Văn bản khác 378/BC-UBTVQH12

Báo cáo 378/BC-UBTVQH12 thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực liên quan trực tiếp đến công dân và doanh nghiệp theo Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành

Nội dung toàn văn Báo cáo 378/BC-UBTVQH12 thực hiện cải cách thủ tục hành chính


ỦY BAN THƯỜNG VỤ
QUỐC HỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------

Số: 378/BC-UBTVQH12

Hà Nội, ngày 18 tháng 10 năm 2010

 

BÁO CÁO KẾT QUẢ GIÁM SÁT

“VIỆC THỰC HIỆN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH RONG MỘT SỐ LĨNH VỰC LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN CÔNG DÂN VÀ DOANH NGHIỆP THEO CHƯƠNG TRÌNH TỔNG THỂ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2001 - 2010”

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thực hiện Nghị quyết số 39/2009/QH12 ngày 12/11/2009 của Quốc hội về Chương trình hoạt động giám sát năm 2010, ngày 10/02/2010 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 886/NQ-UBTVQH12 thành lập Đoàn giám sát “Việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực liên quan trực tiếp đến công dân và doanh nghiệp theo Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010”.

Theo Kế hoạch, Đoàn giám sát tiến hành giám sát cải cách thủ tục hành chính (TTHC) các lĩnh vực đất đai; nhà ở, xây dựng nhà ở; thuế; hải quan. Trong đó, lĩnh vực đất đai tập trung vào 3 nhóm: giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư; cấp Giấy chứng nhận (GCN) quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất; đăng ký biến động về đất đai. Lĩnh vực nhà ở, xây dựng nhà ở tập trung vào 4 nhóm: thẩm định, phê duyệt, xin ý kiến cơ sở về dự án phát triển nhà ở; cấp giấy phép xây dựng (GPXD) nhà ở; cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở; đăng ký biến động về nhà ở. Lĩnh vực thuế tập trung vào 3 nhóm: miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế. Lĩnh vực hải quan tập trung vào 4 nhóm: thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh; thủ tục kiểm tra sau thông quan; thủ tục hải quan điện tử.

Phạm vi giám sát được tiến hành trong cả nước và thời điểm được tính từ ngày 17/9/2001 (ngày ban hành Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước) đến ngày 31/12/2009. Để triển khai Kế hoạch giám sát, Đoàn giám sát đã đề nghị Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương báo cáo việc thực hiện cải cách TTHC liên quan đến các nhóm TTHC được giám sát. Đồng thời, Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng đã giao Đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiến hành giám sát việc thực hiện cải cách TTHC ở địa phương và gửi báo cáo kết quả giám sát cho Đoàn giám sát.

Đoàn giám sát đã nhận được báo cáo của Chính phủ, các bộ, ngành trung ương và của 61/63 UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và báo cáo của 30 Đoàn đại biểu Quốc hội. Đồng thời, đã tổ chức các cuộc khảo sát việc thực hiện cải cách TTHC tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Lạng Sơn, Bình Dương, Tiền Giang và cũng đã trực tiếp làm việc với một số huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh và một số đơn vị cơ sở trực tiếp thực hiện các TTHC như “Trung tâm tiếp nhận và trả kết quả” theo cơ chế một cửa, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, địa điểm thu thuế, cửa khẩu hải quan,… Đoàn giám sát đã làm việc với Tổ công tác thực hiện Đề án 30 của Chính phủ và phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức hội nghị lấy ý kiến của các doanh nghiệp về cải cách TTHC trong các lĩnh vực được giám sát. Đoàn giám sát đã tổ chức các buổi làm việc để nghe báo cáo của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính về nội dung giám sát cũng như trao đổi về nội dung Báo cáo này.

Ngày 28 tháng 9 năm 2010, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã nghe Đoàn giám sát báo cáo về kết quả giám sát. Dưới đây, Ủy ban thường vụ Quốc hội xin báo cáo Quốc hội kết quả hoạt động giám sát như sau:

I. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

Thực hiện chủ trương của Đảng[1] và nghị quyết của Quốc hội[2] về cải cách hành chính nói chung và thủ tục hành chính nói riêng, ngày 17/9/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 với mục tiêu chung là: “Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng” và một trong những mục tiêu cụ thể là: “Xóa bỏ về cơ bản các TTHC mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các TTHC mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân”.

Trong những năm qua, Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong việc hoàn thiện các quy định về TTHC theo những định hướng trong các quy định nêu trên; đã xây dựng, trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành, sửa đổi nhiều dự án luật, pháp lệnh quan trọng; đồng thời ban hành theo thẩm quyền và yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) nhằm bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung các TTHC cho phù hợp với thực tiễn. Ngoài ra, Chính phủ đã có nhiều biện pháp cụ thể để đẩy nhanh tiến trình cải cách TTHC như: thành lập Tổ liên ngành giải quyết vướng mắc cho doanh nghiệp; quy định việc tiếp nhận, xử lý các vướng mắc của cá nhân, tổ chức về TTHC; áp dụng cơ chế một cửa, một cửa liên thông, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000, 2008; đẩy mạnh tin học hóa một số dịch vụ hành chính công. Kết thúc Giai đoạn I (2001 - 2005) đã có những chuyển biến tích cực, từng bước tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Tuy nhiên, trong giai đoạn này TTHC trên nhiều lĩnh vực vẫn còn rườm rà, phức tạp, thiếu công khai, minh bạch và còn là rào cản đối với sản xuất, kinh doanh, tạo kẻ hở cho nhũng nhiễu, tiêu cực.

Để khắc phục tình trạng này và tiếp tục thực hiện Giai đoạn II (2006 - 2010) của Chương trình tổng thể cải cách hành chính, ngày 10/01/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 30/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đơn giản hóa TTHC trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 - 2010 (gọi tắt là Đề án 30) để triển khai đồng bộ trên phạm vi toàn quốc, ở cả 4 cấp chính quyền đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ. Sau hơn 3 năm thực hiện, đã đạt được những kết quả như sau:

- Đã công bố được Bộ cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC tại 4 cấp chính quyền và công khai trên mạng internet, với trên 5.700 TTHC, trên 9.000 văn bản có quy định về TTHC và trên 100.000 biểu mẫu thống kê TTHC.[3] Đây là lần đầu tiên Việt Nam đã thiết lập và công bố công khai Bộ cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC trong hoạt động quản lý nhà nước. Kết quả này được nhân dân, doanh nghiệp và cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, coi đây là đóng góp quan trọng vào việc cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng hội nhập.

- Đã chuẩn hóa và thống nhất được bộ TTHC cấp huyện, cấp xã. Theo đó, ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có một bộ TTHC cấp xã và một bộ TTHC cấp huyện (từ 10.000 bộ TTHC cấp xã, 700 bộ TTHC cấp huyện xuống còn 63 bộ TTHC cấp xã, và 63 bộ TTHC cấp huyện) để thống nhất thực hiện tại từng địa phương.

- Các bộ, ngành, địa phương đã hoàn thành việc rà soát các TTHC thuộc phạm vi quản lý theo đúng tiến độ và đạt được chỉ tiêu đơn giản hóa tối thiểu 30% các quy định về TTHC được giao. Theo đó, trong tổng số 5.421 TTHC được rà soát, đã kiến nghị để bãi bỏ 480 TTHC, thay thế 192 TTHC, sửa đổi, bổ sung 4.146 TTHC. Ngoài ra, theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, việc thực hiện các phương án đơn giản hóa còn nhằm cắt giảm 30% chi phí tuân thủ TTHC cho người dân, doanh nghiệp.

