Văn bản khác 247/BC-UBTVQH12

Báo cáo số 247/BC-UBTVQH12 về việc giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ Luật hình sự do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành

Nội dung toàn văn Báo cáo 247/BC-UBTVQH12 giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật sửa đổi BLHS


UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
----------

Số: 247/BC-UBTVQH12

Hà Nội, ngày 17 tháng 6 năm 2009

 

BÁO CÁO

GIẢI TRÌNH TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Tại phiên họp sáng ngày 25 tháng 5 năm 2009, Quốc hội đã thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự (BLHS). Đa số ý kiến Đại biểu Quốc hội tán thành với nội dung Báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý của Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và dự thảo Luật đã được chỉnh lý, đồng thời cũng có ý kiến chưa tán thành và đề nghị một số vấn đề cụ thể cần tiếp thu vào dự án Luật. Sau phiên họp, UBTVQH đã chỉ đạo Ủy ban tư pháp, Cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Luật, các cơ quan, tổ chức hữu quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các vị Đại biểu Quốc hội và chỉnh lý dự thảo Luật.

Ngày 10/6/2009, Đoàn thư ký kỳ họp đã gửi phiếu xin ý kiến các vị Đại biểu Quốc hội về một số nội dung của dự thảo Luật, đã có 330 vị Đại biểu Quốc hội cho ý kiến. Qua tổng hợp ý kiến, về cơ bản các vị Đại biểu Quốc hội tán thành với dự thảo Luật này. Ngoài các nội dung đã được giải trình trong Báo cáo số 251/BC-UBTVQH12 ngày 23/4/2009, UBTVQH xin trình Quốc hội Báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS như sau:

1. Về việc bỏ hình phạt tử hình tại một số điều của BLHS

Về Tội hiếp dâm (Điều 111)

Có ý kiến Đại biểu Quốc hội đề nghị cần giữ lại hình phạt tử hình đối với Tội hiếp dâm để đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm này vì cho rằng hiện nay tình hình hiếp dâm đang gây bức xúc trong dư luận xã hội, cần có các biện pháp trừng trị thật nghiêm khắc đối với hành vi hiếp dâm xâm phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của phụ nữ nhất là người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi mà gây hậu quả như làm nạn nhân chết hoặc bị thương với tỉ lệ thương tật từ 61% trở lên, làm nạn nhân tự sát hoặc biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.

UBTVQH nhận thấy, đây là loại tội xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, sức khoẻ của người bị hại và trong một số trường hợp có thể gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, theo quy định của BLHS thì loại tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm, sức khỏe của người bị hại như Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104) và Tội cố ý truyền HIV cho người khác (Điều 118) … kể cả trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng làm chết nhiều người hoặc phạm tội đối với nhiều người thì hình phạt cao nhất theo quy định của BLHS cũng chỉ là tù chung thân. Thực tiễn xét xử trong thời gian qua cho thấy, Tòa án thường chỉ áp dụng hình phạt tử hình đối với các trường hợp phạm tội hiếp dâm trẻ em hoặc vừa hiếp dâm vừa giết người, mà không áp dụng hình phạt tử hình đối với người có hành vi hiếp dâm đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên dẫn đến hậu quả làm nạn nhân chết hoặc tự sát. Trường hợp hiếp dâm mà cố ý làm nạn nhân chết hoặc vừa có hành vi hiếp dâm, vừa có hành vi giết người thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự đồng thời về 2 tội, Tội giết người và Tội hiếp dâm, trong đó, Tội giết người có hình phạt cao nhất là tử hình. Vì vậy, việc bỏ hình phạt tử hình đối với tội danh này vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho bỏ hình phạt tử hình ở tội danh này.

b) Về Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (Điều 180)

Có ý kiến Đại biểu Quốc hội đề nghị chưa nên bỏ hình phạt tử hình ở tội danh này, vì cho rằng Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả đang có diễn biến phức tạp, xâm phạm đến khách thể là an ninh tiền tệ, an ninh kinh tế, phá hoại nền kinh tế của đất nước, trong thời gian qua loại tội phạm này có chiều hướng gia tăng, kẻ thù có thể lợi dụng làm suy yếu nền kinh tế đất nước.

