hoàn công đập phụ còn thiếu bản vẽ mô tả địa chất hố móng, thiếu tài liệu thí nghiệm độ chặt của đất đắp, thiếu lài liệu thí nghiệm xác định hệ số thấm.

c) Đường cao tốc

* Đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương:

Công trình dự kiến hoàn thành cơ bản tuyến cao tốc vào tháng 6/2009, các tuyến nối vào tháng 8/2009 và hoàn thành toàn bộ công trình vào tháng 9/2009. Tiến độ công trình chậm 6 tháng so với tiến độ do Thủ tướng Chính phủ yêu cầu.

Chất lượng các hạng mục công trình đã thi công và được Chủ đầu tư nghiệm thu cơ bản đạt yêu cầu thiết kế. Tuy nhiên, qua kiểm tra, Hội đồng đã phát hiện tồn tại về chất lượng đáng lưu ý là hiện tượng các dầm Super T sử dụng cho các cầu cạn trên tuyến bị nứt ở đầu dầm. Hội đồng đã yêu cầu Chủ đầu tư chỉ đạo các nhà thầu, tư vấn giám sát kiểm tra, theo dõi thường xuyên sự xuất hiện và mở rộng của các vết nứt dầm Super T. Đối với các dầm đã có vết nứt cần có giải pháp xử lý để đảm bảo khả năng chịu lực và tuổi thọ của công trình.

Một số đoạn cầu cạn bị nứt bê tông bản mặt cầu. Hội đồng đã nhắc nhở Chủ đầu tư tổ chức kiểm tra khả năng chịu tải trọng sử dụng và có giải pháp sửa chữa trước khi rải lớp bê tông asphalt.

Ngoài ra, do tuyến đường nằm trên khu vực nền đất yếu, trong quá trình thi công đã xảy ra một số vấn đề kỹ thuật phải xử lý như: hiện tượng trượt sâu nền đường ở Km 40 tuyến chính cao tốc; độ lún cố kết sau thời gian gia tải theo thiết kế không đạt yêu cầu trên tuyến nối Tân Tạo – Chợ Đệm … Hội đồng đã yêu cầu Chủ đầu tư có phương án xử lý để đảm bảo chất lượng công trình.

* Đường cao tốc Cầu Giẽ – Ninh Bình

Tiến độ công trình chậm so với kế hoạch 6 tháng do khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, biến động về giá vật liệu, năng lực của các nhà thầu tham gia thi công còn hạn chế về tài chính, nhân lực, thiết bị thi công...

Chất lượng công trình cơ bản đạt yêu cầu. Tuy nhiên, một số hạng mục thi công xử lý nền đất yếu công tác quan trắc lún, chuyển vị chưa đạt yêu cầu; một số hạng mục thi công bê tông cống chui dân sinh chất lượng kém. Hội đồng đã có ý kiến yêu cầu Chủ đầu tư tổ chức khắc phục.

d) Dầu khí

* Nhà máy điện Nhơn Trạch 1

Giai đoạn 1- vận hành chu trình hở đã hoàn thành, cả hai tổ máy đã phát điện thương mại. Giai đoạn 2- vận hành chu trình hỗn hợp và hoàn thành xây dựng công trình sẽ được thực hiện vào đầu năm 2009.

Chất lượng các hạng mục công trình đã thi công phù hợp yêu cầu thiết kế. Một số tồn tại về chất lượng đã được Hội đồng nhắc nhở trong các đợt kiểm tra và yêu cầu Chủ đầu tư khắc phục.

2.12. Đánh giá chung

Trong năm 2008, chất lượng của một số công trình trọng điểm cơ bản đảm bảo yêu cầu kỹ thuật. Các tồn tại về chất lượng đã được Hội đồng lưu ý các Chủ đầu tư qua các đợt kiểm tra công trình cần sớm được khắc phục. Đặc biệt, một số vấn đề nổi cộm về chất lượng tại một số dự án cần có biện pháp xử lý kiên quyết, triệt để:

- Nứt bê tông các đốt hầm dìm tại Dự án Đại lộ Đông – Tây;

- Thấm qua nền đập công trình Thủy điện Buôn Kuốp;

- Nứt bê tông tại các khối đổ RCC đập không tràn bờ trái công trình Nhà máy thủy điện Sơn La;

- Cường độ của khối RCC một phần đập chính công trình Thủy điện Bản Vẽ không đạt yêu cầu thiết kế.

B. VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH

1. Quản lý chất lượng khảo sát, thiết kế

Công tác quản lý chất lượng khảo sát, thiết kế về cơ bản được tuân thủ theo đúng các quy định về quản lý chất lượng. Hồ sơ thiết kế kỹ thuật được thẩm tra, thẩm định và phê duyệt đúng theo quy định. Tuy nhiên, công tác thẩm định và phê duyệt các điều kiện kỹ thuật của một số dự án chưa được các chủ đầu tư quan tâm đúng mức và thiếu chặt chẽ nên công tác nghiệm thu vẫn còn vướng mắc.

Công tác lập và phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công ở một số công trình vẫn còn chậm, nhất là các công trình thủy điện, giao thông. Các tồn tại này đã được Hội đồng nhắc nhở nhiều lần nhưng việc khắc phục của chủ đầu tư và các nhà thầu chưa triệt để nên đã ảnh hưởng đến tiến độ thi công.

Chủ đầu tư các dự án, đặc biệt là các công trình trọng điểm, cần quan tâm hơn đến việc lựa chọn Tư vấn thiết kế có đủ năng lực và kinh nghiệm để sản phẩm thiết kế đạt được chất lượng tốt hơn.