- Đã thông qua phương án đơn giản hóa 258 TTHC ưu tiên thuộc phạm vi quản lý của Bộ, ngành[4] trên nguyên tắc tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, nhưng vẫn bảo đảm mục tiêu quản lý của Nhà nước. Theo đó, nhiều TTHC được bãi bỏ, thay thế; nhiều mẫu đơn, tờ khai được đơn giản hóa hoặc mẫu hóa thống nhất trong cả nước; nhiều yêu cầu, điều kiện đã bị loại bỏ; nhiều trình tự, cách thức giải quyết, hồ sơ phải nộp đã được đơn giản hóa. Theo tính toán, các phương án đơn giản hóa 258 TTHC sẽ tiết kiệm được cho người dân và doanh nghiệp hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm[5]. Chính phủ, các Bộ, ngành đã kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản QPPL có liên quan.

- Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 14/02/2008 về việc tiếp nhận, xử lý phản ánh kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính, tạo khung pháp lý cho người dân tham gia, giám sát thực hiện TTHC; ban hành Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 về kiểm soát TTHC, làm cơ sở cho việc duy trì kết quả của việc cải cách TTHC, bảo đảm kiểm soát ngay từ khâu dự thảo, ban hành cho đến thực thi trên thực tế, cũng như lượng hóa được chi phí tuân thủ các TTHC; đồng thời thiết lập cơ quan, đơn vị kiểm soát TTHC ở cấp trung ương và cấp tỉnh. Chính phủ tiếp tục thông qua và tổ chức thực thi các phương án đơn giản hóa đối với gần 5.000 TTHC còn lại, bảo đảm hoàn thành các chỉ tiêu về đơn giản hóa TTHC đã đặt ra.

II. KẾT QUẢ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG CÁC LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI; NHÀ Ở, XÂY DỰNG NHÀ Ở; THUẾ; HẢI QUAN

1. Kết quả cải cách TTHC trong lĩnh vực đất đai

1.1. Những kết quả đạt được:

a) Về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư

Việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư đã có những cải cách quan trọng. Các quy định về giao đất, cho thuê đất bồi thường, hỗ trợ tái định cư chi tiết, rõ ràng đã tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho địa phương tổ chức thực hiện. Theo đó, thay thế 66 TTHC bằng 54 TTHC mới; sửa đổi, bổ sung 18 TTHC và bãi bỏ 02 TTHC; trình tự, nội dung và các mẫu đơn, tờ khai được niêm yết công khai, áp dụng thống nhất trong cả nước; thời gian thực hiện TTHC được giảm thiểu thông qua việc lồng ghép các thủ tục về đầu tư, xây dựng và đất đai ngay từ khâu chấp thuận dự án đầu tư đến khâu bồi thường, giải phóng mặt bằng, xây dựng dự án,[6] qua đó rút ngắn đáng kể thời gian thực hiện (từ 1/3 đến 1/2) so với quy định trước đây. Đồng thời, các quy định mới nhằm tách bạch giữa bồi thường và hỗ trợ, thực hiện cơ chế linh hoạt trong bồi thường, đổi mới việc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất nông nghiệp, đa dạng mức diện tích đất, diện tích nhà đối với các khu tái định cư; đổi mới cơ chế tài chính và củng cố Tổ chức phát triển quỹ đất; tạo lập Quỹ phát triển đất,… đã giúp tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Nhìn chung, những cố gắng này đã được người dân và doanh nghiệp cũng như các địa phương đồng tình ủng hộ.

b) Về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất; đăng ký biến động về đất đai

Đã hình thành hệ thống cơ quan đăng ký chuyên trách là Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất[7] - là cơ quan dịch vụ công thuộc cơ quan tài nguyên và môi trường, có trách nhiệm thực hiện các công việc mang tính chuyên môn kỹ thuật. Nhờ đó, đã góp phần đẩy nhanh tiến độ cấp GCN.[8]

Thống nhất cấp 01 loại GCN về quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất[9] tạo điều kiện cho người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản chỉ phải làm thủ tục cấp GCN một lần tại một cơ quan nhà nước.[10] Hồ sơ địa chính đã được xây dựng, quản lý thống nhất ở một đầu mối, khắc phục tình trạng nhiều cơ quan quản lý,[11] đã giảm ít nhất 1/2 thời gian giải quyết các TTHC so với trước đây.

Ngoài ra, nhiều quy định mới đã được ban hành nhằm tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức như trong việc xin cấp GCN và đăng ký biến động về đất như: bổ sung các thủ tục đăng ký biến động đối với tài sản mà trước đây chưa quy định; giảm thời gian xem xét cấp GCN lần đầu... Đồng thời, quy định trách nhiệm của cơ quan tiếp nhận hồ sơ trong việc kiểm tra hồ sơ trước khi tiếp nhận để tránh phiền hà cho người dân và doanh nghiệp.

1.2. Những hạn chế, bất cập:

- Việc phân cấp mạnh cho địa phương thực hiện các TTHC về đất đai và quá trình tổ chức thực hiện đã bộc lộ những hạn chế, bất cập trong quản lý, điều hành của Nhà nước, điển hình như việc giao đất làm sân gôn, cho thuê đất trồng rừng. Việc thực hiện TTHC ở nhiều địa phương chưa tuân thủ đúng quy định như: yêu cầu nộp thêm nhiều giấy tờ không cần thiết, trái quy định của pháp luật (như nộp bản sao sổ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân, sơ đồ thửa đất; thủ tục đăng ký biến động vẫn phải nộp đơn xin cấp GCN, văn bản xác minh việc chấp hành pháp luật đất đai[12]...). Việc tiếp nhận hồ sơ thiếu kiểm tra, hướng dẫn đầy đủ nên có tình trạng hồ sơ không bảo đảm yêu cầu nhưng vẫn được tiếp nhận, dẫn đến người dân, doanh nghiệp phải đi lại nhiều lần, kéo dài thời gian do phải bổ sung hoặc làm lại hồ sơ; một số địa phương thực hiện thêm một số thủ tục trùng lặp[13]... gây lãng phí, bất bình trong xã hội và cơ quan quản lý cấp trên không nắm được thông tin để xử lý.

- Quy định cấp một GCN quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhằm tạo thuận lợi cho người dân, song trên thực tế cũng đã phát sinh những vướng mắc, cụ thể: việc cấp GCN quyền sử dụng đất không thể thực hiện đồng thời với chứng nhận về quyền sở hữu nhà ở (do nhà ở được xây dựng sau); hồ sơ đăng ký quyền sở hữu nhà ở cũng còn phức tạp. Quy trình giải quyết kéo dài, trách nhiệm không rõ. Chẳng hạn, do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất không xác định được tình trạng nhà ở, quy mô, loại nhà ở và những vấn đề có tính chất kỹ thuật liên quan đến nhà ở để thực hiện việc đăng ký, nên còn phải qua cơ quan quản lý nhà ở thông qua việc gửi phiếu lấy ý kiến của cơ quan này. Thực tế cho thấy người dân không mặn mà với việc đăng ký sở hữu nhà ở.

- Một số địa phương tuy đã thành lập bộ phận một cửa trực thuộc UBND cấp huyện để thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả nhưng trên thực tế vẫn chưa bảo đảm yêu cầu một cửa vì người dân vẫn phải tự đến Kho bạc để thực hiện nghĩa vụ tài chính. Trường hợp nộp hồ sơ tại xã và xã chuyển cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất qua bộ phận một cửa; việc làm này lại có tính chất trung gian, xã làm thay việc của dân, nhưng khi hợp đồng đo đạc, người dân vẫn phải gặp trực tiếp Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, làm kéo dài thời gian giải quyết. Ngoài ra, có địa phương thực hiện cơ chế một cửa liên thông trong lĩnh vực đất đai không đúng quy định của pháp luật, chẳng hạn việc thành lập Tổ liên ngành giải quyết hồ sơ đất đai, làm thay chức năng của các cơ quan hữu quan, thực hiện công việc không đúng thẩm quyền.

- Năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức ở địa phương còn hạn chế; sự phối hợp giữa các ngành tài nguyên và môi trường, xây dựng, tài chính chưa chặt chẽ, nên đã ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết và mất nhiều thời gian, công sức của người dân; thời gian giải quyết thủ tục ở nhiều địa phương còn kéo dài quá thời hạn quy định, nhất là thủ tục cấp GCN lần đầu.