UBTVQH nhận thấy, hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả là tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, mục đích phạm tội là nhằm thu lời bất chính, nên bên cạnh việc trừng trị về hình sự thì cần chú trọng các biện pháp quản lý, phòng ngừa. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi thì hình phạt tù chung thân là đủ nghiêm khắc để trừng trị kẻ phạm tội và vẫn bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa chung, phù hợp với chủ trương chung là không quy định hình phạt tử hình đối với các tội phạm về kinh tế. Còn trong trường hợp làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả nếu có mục đích chống chính quyền nhân dân mà làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh tiền tệ, an ninh kinh tế, an ninh quốc gia thì sẽ bị xử lý hình sự về Tội phá hoại cơ sở, vật chất - kỹ thuật của nước CHXHCN Việt Nam quy định tại Điều 85 của BLHS có mức hình phạt cao nhất là tử hình. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho bỏ hình phạt tử hình ở tội danh này.

c) Về Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy (Điều 221),

Có ý kiến Đại biểu Quốc hội đề nghị giữ hình phạt tử hình đối với Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy vì cho rằng tàu bay, tàu thủy là tài sản lớn, quan trọng của quốc gia, việc chiếm đoạt có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của nhiều người và có thể là lý do để quốc gia khác tiến hành chống đối Nhà nước ta hoặc gây chiến tranh, khủng bố, tống tiền...

UBTVQH nhận thấy, đây là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm an toàn giao thông đường không, đường biển, xâm phạm tài sản của Nhà nước và công dân, nhưng thực tiễn đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trong thời gian qua cho thấy hành vi chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy thường để thực hiện các loại tội phạm khác như trốn ra nước ngoài nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân, bắt cóc con tin để cưỡng đoạt tài sản hoặc khủng bố v.v…nên người phạm tội không chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này, mà còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng khác được quy định tại Chương XI - Các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (có tội danh còn giữ hình phạt tử hình) của BLHS. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho bỏ hình phạt tử hình ở tội danh này.

d) Về Tội hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 334)

Có ý kiến Đại biểu Quốc hội đề nghị giữ lại hình phạt tử hình để đảm bảo hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm vì cho rằng vũ khí, phương tiện quân sự, nhất là các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự quan trọng dùng để trang bị cho quân đội làm nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc và cũng là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh của quân đội. Hành vi phá hủy vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự làm mất đi khả năng sẵn sàng chiến đấu, khả năng phòng thủ, uy hiếp đến an ninh quốc gia. Do đó, cần thiết phải giữ lại hình phạt tử hình ở tội danh này nhằm bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa chung.

UBTVQH nhận thấy, theo quy định của Điều 334 BLHS thì hành vi hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự là hành vi phá hủy vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự thông thường, còn đối với các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật quan trọng như ý kiến đại biểu Quốc hội nêu thì được quy định tại Điều 231 Tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia, trường hợp hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân sẽ bị xử lý về Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước CHXHCN Việt Nam (Điều 85 của BLHS) mà những tội danh này đều có hình phạt cao nhất là tử hình. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội quy định tại Điều 334 thì hình phạt tù chung thân đối với tội danh này là nghiêm khắc và bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa chung. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho bỏ hình phạt tử hình ở tội danh này.

đ) Về tách Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194 BLHS) thành Tội mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194) và Tội tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 194a)

Có ý kiến Đại biểu Quốc hội đề nghị giữ như quy định của BLHS hiện hành và cho rằng đây là loại tội phạm nguy hiểm, các hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy có sự gắn kết hữu cơ với nhau, trên thực tế có những vụ tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý với số lượng đặc biệt lớn, diễn biến rất phức tạp, tính chất và mức độ phạm tội đặc biệt nguy hiểm nên việc giữ hình phạt tử hình đối với tội danh này là cần thiết để nhằm răn đe, phòng ngừa chung và trừng trị nghiêm khắc người phạm tội.