2. Quản lý chất lượng thi công xây dựng

Các Chủ đầu tư tổ chức thực hiện việc giám sát, nghiệm thu công tác thi công xây dựng cơ bản theo đúng các quy định của Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng và các văn bản hướng dẫn. Điều kiện năng lực của các ban quản lý dự án cơ bản đáp yêu cầu.

Các Nhà thầu đều có hệ thống quản lý chất lượng để thực hiện công tác tự giám sát, nghiệm thu nội bộ trước khi đề nghị Chủ đầu tư và Tư vấn giám sát nghiệm thu công việc, bộ phận công trình hạng mục công trình hoặc chuyển giai đoạn thi công.

Tuy nhiên, ở nhiều ban quản lý dự án, ban điều hành của tổng thầu, lực lượng cán bộ kỹ thuật làm công tác giám sát còn thiếu chứng chỉ hành nghề giám sát thi công xây dựng theo quy định.

3. Hồ sơ hoàn công và nghiệm thu:

Tại các công trình được Hội đồng tổ chức nghiệm thu hoặc kiểm tra, hồ sơ hoàn công và nghiệm thu công việc đã được chủ đầu tư và các nhà thầu thực hiện tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, công tác nghiệm thu bộ phận công trình, hạng mục công trình còn chưa kịp thời. Hồ sơ nghiệm thu chuyển giai đoạn thi công của một số hạng mục công trình chưa được hoàn thiện đầy đủ và đồng bộ với tiến độ thi công.

Các tồn tại về công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng và nghiệm thu đã được Hội đồng hướng dẫn, nhắc nhở các chủ đầu tư và các nhà thầu hoàn thiện

III. KIẾN NGHỊ VỀ DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH HỘI ĐỒNG TỔ CHỨC KIỂM TRA, NGHIỆM THU NĂM 2009

Căn cứ tiêu chí lựa chọn công trình do Hội đồng tổ chức nghiệm thu, kiểm tra và tình hình thực tế triển khai các công trình, Hội đồng đề nghị tổng số công trình đưa vào danh mục công trình nghiệm thu và kiểm tra năm 2009 là 67 công trình, trong đó có 54 công trình chuyển tiếp từ năm 2008 và 13 công trình mới bổ sung trong năm 2009.

Trong 67 công trình kiến nghị cho năm 2009, có 18 công trình nghiệm thu và 49 công trình kiểm tra.

Từ 62 công trình trong danh mục công trình năm 2008 có 8 công trình không đưa vào danh mục công trình năm 2009 vì lý do: 5 công trình đã hoàn thành công tác thi công xây dựng (bao gồm công trình cầu Rạch Miễu, Khôi phục cải tạo Quốc lộ 1A đoạn Cần Thơ – Cà Mau, Thủy điện Quảng Trị, Thủy điện A Vương, Thủy điện Đại Ninh) và 3 công trình chưa triển khai thi công trong năm 2009 (bao gồm công trình Thủy điện Sông Bung 2, Thủy điện Sông Bung 4, Thủy điện Trung Sơn).

(Danh mục các công trình do Hội đồng tổ chức nghiệm thu và kiểm tra năm 2009 có trong Phụ lục kèm theo Báo cáo)

Hội đồng nghiệm thu Nhà nước các công trình xây dựng kính báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả hoạt động của Hội đồng và tình hình chất lượng các công trình được Hội đồng tổ chức nghiệm thu, kiểm tra năm 2008 và xin ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- Phó TTgTT Nguyễn Sinh Hùng (để b/c);
- Phó TTg Hoàng Trung Hải (để b/c);
- BT. Nguyễn Hồng Quân, Chủ tịch HĐ (để b/c);
- Văn phòng Chính phủ, Bộ CT, GTVT, NN & PTNT,
 UBND TP. Hà Nội, UBND TP. HCM;
- Các thành viên Hội đồng;
- Lưu VP, Cơ quan TT Hội đồng ( Cục GĐ).

KT. CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PHÓ CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG




GS. TSKH. Nguyễn Văn Liên

 

Đã xem:

Đánh giá:  
 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 07/BC-HĐNTNN

Loại văn bảnVăn bản khác
Số hiệu07/BC-HĐNTNN
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành09/02/2009
Ngày hiệu lực09/02/2009
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcXây dựng - Đô thị
Tình trạng hiệu lựcKhông xác định
Cập nhật12 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 07/BC-HĐNTNN

Lược đồ Báo cáo 07/BC-HĐNTNN tình hình chất lượng công tác quản lý chất lượng công


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Báo cáo 07/BC-HĐNTNN tình hình chất lượng công tác quản lý chất lượng công
                Loại văn bảnVăn bản khác
                Số hiệu07/BC-HĐNTNN
                Cơ quan ban hànhHội đồng nghiệm thu Nhà nước các công trình xây dựng
                Người kýNguyễn Văn Liên
                Ngày ban hành09/02/2009
                Ngày hiệu lực09/02/2009
                Ngày công báo...
                Số công báo
                Lĩnh vựcXây dựng - Đô thị
                Tình trạng hiệu lựcKhông xác định
                Cập nhật12 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản được căn cứ

                    Văn bản hợp nhất

                      Văn bản gốc Báo cáo 07/BC-HĐNTNN tình hình chất lượng công tác quản lý chất lượng công

                      Lịch sử hiệu lực Báo cáo 07/BC-HĐNTNN tình hình chất lượng công tác quản lý chất lượng công

                      • 09/02/2009

                        Văn bản được ban hành

                        Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                      • 09/02/2009

                        Văn bản có hiệu lực

                        Trạng thái: Có hiệu lực