- Việc tổ chức và quy định chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có sự chồng chéo với chức năng quản lý nhà nước về đất đai của Phòng Tài nguyên và Môi trường ở cấp huyện (Phụ lục 1A). Do đó có một số địa phương không thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất[14] và giao Phòng Tài nguyên và Môi trường thực hiện các công việc tham mưu cấp GCN quyền sử dụng đất.

- Việc thành lập Tổ chức phát triển quỹ đất theo Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 là đơn vị sự nghiệp có thu nhưng được giao chức năng, nhiệm vụ vừa thực hiện chức năng quản lý của cơ quan nhà nước, vừa làm dịch vụ, vừa là một đơn vị kinh doanh. Như vậy, chức năng của tổ chức này vượt quá quy định của Luật Đất đai (Phụ lục 1A).

- Một số vướng mắc cụ thể:

+ Vướng mắc trong công tác cấp GCN quyền sử dụng đất do nghị định hướng dẫn thi hành luật nhưng trái luật. Chẳng hạn như việc “bổ sung” quy định người sử dụng đất phải nộp tiền đối với diện tích đất ở ngoài hạn mức như tại điểm a khoản 1 Điều 14 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP là trái với quy định tại khoản 4 Điều 50 của Luật Đất đai.[15]

+ Quy định việc thu hồi đất và giao đất, cho thuê đất được thực hiện trong cùng một quyết định tại khoản 1 Điều 31 của Nghị định 69/2009/NĐ-CP trái với quy định tại Điều 32 của Luật Đất đai.[16]

+ Thiếu văn bản hướng dẫn thi hành làm cho việc triển khai thực hiện các TTHC còn khó khăn trên thực tế; ví dụ việc tự đầu tư trên đất đang sử dụng trong trường hợp đất thuộc diện thu hồi để đầu tư dự án có mục đích sản xuất, kinh doanh hoặc xây dựng kinh doanh nhà ở.[17]

+ Quy định về đăng ký, xóa đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất cùng với việc công chứng các hợp đồng này là không hợp lý và không phù hợp. Theo quy định tại khoản 1 Điều 130 của Luật Đất đai, hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất phải được công chứng và phải đăng ký thế chấp; theo pháp luật về công chứng, khi hợp đồng được công chứng thì có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan (Điều 4 và Điều 6 của Luật Công chứng). Hơn nữa, việc thế chấp bằng quyền sử dụng đất thuần túy là quan hệ dân sự giữa các bên, chưa có sự biến động về chủ quyền sử dụng đất hoặc chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất. Do vậy, việc đăng ký thế chấp sau khi có hợp đồng thế chấp đã được công chứng và xóa thế chấp sau khi các bên đã thực hiện xong các nghĩa vụ là không cần thiết, gây phiền hà, tốn kém cả về thời gian, tiền bạc và công sức của người dân, doanh nghiệp.

2. Kết quả cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực nhà ở, xây dựng nhà ở

2.1. Những kết quả đạt được:

a) Về thẩm định, phê duyệt thiết kế về dự án phát triển nhà ở

Việc thẩm định, phê duyệt thiết kế về dự án phát triển nhà ở được cải cách theo hướng phân cấp mạnh hơn cho cấp dưới, rút ngắn thời gian thực hiện các TTHC, nâng cao vai trò, trách nhiệm của chủ đầu tư và quản lý chặt chẽ hơn công tác đầu tư xây dựng, cụ thể là:

- Trong giai đoạn trước khi có Luật Xây dựng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định thiết kế kỹ thuật (TKKT) và tổng dự toán theo phân cấp (Bộ Xây dựng đối với dự án nhóm A, Sở Xây dựng đối với nhóm B, C), xem xét và có ý kiến bằng văn bản theo thời hạn quy định, sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ của chủ đầu tư dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước.[18] Sau khi Luật Xây dựng được ban hành, chủ đầu tư thực hiện thẩm định và phê duyệt TKKT; thẩm định thiết kế cơ sở được thực hiện đồng thời với thẩm định dự án; việc tham gia ý kiến về thiết kế cơ sở không còn bắt buộc và chỉ lấy ý kiến khi thấy cần thiết.

- Thời gian thẩm định TKKT đã được rút ngắn (dự án nhóm A từ 45 ngày xuống còn 20 ngày, dự án nhóm B từ 30 ngày xuống còn 15 ngày và dự án nhóm C từ 20 ngày xuống còn 10 ngày).

b) Về cấp giấy phép xây dựng nhà ở

Việc cấp GPXD đã được phân cấp cho chính quyền cấp huyện, cấp xã thực hiện, cùng với đó là việc đơn giản hóa các thủ tục, hồ sơ xin cấp GPXD. Theo đó, người xin cấp GPXD chỉ phải nộp hồ sơ tại cơ quan cấp phép xây dựng; các thủ tục không cần thiết được bãi bỏ; thời gian cấp phép đã được giảm (từ 30 ngày xuống còn 20 ngày đối với công trình, 15 ngày đối với nhà ở riêng lẻ). Việc cấp GPXD nhà ở nông thôn đã được quy định trong Luật Xây dựng.

Các thủ tục xin cấp GPXD đã được đơn giản hơn, việc thẩm định hồ sơ được thực hiện theo cơ chế "một cửa liên thông”; những dự án đã được cơ quan quản lý nhà nước thẩm định thiết kế cơ sở, thiết kế bản vẽ thi công hoặc công trình thuộc khu công nghiệp, khu đô thị mới, khu nhà ở đã có quy hoạch xây dựng chi tiết 1/500 được duyệt thì không phải xin cấp GPXD. Từ những quy định này, về cơ bản TTHC đã được giảm bớt, đã khắc phục được tình trạng một dự án, một công trình phải qua nhiều khâu, nhiều cửa quản lý. Nhờ cải cách TTHC, tỷ lệ số công trình xây dựng, trong đó có nhà ở được cấp GPXD thời gian qua đã tăng lên hàng năm.[19]

c) Về cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và đăng ký biến động về nhà ở

Thủ tục về cấp GCN quyền sở hữu nhà ở và đăng ký biến động về nhà ở đã có sự thay đổi căn bản, từ việc quy định rất phức tạp về trình tự, thủ tục, điều kiện và hồ sơ giấy tờ (Nghị định 60/CP) tiến tới đơn giản hóa một bước thành phần hồ sơ, thủ tục thực hiện, quy định cụ thể thẩm quyền giải quyết, rút ngắn thời gian thực hiện (Nghị định 95/2005/NĐ-CP đã loại bỏ 02 TTHC không cần thiết, bỏ 2 giấy tờ trong thành phần hồ sơ, đơn giản về điều kiện; quy định cụ thể thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ, xem xét giải quyết cấp GCN; rút ngắn thời gian thực hiện từ 60 ngày xuống còn 35 ngày đối với cá nhân và 50 ngày đối với tổ chức; trường hợp cấp lại, cấp đổi thì từ 60 ngày xuống còn 15 ngày). Đặc biệt, với quy định cấp chung một loại GCN quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở cho chủ sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu nhà ở, chủ sở hữu căn hộ chung cư theo quy định của Luật Nhà ở và Nghị định 90/2006/NĐ-CP thủ tục cấp GCN tiếp tục được đơn giản hơn về hồ sơ, trình tự thực hiện. Cụ thể, chủ sở hữu nhà ở chỉ phải nộp một bộ hồ sơ tại một cơ quan quản lý nhà ở thay vì phải chuẩn bị 02 bộ hồ sơ và nộp tại 2 cơ quan khác nhau. Người đề nghị cấp mới, cấp đổi, cấp lại GCN chỉ phải qua 2 thủ tục (nộp hồ sơ và nhận GCN); nếu chuyển nhượng nhà ở thì phải qua 3 thủ tục (nộp hồ sơ, nộp thuế tại cơ quan thuế và nhận GCN) thay vì phải qua từ 4 đến 6 thủ tục như trước đây; đồng thời loại bỏ những giấy tờ không cần thiết trong hồ sơ (như biên lai nộp tiền và giấy tờ chứng minh có hộ khẩu); thời gian cấp GCN tiếp tục được rút ngắn (từ 50 ngày xuống còn 35 ngày đối với tổ chức).