UBTVQH nhận thấy, trong thời gian qua nhóm tội phạm ma tuý bị kết án tử hình chiếm tỷ lệ khá cao. Trong số đó chủ yếu bị kết án tử hình về Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy. Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy các hành vi quy định tại Điều 194 có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau. Vì vậy, việc tách Điều 194 và bỏ hình phạt tử hình đối với Tội tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý là để xác định rõ tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội làm cơ sở quy định mức hình phạt cho phù hợp, góp phần thực hiện chủ trương của Đảng về hạn chế áp dụng hình phạt tử hình. Trên thực tế có những vụ tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy có số lượng đặc biệt lớn nếu chứng minh có sự đồng phạm với hành vi mua bán trái phép chất ma túy thì sẽ bị xử lý về Tội mua bán trái phép chất ma túy với hình phạt cao nhất là tử hình, nếu tàng trữ, vận chuyển thuê để kiếm tiền thì hành phạt tù chung thân cũng đũ để răn đe, phòng ngừa chung. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho tách Điều 194 và bỏ hình phạt tử hình ở Tội tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy như dự thảo Luật.

UBTVQH nhận thấy, các tội danh có quy định hình phạt tử hình trong BLHS đều là tội đặc biệt nghiêm trọng. Do vậy, việc cân nhắc xem xét để bỏ hoặc giữ hình phạt tử hình ở tội danh nào cần được cân nhắc một cách thận trọng, toàn diện. Việc từng bước hạn chế áp dụng hình phạt tử hình, bỏ hình phạt tử hình trong một số điều của BLHS là chủ trương lớn của Đảng đã được xác định trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới (Nghị quyết số 08/NQ-TW) và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49/NQ-TW) Để thực hiện chủ trương này, sau khi cân nhắc kỹ tính chất nghiêm trọng của tội phạm, yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và thực tiễn xét xử đối với các tội phạm cụ thể có quy định hình phạt tử hình. Trên cơ sở Tờ trình của Chính phủ, tiếp thu ý kiến của các vị Đại biểu Quốc hội, UBTVQH đề nghị Quốc hội trong lần sửa đổi, bổ sung này cho bỏ hình phạt tử hình đối với các tội danh quy định tại 8 điều của BLHS, đó là: Tội hiếp dâm (Điều 111) Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139), Tội buôn lậu (Điều 153), Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (Điều 180), Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197), Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy (Điều 221) Tội đưa hối lộ (Điều 298) và Tội hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 334).

2. Về việc bỏ Tội sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 199)

Có ý kiến Đại biểu Quốc hội không tán thành với việc bỏ tội danh này, vì cho rằng tình hình sử dụng trái phép chất ma túy vẫn đang gia tăng, có diễn biến phức tạp, làm ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội và ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, đang được xác định là thảm họa quốc gia. Nếu bỏ tội danh này có thể dẫn đến việc sử dụng ma túy tràn lan ở nơi công cộng, tác động xấu đến xã hội nhất là trẻ vị thành niên và là nguyên nhân làm gia tăng các tội phạm khác.

UBTVQH nhận thấy, Qua gần 10 năm thi hành của BLHS, mặc dù Điều 199 quy định trách nhiệm hình sự đối với người sử dụng trái phép chất ma túy “đã được giáo dục nhiều lần và đã bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc mà còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy...” , nhưng trên thực tế số người bị truy cứu trách nhiệm hình sự rất ít, tác dụng răn đe, phòng ngừa không cao, chưa góp phần khắc phục tình trạng tái nghiện. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người sử dụng trái phép chất ma tuý có thể đem đến những hậu quả bất lợi về mặt xã hội, gây khó khăn cho quá trình tái hoà nhập cộng đồng của họ. Do đó, ngoài các biện pháp xử phạt hành chính, bắt buộc cai nghiện, bắt buộc chữa bệnh thì cần tìm các biện pháp khác hiệu quả, bền vững hơn và cần có sự hỗ trợ lâu dài, kiên trì từ phía gia đình, cộng đồng và toàn thể xã hội, bằng việc dạy nghề, tạo việc làm… Mặt khác, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống ma túy được Quốc hội thông qua vào tháng 6/2008 thể hiện quan điểm nhân đạo của Nhà nước ta coi người nghiện ma túy là người bệnh và quy định các biện pháp cai nghiện, chữa bệnh bắt buộc đối với những người này. Việc không quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý không có nghĩa là dung túng đối với hành vi này mà là tìm ra biện pháp xử lý thích hợp hơn. Nếu người nghiện ma tuý có hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý hoặc những hành vi phạm tội khác như trộm cắp, cướp tài sản v.v. thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng trong BLHS. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho bỏ tội danh này trong BLHS.