2.2. Một số hạn chế, bất cập:

- Một số địa phương chưa thực hiện phân cấp triệt để thẩm quyền cấp GPXD; có địa phương chưa phân cấp do cán bộ cấp dưới chưa đủ năng lực thực hiện, nhưng cũng có nơi vẫn còn tình trạng níu kéo các quy định của cơ chế cũ, chưa thực sự tin tưởng việc phân cấp cho cơ sở. Ngược lại, có địa phương phân cấp cấp GPXD ngoài quy định của cơ quan có thẩm quyền cấp trên. Việc cấp GPXD tạm và cấp GPXD nhà ở nông thôn, đến nay mới chỉ có khoảng 50% địa phương ban hành quy định cụ thể (theo phân cấp của Chính phủ); việc triển khai cấp GPXD tạm được thực hiện từ năm 2006 đến nay cũng còn rất hạn chế, nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa cấp được trường hợp nào.

- Quy hoạch xây dựng là căn cứ để cấp GPXD, nhưng việc lập quy hoạch xây dựng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Tỷ lệ quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị 1/500 đến nay chưa được phủ kín, thiếu căn cứ để cấp GPXD dẫn tới mất thời gian để thoả thuận về quy hoạch, kiến trúc, làm phát sinh tiêu cực, tuỳ tiện trong các cơ quan quản lý quy hoạch và cấp phép xây dựng. Ở một số địa phương có tình trạng dự án nhà ở nằm trong khu đô thị mới đã có quy hoạch chi tiết được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhưng quá trình lập dự án vẫn phải tiến hành thỏa thuận cấp điện, cấp nước, thoát nước, môi trường, chiều cao tĩnh không của công trình, gây khó khăn, phiền hà cho công tác cấp GPXD.

Ở nông thôn còn nhiều nơi chưa có quy hoạch điểm dân cư phục vụ công tác quản lý, cấp GPXD theo quy định của Luật Xây dựng và Luật Đất đai, dẫn đến việc xây dựng nhà ở nông thôn không có sự quản lý. Điều đó không những không đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà ở nông thôn theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, mà còn để xảy ra tình trạng một số khu dân cư bị lũ quét, lũ ống, sạt lở đất gây thiệt hại đến tài sản và tính mạng của nhân dân.

- Theo quy định tại Điều 63 của Luật Xây dựng, hồ sơ xin cấp GPXD gồm 3 loại giấy tờ là đơn xin cấp GPXD, bản vẽ thiết kế xây dựng công trình và giấy tờ về quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, có địa phương còn quy định thêm một số loại giấy tờ trái với quy định của Luật Xây dựng, cụ thể là: cam kết chịu trách nhiệm đối với việc hư hỏng các công trình liền kề, lân cận; phương án phá dỡ công trình do tổ chức tư vấn đủ năng lực được chủ đầu tư ký xác nhận; có hợp đồng thuê nhà, hợp đồng thế chấp và văn bản chấp nhận của chủ sở hữu nhà cho thuê hoặc của tổ chức, cá nhân nhận thế chấp,…

- Ngoài những hạn chế nêu trên, có một số vướng mắc, mâu thuẫn cụ thể như sau:

+ Có TTHC không hợp lý, chẳng hạn việc gia hạn GPXD,[20] việc cấp GPXD đối với một số công trình thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh,[21] quy định không bồi thường thiệt hại đối với các công trình được cấp GPXD tạm khi Nhà nước thu hồi đất[22] gây khó khăn, bức xúc cho người dân cũng như cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Qua giám sát, nhiều địa phương không tán thành với các quy định nêu trên và đề nghị điều chỉnh thời hạn của GPXD từ 12 tháng lên 24 tháng để giảm việc xin gia hạn giấy phép của công dân; giao cho UBND cấp huyện thực hiện cấp GPXD đối với các công trình xây dựng trên các tuyến, trục đường phố chính trong đô thị thuộc huyện; có chính sách hỗ trợ đối với các công trình được cấp GPXD tạm khi Nhà nước thu hồi đất.

+ Chưa có sự thống nhất giữa điều kiện để cấp GPXD được quy định trong Luật với thực tiễn. Cụ thể là theo khoản 1 Điều 65 của Luật Xây dựng, một trong những điều kiện để được cấp GPXD công trình trong đô thị là phải “phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng được phê duyệt”; tuy nhiên, trên thực tế, không ít địa phương lại chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng được phê duyệt. Tình trạng này đã dẫn đến phát sinh những TTHC mới. Chẳng hạn, để có thể được cấp GPXD, chủ đầu tư phải đề nghị với cơ quan quản lý để được giới thiệu về địa điểm và một số chỉ tiêu quy hoạch, trên cơ sở đó chủ đầu tư phải lập thiết kế tổng mặt bằng trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để làm căn cứ lập dự án, gây khó khăn, phiền hà cho các tổ chức, cá nhân khi xin cấp GPXD.

+ Còn có sự mâu thuẫn giữa văn bản hướng dẫn của Bộ với nghị định của Chính phủ về một số TTHC. Ví dụ: điểm b khoản 1 Điều 19 của Nghị định 12/2009/NĐ-CP quy định công trình không phải xin GPXD là tất cả các công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 4 Thông tư số 12/2009/NĐ-CP quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình">03/2009/TT-BXD ngày 26/3/2009 của Bộ Xây dựng hướng dẫn chi tiết quy định nói trên thì công trình đã lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật và đã được cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư nhưng vẫn phải xin GPXD.

+ Có trường hợp việc cấp GPXD gặp khó khăn còn do văn bản của cấp dưới không thống nhất với văn bản của cấp trên. Chẳng hạn, Quyết định số 79/QĐ-UBND của UBND TP Hà Nội quy định những lô đất có diện tích nhỏ hơn 15m2, chiều dài hoặc chiều rộng nhỏ hơn 3m thì không được cấp phép xây dựng. Nhưng, trong Quy chuẩn xây dựng Việt Nam do Bộ Xây dựng ban hành quy định đối với nhà ở liền kề cải tạo phải có diện tích đất tối thiểu là 25m2 với chiều dài, chiều rộng không dưới 2,5m.

3. Kết quả cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế

3.1. Những kết quả đạt được:

- Xây dựng hệ thống dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế và triển khai cơ chế một cửa trong việc giải quyết các TTHC tại cơ quan thuế các cấp thống nhất trong toàn ngành từ năm 2007. Các TTHC thuế như đăng ký thuế, nhận hồ sơ khai thuế, hoàn thuế, hướng dẫn chính sách thuế, xác nhận nghĩa vụ nộp thuế… được thực hiện thông qua cơ chế một cửa đã tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, hạn chế việc tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ, công chức thực thi nhiệm vụ với người nộp thuế, góp phần ngăn ngừa tiêu cực, nhũng nhiễu.

- Thực hiện cơ chế một cửa liên thông phối hợp giữa các ngành thuế, kế hoạch và đầu tư, công an đối với 03 thủ tục đăng ký kinh doanh, cấp mã số thuế và đăng ký khắc dấu cho doanh nghiệp; giữa cơ quan thuế và cơ quan tài nguyên và môi trường trong việc giải quyết các hồ sơ thực hiện nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất đai.

- Thực hiện cơ chế tự khai thuế, tự nộp thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế; áp dụng phương thức hoàn thuế trước, kiểm tra sau; chuyển từ hình thức mua hóa đơn sang việc cho phép doanh nghiệp tự in hóa đơn… Các TTHC như đăng ký, khai thuế, các mẫu khai đăng ký thuế, hồ sơ hoàn thuế, miễn giảm thuế được đơn giản hóa (hồ sơ hoàn thuế loại bỏ 02 giấy tờ không cần thiết; không cần công văn, hồ sơ miễn giảm thuế khi yêu cầu miễn, giảm thuế) đã làm giảm đáng kể các loại giấy tờ trong hồ sơ, cụ thể là:

Về thủ tục miễn thuế, giảm thuế: Theo Thông tư số 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 của Bộ Tài chính, từ năm 2004 trở lại đây, đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh tự xác định số thuế được miễn, giảm trên tờ khai thuế năm và không phải gửi công văn, hồ sơ miễn, giảm thuế để cơ quan thuế xem xét, ra quyết định miễn, giảm thuế như trước đây. Kể từ khi thực hiện Luật Quản lý thuế, các trường hợp được miễn, giảm thuế do người nộp thuế tự xác định điều kiện miễn, giảm và tự tính số thuế được miễn, được giảm khi khai thuế, cơ quan thuế không ra quyết định mà chỉ kiểm tra hồ sơ kê khai của người nộp thuế.

Về thủ tục hoàn thuế, hồ sơ hoàn thuế cũng đơn giản hơn, chỉ còn văn bản đề nghị hoàn thuế, bảng kê khai tổng hợp số thuế phát sinh đề nghị hoàn và bảng kê chứng từ thanh toán qua ngân hàng;[23] người nộp thuế không phải gửi lại những tờ khai, bảng kê đã gửi cho cơ quan thuế đã làm giảm đáng kể các thủ tục đối với người nộp thuế khi yêu cầu hoàn thuế, đồng thời rút ngắn thời gian thực hiện TTHC thuế so với trước đây.[24]

- Các nội dung có liên quan đến cơ quan thuế và người nộp thuế như hồ sơ thuế, quy trình thủ tục giải quyết, thời gian giải quyết, trách nhiệm của cán bộ, công chức thuế,... đã được quy định cụ thể và công khai để dễ áp dụng, người dân dễ thực hiện và giám sát. Đồng thời, việc ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin, các phần mềm quản lý thuế hiện đại tại các cơ quan thuế đã góp phần hiện đại hóa ngành thuế, đơn giản hóa hồ sơ, TTHC thuế, giảm đáng kể thời gian thực hiện các TTHC thuế (rút ngắn 1/3 thời gian giải quyết TTHC so với trước đây), tạo thuận lợi và giảm thiểu chi phí cho người nộp thuế cũng như cho Nhà nước.

3.2. Một số hạn chế, bất cập:

- Theo báo cáo, việc thực hiện cải cách TTHC thuế đã tập trung vào việc cắt giảm thời gian thực hiện, loại bỏ, thay thế, đơn giản hóa thủ tục, hồ sơ và quy trình thực hiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, chưa làm rõ được hiệu quả của việc đơn giản hóa TTHC đối với yêu cầu bảo đảm quản lý nhà nước (chẳng hạn, chống thất thu thuế). Qua giám sát cho thấy, trong quá trình thực hiện TTHC thuế còn những khâu chưa sử dụng số liệu thông tin cơ bản của từng doanh nghiệp để áp dụng nhiều lần trong quá trình thực hiện, mà phải kê khai, báo cáo số liệu, thông tin cơ bản lặp đi lặp lại trong từng thủ tục; còn nhiều thủ tục chưa được liên thông giữa các cơ quan chức năng cũng như khâu này có giá trị để áp dụng cho khâu sau.

- Để thực hiện cơ chế quản lý rủi ro đối với việc tự khai thuế, tự nộp thuế; hoàn thuế trước, kiểm tra sau, chống thất thu ngân sách nhà nước đòi hỏi các cơ quan thuế phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra. Tuy nhiên, công tác kiểm tra, thanh tra đối với doanh nghiệp tự khai, tự nộp thuế còn thấp (hàng năm mới kiểm tra được khoảng 20% số doanh nghiệp thực hiện tự khai, tự nộp). Việc thiếu kiểm tra, thanh tra có thể dẫn đến tình trạng gian lận thuế, gây thất thoát đối với nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Qua báo cáo kiểm toán cho thấy, nhiều doanh nghiệp bị Kiểm toán Nhà nước kiến nghị tăng thu ngân sách nhà nước hàng trăm tỷ đồng, trong đó phần lớn là tăng thu từ thuế.

- Việc quy định cho phép doanh nghiệp đăng ký mẫu và tự in hóa đơn có thể tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, nhưng tiềm ẩn rủi ro do không kiểm soát được số lượng hóa đơn được in, phát hành, có thể dẫn đến tình trạng mua bán, gian lận hóa đơn, chứng từ, gây khó khăn cho công tác quản lý hóa đơn, chứng từ trong thời gian tới.

- Những quy định về điều kiện để được miễn, giảm thuế chưa được cụ thể, rõ ràng, nên việc xem xét giải quyết trên thực tế cũng còn vướng mắc. Tình trạng thiếu quy định cụ thể về thời hạn và trường hợp được lập hồ sơ hoàn thuế dễ làm nảy sinh hiện tượng tiêu cực trong việc hoàn thuế.

- Việc thực hiện cơ chế một cửa liên thông trong thực hiện các khoản thu về đất đai còn có nhiều vướng mắc trong quá trình phối hợp thực hiện, nhất là việc quy định chức năng, quyền hạn của các ngành chưa rõ ràng trong một số TTHC, ví dụ như xác định nghĩa vụ tài chính đối với các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất.

4. Kết quả cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan

4.1. Những kết quả đạt được:

- Cơ chế xin - cho giữa hải quan và doanh nghiệp về cơ bản đã được khắc phục thông qua cải cách TTHC; đã thiết lập được cơ chế tự giác tuân thủ và chấp hành pháp luật của các bên. Triển khai có hiệu quả phương pháp quản lý mới trong hoạt động hải quan: phương pháp quản lý rủi ro - phân luồng hàng hóa; kiểm tra sau thông quan; khai hải quan qua mạng; thông quan điện tử. Đồng thời, bộ máy tổ chức được đổi mới để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, trong đó đã thiết lập được các đơn vị quản lý hải quan điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa, điện tử hóa các hoạt động quản lý về hải quan.

- Các thủ tục hải quan được đơn giản hóa hơn so với trước đây; quy trình, thủ tục hải quan được đổi mới theo hướng đơn giản hóa, loại bỏ bớt khâu trung gian (hàng hóa thuộc luồng đỏ còn 4 bước, luồng vàng còn 3 bước và luồng xanh còn 2 bước); thời gian thông quan được rút ngắn hơn 50% so với thời gian quy định.

- Hồ sơ hải quan đã được đơn giản hóa, giảm bớt các giấy tờ không cần thiết (hồ sơ hải quan giảm từ 8 loại giấy tờ đối với lô hàng xuất khẩu xuống còn 4 loại giấy tờ và từ 14 loại giấy tờ đối với lô hàng nhập khẩu xuống còn 10 loại giấy tờ); được luân chuyển theo một quy trình thủ tục, không phải vòng đi vòng lại. Đặc biệt, việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử, khai hải quan qua mạng đã làm giảm đáng kể số lượng giấy tờ phải có trong hồ sơ hải quan (năm 2008 có 67%, năm 2009 có 83% số lượng tờ khai hải quan được thực hiện qua mạng). Đồng thời, cơ hội để doanh nghiệp tiếp xúc trực tiếp với công chức hải quan ít hơn, góp phần hạn chế được phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực trong quá trình thực hiện.

- Việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông được triển khai thực hiện trong lĩnh vực hải quan. Các thủ tục hải quan được công khai, minh bạch và được niêm yết tại nơi làm thủ tục hải quan. Một số địa phương đã triển khai thực hiện cơ chế một cửa liên thông giữa các đơn vị thuế, Kho bạc Nhà nước, hải quan trong việc thu, nộp thuế.