3. Về Tội khủng bố (Điều 230a) và Tội tài trợ khủng bố (Điều 230b)

a) Về Tội khủng bố (Điều 230a)

Có ý kiến Đại biểu Quốc hội đề nghị sửa đổi Tội khủng bố từ Điều 84 - Chương XI Các tội xâm phạm an ninh quốc gia thành Điều 230a - Chương XIX Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng để phúc đáp yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm khủng bố trong giai đoạn mới và tạo điều kiện trong hợp tác quốc tế về phòng, chống khủng bố.

Có ý kiến Đại biểu Quốc hội không tán thành với việc sửa đổi Điều 84 thành Điều 230a mà giữ Điều 84 như quy định của BLHS hiện hành, chờ khi ban hành Luật phòng, chống khủng bố sẽ nghiên cứu sửa đổi, bổ sung BLHS cho phù hợp.

UBTVQH nhận thấy, Tội khủng bố quy định tại Điều 84 của BLHS hiện hành có phạm vi điều chỉnh hẹp cả về khách thể (an ninh quốc gia), mục đích (chống chính quyền nhân dân) và hành vi (xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tự do thân thể; đe doạ xâm phạm tính mạng; uy hiếp tinh thần của cán bộ, công chức hoặc công dân), trong khi đó theo các điều ước quốc tế liên quan đến chống khủng bố mà Việt Nam là thành viên thì tội phạm khủng bố có phạm vi rộng hơn. Việc quy định về tội phạm khủng bố phải vừa bảo đảm chính sách hình sự trong việc bảo vệ an ninh quốc gia, vừa phải đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống khủng bố trong điều kiện hội nhập quốc tế. Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho giữ Điều 84 và Điều 230a như dự thảo Luật, đồng thời sửa lại cấu thành cơ bản tại Điều 230a cho chặt chẽ hơn.

b) Về Tội tài trợ khủng bố (Điều 230b)

Có ý kiến Đại biểu không tán thành với việc bổ sung tội danh trên, vì cho rằng cấu thành của tội danh này trong dự thảo Luật không rõ, đây thực chất là hành vi đồng phạm của Tội khủng bố, do đó có thể áp dụng chế định đồng phạm quy định tại Điều 20 của BLHS hiện hành để xử lý.

UBTVQH nhận thấy, hành vi tài trợ khủng bố ở Điều này không đồng nhất với việc Chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 17 và Đồng phạm quy định tại Điều 20 của BLHS. Theo các điều luật trên thì tội phạm được thực hiện khi có hành vi tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc giúp sức cho việc thực hiện tội phạm. Như vậy, nếu khủng bố chưa xảy ra thì không thể truy cứu trách nhiệm hình sự người có hành vi tài trợ với vai trò đồng phạm được. Vì vậy, quy định tại Điều 230b Tội tài trợ khủng bố cho phép xử lý sớm hành vi huy động, hỗ trợ tiền, tài sản dưới bất kỳ hình thức nào cho cá nhân, tổ chức khủng bố. Quy định này góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong hợp tác quốc tế về chống khủng bố và cũng phù hợp với điều ước quốc tế về chống khủng bố mà Việt Nam là thành viên. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho bổ sung Điều 230b Tội tài trợ khủng bố vào BLHS.