- Qua việc thực hiện cải cách, hiện đại hóa ngành hải quan, đội ngũ cán bộ, công chức hải quan đã có sự trưởng thành đáng ghi nhận kể cả về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ (83% cán bộ, công chức hải quan có trình độ đại học), kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin. Việc đầu tư phương tiện kỹ thuật cho hoạt động hải quan bước đầu đã được quan tâm, giúp cho việc thông quan nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và chi phí cho công dân, doanh nghiệp.

4.2. Một số hạn chế, bất cập:

- Hải quan là một ngành thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực; tuy nhiên, việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng (giao thông vận tải, công thương, y tế, kiểm dịch,…) nhất là tại cửa khẩu đường bộ, cảng biển chưa chặt chẽ. Đặc biệt, chưa có sự thống nhất, chuẩn hóa về tiêu chuẩn kỹ thuật, hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin và cơ sở hạ tầng tại các cửa khẩu dẫn đến việc quản lý xuất khẩu, nhập khẩu của mỗi ngành khác nhau, gây khó khăn cho việc trao đổi thông tin giữa các cơ quan, đơn vị liên quan, ảnh hưởng đến chủ trương xây dựng Thương mại Quốc tế một cửa sẽ được thực hiện năm 2012 theo cam kết quốc tế và cam kết trong ASEAN.

- Việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử mới chỉ ở một số cục, chi cục hải quan các tỉnh, thành phố và áp dụng đối với một số công đoạn, quy trình nhất định. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết TTHC còn hạn chế, mới chỉ được thực hiện ở một số địa phương, đơn vị và trong một số hoạt động; nhiều thủ tục vẫn còn phải thực hiện thủ công, tốn nhiều thời gian và nhân lực, ví dụ như các thủ tục hải quan liên quan đến đầu tư (đăng ký danh mục miễn thuế, thanh lý), kinh doanh thương mại (kiểm tra giấy phép, kiểm tra thực tế), tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu (giám sát hải quan, thanh khoản hoàn thuế)… Ngoài ra, việc thực hiện cơ chế một cửa tại các cửa khẩu chủ yếu mới chỉ là việc “các cơ quan, đơn vị cùng ngồi một chỗ”; người dân, doanh nghiệp vẫn phải qua “cửa” của các cơ quan chức năng như kiểm lâm, kiểm dịch động vật, biên phòng,…

- Theo quy định của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thời hạn nộp thuế đối với từng loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà thời hạn có thể khác nhau từ 30 ngày đến 275 ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan. Với khoảng thời gian dài như vậy có thể dẫn đến tình trạng hàng hóa sau khi được thông quan đã được bán hoặc doanh nghiệp bị giải thể thì khó bảo đảm được việc thu thuế.

III. NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ

1. Nhận xét chung

a) Những kết quả đạt được

Cải cách TTHC được xác định là một nội dung quan trọng, là khâu đột phá của cách cải hành chính. Công tác cải cách TTHC tuy đã qua 10 năm thực hiện, nhưng thực chất mới chỉ thực hiện từ khi triển khai Đề án 30 (tháng 7/2008). Với sự chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ, sự ủng hộ và quyết tâm của các bộ, ngành, địa phương và sự tham gia tích cực của người dân và doanh nghiệp, cũng như huy động được các nguồn lực trong xã hội để thực hiện nên cải cách TTHC đã đạt được những kết quả quan trọng, tích cực; một số lượng lớn các TTHC rườm rà, chồng chéo, không hợp lý, dễ bị lợi dụng, lạm dụng đã được rà soát, loại bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung; nhiều TTHC mới được ban hành theo hướng công khai, minh bạch, thuận lợi, hướng tới xây dựng một nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, thu hút đầu tư, được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận. Kết quả thực hiện cải cách TTHC đã khẳng định tính đúng đắn về chủ trương và các giải pháp thực hiện, tạo đà cho việc thực hiện cải cách hành chính trong những năm tiếp theo.

Thông qua rà soát TTHC đã phát hiện nhiều bất hợp lý trong quy định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các cơ quan trong bộ máy hành chính. Đây là cơ sở quan trọng để nghiên cứu điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, sự phân công, phân cấp cũng như sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lắp. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã từng bước được trưởng thành cả về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin.

Đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung và trong lĩnh vực cải cách TTHC nói riêng đã góp phần từng bước hiện đại hóa nền hành chính nhà nước.

b) Một số tồn tại, hạn chế

Kết quả thực hiện cải cách TTHC trong thời gian qua nhìn chung chưa đạt được yêu cầu đề ra theo Chương trình tổng thể cải cách hành chính; kết quả thực hiện cải cách TTHC có thể coi là bước đầu. Trong một số lĩnh vực vẫn còn nhiều TTHC rườm rà, chồng chéo, chưa hợp lý, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp.

Tình trạng cán bộ, công chức giải quyết công việc chậm trễ, cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, tiêu cực, tham nhũng còn khá phổ biến; tình trạng để doanh nghiệp, công dân phải đi lại nhiều lần chưa được khắc phục. Đây là một trong những nguyên nhân rất cơ bản làm cho mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về công tác cải cách TTHC chưa cao.

Việc thực hiện cải cách TTHC tại các địa phương, đơn vị mặc dù đã có chương trình, kế hoạch, nhưng chưa tạo được bước đột phá mạnh mẽ. Có loại TTHC hợp pháp nhưng không hợp lý, chưa phù hợp với thực tế, kể cả những “giấy phép con” do các cơ quan quản lý tự quy định; còn tình trạng ban hành văn bản chứa quy phạm pháp luật, trong đó có những quy định không phù hợp cả về thẩm quyền, hình thức và nội dung theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Mô hình cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” ở một số nơi còn lúng túng, chưa thực sự hợp lý trong một số lĩnh vực; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành còn chưa nhất quán, thiếu đồng bộ; thời gian giải quyết vẫn còn dài ở một số thủ tục; trụ sở làm việc, cơ sở vật chất một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Bộ phận “một cửa” trên thực tế mới chỉ là nơi tiếp nhận và trả kết quả, chưa trực tiếp giải quyết, mà phải chuyển tới các bộ phận chuyên môn thực hiện nên quy trình thực hiện vẫn còn rườm rà, mất nhiều thời gian. Nhiều nơi chưa bố trí cán bộ có năng lực, phẩm chất đảm nhiệm khâu tiếp nhận hồ sơ, hướng dẫn và giải quyết kịp thời những vướng mắc trong quá trình thực hiện.

Việc thực hiện hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết TTHC còn hạn chế về kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị, về nguồn nhân lực, mới chỉ được thực hiện ở một số địa phương, đơn vị và trong một số hoạt động; nhiều TTHC vẫn còn phải thực hiện thủ công, tốn nhiều thời gian và nhân lực.

Công tác thông tin, tuyên truyền Chương trình tổng thể cải cách hành chính về kết quả thực hiện còn chưa thiết thực nên chưa tạo được sự đồng thuận cao của xã hội.

2. Một số nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

- Nhận thức của một bộ phận cán bộ, công chức còn hạn chế, chưa thấy rõ vai trò, ý nghĩa quan trọng và tác động tích cực của cải cách TTHC trong phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế - quốc tế.

- Việc chỉ đạo triển khai cải cách TTHC chưa đồng bộ và thường xuyên, có nơi, có lúc chưa sâu sát, cụ thể, cá biệt có cơ quan, đơn vị còn hình thức.

- Trong điều kiện hội nhập quốc tế, có nhiều yếu tố ảnh hưởng và biến động, trong khi đó việc thay đổi về cơ chế, chính sách cũng như TTHC chưa thể thích ứng ngay, đòi hỏi vừa làm vừa rút kinh nghiệm và từng bước hoàn thiện.

- Cải cách TTHC còn gặp trở ngại không nhỏ bởi những thói quen quản lý theo cơ chế tập trung quan liêu (“xin - cho”) và cũng đụng chạm đến lợi ích cục bộ của nhiều cơ quan và của cán bộ, công chức.

- Trong quản lý nhà nước còn đặt ra những thủ tục không cần thiết hoặc là nghĩ thay, làm thay trách nhiệm của người dân hoặc làm hạn chế quyền của người dân mà lẽ ra Nhà nước cần phải ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật và tạo ra cơ sở pháp lý để mọi cá nhân, tổ chức chấp hành; trên cơ sở đó hướng dẫn thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm đối với từng công việc cụ thể.

- Thể chế và tổ chức bộ máy nhà nước còn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ. Mức độ chuyên nghiệp, tính chuyên sâu, kỹ năng hành chính và cả đạo đức, phẩm chất của một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính.

- Hạ tầng công nghệ thông tin nói chung chưa được đầu tư đúng mức và việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách TTHC còn nhiều hạn chế, nên việc kết nối, khai thác thông tin còn khó khăn.

- Công tác giám sát, kiểm tra việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh, nghị định...; giám sát, kiểm tra việc tổ chức thực hiện văn bản pháp luật chưa được tiến hành thường xuyên và hiệu quả thấp.

3. Một số kiến nghị

a) Kiến nghị chung

Thứ nhất, cần phải xác định TTHC là một khâu của quản lý nhà nước và phụ thuộc nhiều vào thể chế, bộ máy và trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy, cải cách TTHC một mặt phải tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, mặt khác phải bảo đảm yêu cầu quản lý của Nhà nước; đòi hỏi phải được tiến hành đồng bộ, khẩn trương, kiên trì, liên tục.

Thứ hai, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng ban hành các chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật và xây dựng quy hoạch, kế hoạch trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, tạo khung khổ pháp lý công khai, minh bạch để mọi cá nhân, tổ chức tự quyết định và tự chịu trách nhiệm, đồng thời tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra, kịp thời xử lý các vi phạm; xác định rõ những việc Nhà nước cần quản lý và bắt buộc Nhà nước phải bảo đảm thi hành thông qua một thủ tục chung, bảo đảm để TTHC được quy định thống nhất trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và được thực hiện thống nhất ở cả nước, không nên viện dẫn đặc thù của ngành, địa phương để đặt ra những TTHC khác so với quy định của pháp luật.

Chính phủ, các Bộ, ngành và UBND các cấp tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ những quy định không phù hợp để hoàn thiện hệ thống pháp luật thống nhất từ trung ương đến địa phương; loại bỏ những khâu trung gian, không cần thiết, những thủ tục được ban hành không đúng thẩm quyền; rút ngắn tối đa thời gian giải quyết công việc của công dân, tổ chức. Đồng thời, duy trì có hiệu quả cơ chế kiểm soát TTHC, tránh việc quy định các TTHC gây khó khăn, phiền hà cho tổ chức, cá nhân; sớm tổng kết, từ đó có sự chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện có hiệu quả cơ chế một cửa liên thông; đồng thời, nghiên cứu việc thực hiện cơ chế một đầu mối chịu trách nhiệm chủ trì giải quyết thay cho mô hình một cửa tập trung.

Thứ ba, TTHC là một bộ phận của nền hành chính quốc gia và luôn tồn tại song hành với hoạt động của Nhà nước. Tuy nhiên, để thực hiện, vận hành có hiệu quả thì yếu tố con người lại là khâu quyết định. Do đó, cần chú trọng hơn đến yếu tố con người. Theo đó, bên cạnh việc nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng phục vụ thì cần đặc biệt quan tâm đến đạo đức công vụ, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức. Đồng thời, coi trọng cơ chế kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện trong nội bộ của cơ quan, tổ chức; thực hiện công khai đầy đủ, cụ thể về TTHC, thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan, cán bộ, công chức để nhân dân giám sát.

Thứ tư, tiếp tục triển khai chương trình hiện đại hóa nền hành chính đáp ứng yêu cầu hội nhập và phù hợp các tiêu chuẩn quốc tế; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng công sở theo quy hoạch, hiện đại hóa trang thiết bị làm việc, xây dựng và ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước. Cần bố trí ngân sách hàng năm hợp lý để phục vụ công tác cải cách hành chính. Cải cách cơ bản chế độ tiền lương, bảo đảm ngân sách nhà nước chi trả tiền lương thực sự là nhân tố chi cho đầu tư phát triển, là động lực phát triển.

Thứ năm, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình cần tăng cường hơn nữa giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật và giám sát việc thực hiện cải cách TTHC.

Thứ sáu, Chính phủ tiếp tục chỉ đạo thực hiện Đề án 30 quyết liệt hơn nữa nhằm đạt được mục tiêu chung về cải cách hành chính nhà nước đã được đặt ra. Đồng thời, tổng kết việc thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 để xây dựng Chương trình cải cách hành chính nhà nước cho giai đoạn tiếp theo; chú trọng hơn nữa cải cách thể chế và tổ chức bộ máy nhà nước.

b) Kiến nghị liên quan đến các lĩnh vực giám sát

- Đề nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luật Hải quan; ban hành Luật Phí, lệ phí để thay thế Pháp lệnh Phí, lệ phí (nội dung cụ thể tại Phụ lục 1A)

- Đề nghị Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính theo thẩm quyền nghiên cứu, sửa đổi nghị định, thông tư, quyết định của Bộ trưởng để thực hiện các phương án đơn giản hóa TTHC thuộc lĩnh vực phụ trách (văn bản cụ thể tại Phụ lục 1B). Đồng thời khẩn trương ban hành văn bản bãi bỏ 18 TTHC; sửa đổi, bổ sung 175 TTHC theo hướng đơn giản hóa hồ sơ, giấy tờ và giảm thời gian giải quyết TTHC trên các lĩnh vực, cụ thể là:

+ Trong lĩnh vực đất đai, đề nghị Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu bãi bỏ 02 TTHC; sửa đổi, bổ sung 10 TTHC theo hướng đơn giản hóa hồ sơ, giấy tờ và giảm thời gian giải quyết TTHC (nội dung cụ thể tại Phụ lục 2A).

+ Trong lĩnh vực nhà ở, xây dựng nhà ở, đề nghị Chính phủ, Bộ Xây dựng nghiên cứu bãi bỏ 01 TTHC; sửa đổi, bổ sung 15 TTHC theo hướng đơn giản hóa hồ sơ, giấy tờ và giảm thời gian giải quyết TTHC (nội dung cụ thể tại Phụ lục 2B). Đề nghị Chính phủ, UBND các cấp cần có chương trình, kế hoạch và tập trung chỉ đạo quyết liệt hơn đối với công tác xây dựng quy hoạch, đặc biệt là quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị và quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn phục vụ việc cấp GPXD theo quy định của pháp luật về đất đai và xây dựng. Ngoài ra, cần công khai các quy hoạch xây dựng và các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật, điều kiện bảo đảm an toàn, lộ giới giao thông, phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường… để mọi cá nhân, tổ chức căn cứ vào đó chủ động thực hiện, hạn chế tối đa các loại thủ tục gây khó khăn, phiền hà cho các chủ đầu tư trong việc xin cấp GPXD.