4. Về sửa đổi, bổ sung Tội mua bán người (Điều 119) và Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120)

Có ý kiến Đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung sửa đổi tại Điều 119 của dự thảo Luật và đề nghị chỉ sửa đổi để có căn cứ xử lý đối với các hành vi mua bán nam giới; quy định các tình tiết như mua bán phụ nữ, mua bán người nhằm mục đích mại dâm hoặc lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt.

Tiếp thu ý kiến Đại biểu Quốc hội, UBTVQH đề nghị sửa Điều 119 Tội mua bán phụ nữ thành Tội mua bán người, đồng thời quy định tình tiết lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt quy định tại khoản 2 các điều 119 và 120 của dự thảo Luật. Còn tình tiết mua bán người vì mục đích mại dâm đã được quy định tại các điều 119 và 120 của BLHS hiện hành.

5. Về bổ sung Tội giới thiệu trẻ em làm con nuôi để trục lợi (Điều 119a)

Có ý kiến Đại biểu Quốc hội tán thành với phương án 2 của dự thảo Luật là bổ sung tội danh trên vì cho rằng nuôi con nuôi là hoạt động nhân đạo, thời gian qua đã xuất hiện một số trường hợp lợi dụng việc cho, nhận con nuôi để trục lợi làm ảnh hưởng đến hoạt động nhân đạo này.

UBTVQH nhận thấy, trong thời gian qua tuy có xuất hiện hành vi lợi dụng việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi nhằm thu lợi bất chính làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động nuôi con nuôi, nhưng hành vi này chưa phổ biến, hơn nữa cấu thành tội phạm này chưa rõ, còn nhiều ý kiến khác nhau. Do đó, UBTVQH đề nghị chưa bổ sung tội danh trên trong lần sửa đổi, bổ sung này mà cần tiếp tục nghiên cứu kỹ hơn.

6. Về sửa đổi, bổ sung Tội xâm phạm quyền tác giả và các quyền có liên quan (Điều 170a) và Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171)

Có ý kiến Đại biểu Quốc hội cho rằng, việc liệt kê hành vi hoặc hậu quả như dự thảo Luật sẽ không bao quát hết và không phù hợp với Luật sở hữu trí tuệ và đề nghị sử dụng cụm từ “quy mô thương mại” ở các điều luật nêu trên cho phù hợp với các cam kết quốc tế của Nhà nước ta khi ký kết Hiệp định thương mại với Hoa kỳ và gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Ý kiến khác cho rằng khái niệm “quy mô thương mại” không rõ, không bảo đảm tính minh bạch và có thể dẫn đến việc xử lý hình sự tràn lan.

UBTVQH thấy rằng, việc cụ thể hoá yếu tố “quy mô thương mại” bằng các cụm từ “vì mục đích kinh doanh” và “hàng hoá vi phạm có số lượng lớn, có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng” tuy có rõ hơn nhưng cũng không quy định được hết mọi trường hợp và vẫn cần phải có hướng dẫn của các cơ quan chuyên ngành. Bên cạnh đó, nếu quy định như vậy thì sẽ gây bất lợi cho chúng ta trong hoạt động đối ngoại và các nước trong Tổ chức thương mại thế giới có điều kiện để cho rằng Việt Nam chưa thực hiện nghiêm chỉnh cam kết quốc tế. Vì vậy, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho phép sử dụng khái niệm “quy mô thương mại” trong cấu thành cơ bản của hai điều luật này và giao cho các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn cụ thể cho phù hợp với thực tế Việt Nam cũng như yêu cầu đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trong từng giai đoạn phát triển của đất nước. Do đó, Điều 170a, Điều 171 được chỉnh lý như dự thảo Luật.

7. Về bổ sung các tội phạm về chứng khoán

Có ý kiến Đại biểu Quốc hội đề nghị chỉ xử lý về hình sự đối với các trường hợp phạm tội về lĩnh vực chứng khoán trong trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; bổ sung các hành vi chào bán chứng khoán không có giấy chứng nhận chào bán; tổ chức thị trường chứng khoán trái pháp luật, kinh doanh chứng khoán không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

UBTVQH nhận thấy, đây là các tội phạm mới được bổ sung nên trước mắt chỉ nên quy định trách nhiệm hình sự đối với những hành vi phạm tội đã phổ biến và gây hậu quả nghiêm trọng để vừa bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm gây tác hại lớn cho quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đồng thời bảo đảm sự thống nhất về chính sách hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế quy định tại Chương XVI (các hành vi vi phạm quy định tại Chương này đều bị xử lý hình sự nếu gây hậu quả nghiêm trọng). Việc quy định thế nào là “gây hậu quả nghiêm trọng” sẽ do các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn cụ thể phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội và đặc thù của lĩnh vực chứng khoán, bảo đảm sự hoạt động bình thường của thị trường chứng khoán. Còn đối với các hành vi chào bán chứng khoán không có giấy chứng nhận chào bán; tổ chức thị trường chứng khoán trái pháp luật, kinh doanh chứng khoán không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì BLHS hiện hành đã có Tội kinh doanh trái phép (Điều 159 của BLHS) để xử lý. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho giữ như quy định của dự thảo Luật.

8. Về sửa đổi, bổ sung Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Điều 190)

Có ý kiến đề nghị thay cụm từ “những sản phẩm của động vật đó” quy định tại khoản 1 Điều 190 Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ bằng cụm từ “những bộ phận cơ thể của động vật đó” vì cho rằng quy định bộ phận cơ thể của các loài động vật sẽ phù hợp hơn.

UBTVQH nhận thấy sản phẩm của động vật là những sản phẩm được sản xuất, chế biến từ bộ phận cơ thể động vật và đều bị cấm vận chuyển, buôn bán. Hành vi lấy bộ phận cơ thể cũng như hành vi mua bán bộ phận cơ thể và sản phẩm của động vật là tiếp tay cho hành vi săn bắt, giết động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho bổ sung cụm từ “bộ phận cơ thể động vật” vào trước cụm từ “sản phẩm của động vật” tại khoản 1 Điều 190 như dự thảo Luật.

Ngoài các vấn đề trên, UBTVQH đã chỉ đạo các cơ quan hữu quan nghiên cứu ý kiến các vị đại biểu Quốc hội để chỉnh lý và hoàn thiện cả về nội dung và kỹ thuật văn bản của dự thảo Luật.

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Trên đây là Báo cáo giải trình, tiếp thu và chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xin kính trình Quốc hội xem xét, quyết định.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- Thành viên UBTVQH;
- Chính phủ;
- Lưu VP; UBTP.

TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
PHÓ CHỦ TỊCH




Uông Chu Lưu

 

Đã xem:

Đánh giá:  
 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 247/BC-UBTVQH12

Loại văn bảnVăn bản khác
Số hiệu247/BC-UBTVQH12
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành17/06/2009
Ngày hiệu lực17/06/2009
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcBộ máy hành chính, Trách nhiệm hình sự
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực
Cập nhật12 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 247/BC-UBTVQH12

Lược đồ Báo cáo 247/BC-UBTVQH12 giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật sửa đổi BLHS


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Báo cáo 247/BC-UBTVQH12 giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật sửa đổi BLHS
                Loại văn bảnVăn bản khác
                Số hiệu247/BC-UBTVQH12
                Cơ quan ban hànhUỷ ban Thường vụ Quốc hội
                Người kýUông Chu Lưu
                Ngày ban hành17/06/2009
                Ngày hiệu lực17/06/2009
                Ngày công báo...
                Số công báo
                Lĩnh vựcBộ máy hành chính, Trách nhiệm hình sự
                Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực
                Cập nhật12 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản được dẫn chiếu

                  Văn bản hướng dẫn

                    Văn bản được hợp nhất

                      Văn bản được căn cứ

                        Văn bản hợp nhất

                          Văn bản gốc Báo cáo 247/BC-UBTVQH12 giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật sửa đổi BLHS

                          Lịch sử hiệu lực Báo cáo 247/BC-UBTVQH12 giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật sửa đổi BLHS

                          • 17/06/2009

                            Văn bản được ban hành

                            Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                          • 17/06/2009

                            Văn bản có hiệu lực

                            Trạng thái: Có hiệu lực