+ Trong lĩnh vực thuế, đề nghị Chính phủ, Bộ Tài chính nghiên cứu bãi bỏ 10 TTHC; sửa đổi, bổ sung 86 TTHC theo hướng đơn giản hóa hồ sơ, giấy tờ và giảm thời gian giải quyết TTHC (nội dung cụ thể tại Phụ lục 2C). Đề nghị Chính phủ nghiên cứu giảm tần suất kê khai thuế theo hướng phân loại đối tượng để thực hiện; mở rộng cơ chế tự khai, tự nộp đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh; đồng thời tăng cường công tác kiểm tra sau khi doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã tự khai, tự nộp; nghiên cứu thực hiện hoàn thuế đồng thời khi khai thuế đối với những trường hợp khấu trừ thuế; nghiên cứu việc thu thuế đối với hộ gia đình, cá nhân theo phương pháp ấn định thuế, miễn thu đối với hộ gia đình, cá nhân sản xuất kinh doanh nhỏ có mức thu nhập thấp; quy định cụ thể thời hạn truy thu thuế và biện pháp xử phạt khi truy thu thuế, bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật về hình sự và xử lý vi phạm hành chính. Đồng thời, đề nghị Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng áp dụng “chữ ký số” tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước trong việc khai, nộp thuế điện tử qua mạng; nghiên cứu việc xã hội hóa trong lĩnh vực cấp phép đối với đại lý thuế, chứng chỉ hành nghề dịch vụ về thuế.

+ Trong lĩnh vực hải quan, đề nghị Chính phủ, Bộ Tài chính nghiên cứu bãi bỏ 05 TTHC; sửa đổi, bổ sung 64 TTHC theo hướng đơn giản hóa hồ sơ, giấy tờ và giảm thời gian giải quyết TTHC (nưội dung cụ thể tại Phụ lục 2D). Đề nghị Chính phủ ban hành quy chế quản lý điều hành và phối hợp hoạt động của các ngành chức năng tại các cửa khẩu theo hướng giao một cơ quan chịu trách nhiệm thống nhất chỉ đạo hoạt động tại các cửa khẩu; nghiên cứu chuẩn hóa về tiêu chuẩn kỹ thuật, hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin và cơ sở hạ tầng tại các cửa khẩu đường bộ, cảng biển để thống nhất quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, phục vụ xây dựng Thương mại Quốc tế một cửa năm 2012 theo cam kết quốc tế.

Ngoài ra còn có những kiến nghị của các địa phương đối với những việc cụ thể, Ủy ban thường vụ Quốc hội sẽ chuyển đến các Bộ, ngành chức năng giải quyết theo thẩm quyền.

***

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Trên đây là Báo cáo kết quả giám sát việc cải cách TTHC trong các lĩnh vực đất đai; nhà ở, xây dựng nhà ở; thuế; hải quan. Ủy ban thường vụ Quốc hội kính trình Quốc hội xem xét, quyết định.

 

 

TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH




Uông Chu Lưu


[1] Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996) chỉ rõ “Thực hiện cải cách cơ bản các thủ tục hành chính, cả về thể chế và tổ chức thực hiện; loại bỏ những khâu bất hợp lý và phiền hà, ngăn chặn tệ cửa quyền, tham nhũng, hối lộ, vi phạm pháp luật”.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) khẳng định: “Tiếp tục thực hiện chủ trương cải cách thủ tục hành chính, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên của tất cả các cơ quan hành chính nhà nước các cấp. ng dụng công nghệ thông tin vào công tác cải cách hành chính”.

[2] Nghị quyết số 12/1997/QH10 ngày 12/12/1997 về nhiệm vụ năm 1998 xác định “Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, hoạt động theo quy định của Hiến pháp, pháp luật. Chú trọng cải cách TTHC theo hướng sát dân, sát cơ sở; xóa bỏ thủ tục quan liêu, phiền hà, tạo thuận lợi cho nhân dân”.

[3] Báo cáo số 82/BC-CP của Chính phủ ngày 16/6/2010 về việc thực hiện cải cách TTHC trên một số lĩnh vực liên quan trực tiếp đến công dân và doanh nghiệp theo Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, trang 4.

[4] Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 02/6/2010 về việc đơn giản hóa 258 TTHC thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ, ngành.

[5] Theo Báo cáo số 82/BC-CP của Chính phủ ngày 16/6/2010, số tiền tiết kiệm được cho người dân và doanh nghiệp khoảng 5.700 tỷ đồng/năm, trang 5.

[6] Ví dụ: sửa đổi việc thẩm định nhu cầu sử dụng đất được thực hiện ngay trong quá trình thực hiện thẩm định cấp giấy phép đầu tư.

[7] Việc tổ chức các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là quy định mới trong Luật Đất đai năm 2003.

[8] Trong 5 năm qua, số lượng GCN được cấp tăng nhiều so với 14 năm trước: đất lâm nghiệp tăng 58,6%; đất ở đô thị tăng 74,7%; đất ở nông thôn tăng 35,8%.

[9] Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về đầu tư xây dựng cơ bản; Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10 năm 2009 về cấp GCN quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

[10] Thống nhất thủ tục cấp GCN về một hệ thống cơ quan tài nguyên và môi trường.

[11] Trước đây, người sử dụng đất có nhu cầu cấp GCN quyền sở hữu công trình xây dựng hoặc đăng ký biến động về nhà, đất thì phải nộp hồ sơ 2 lần tại 2 hệ thống cơ quan khác nhau (là cơ quan quản lý xây dựng và cơ quan tài nguyên và môi trường).

[12] Luật đất đai chỉ quy định 2 căn cứ để giao đất, cho thuê đất nhưng Nghị định 181/2004/NĐ-CP lại bổ sung thêm căn cứ: việc chấp hành tốt pháp luật về đất đai của người xin giao đất, thuê đất. Quy định này đã làm phát sinh thêm thủ tục hành chính và trái với Luật đất đai nhưng đến năm 2009 mới được bãi bỏ bằng Nghị định số 69/2009/NĐ-CP

[13] Ví dụ: khi cấp GCN cho người đang sử dụng đất vẫn ký quyết định giao đất hoặc quyết định cấp GCN; trường hợp chuyển nhượng một phần thửa đất phải tách thửa trước khi làm hợp đồng chuyển nhượng và sau khi chuyển nhượng phải đăng ký và đổi lại GCN cho người nhận chuyển nhượng.

[14] Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, hiện có 130 đơn vị cấp huyện chưa có Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, riêng TP Hồ Chí Minh mới có 11/24 quận, huyện có Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.

[15] Khoản 4 Điều 50 của Luật Đất đai quy định: “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993, nay được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp GCN quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất. Tuy nhiên, điểm a khoản 1 Điều 14 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định: “Trường hợp đất có nhà ở thì người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích đất ở đang sử dụng nhưng diện tích không phải nộp tiền sử dụng đất không vượt quá hạn mức giao đất ở cho mỗi hộ gia đình, cá nhân theo quy định tại khoản 2 Điều 83 và khoản 5 Điều 84 của Luật Đất đai tại thời điểm cấp GCN quyền sử dụng đất; đối với diện tích đất ở ngoài hạn mức (nếu có) thì phải nộp tiền sử dụng đất ...”.

[16] Điều 32 của Luật Đất đai quy định: Việc quyết định giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được thực hiện sau khi có quyết định thu hồi đất đó”. Trong khi đó, khoản 1 Điều 31 của Nghị định 69/2009/NĐ-CP quy định: “Trường hợp thu hồi đất, giao đất hoặc cho thuê đất thuộc thẩm quyền của một cấp thì việc thu hồi đất và giao đất hoặc cho thuê đất được thực hiện trong cùng một quyết định.”

[17] Điều 42 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP quy định về quyền tự đầu tư trên đất đang sử dụng trong trường hợp đất thuộc diện thu hồi để đầu tư dự án có mục đích sản xuất, kinh doanh hoặc xây dựng kinh doanh nhà ở và giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn. Nhưng cho đến nay, hai bộ vẫn chưa ban hành được văn bản hướng dẫn.

[18] Đối với công trình thuộc các dự án của doanh nghiệp hoặc tư nhân, chủ đầu tư tự tổ chức thẩm đinh, phê duyệt. Các nội dung quản lý nhà nước sẽ được xem xét trong quá trình cấp GPXD.

[19] Theo Báo cáo số 29/BC-BXD ngày 14/5/2010 của Bộ Xây dựng, qua điều tra, khảo sát cho thấy số công trình được cấp GPXD (ở các địa phương được điều tra) trước năm 2003 chỉ đạt khoảng 60%; con số này năm 2005 đạt khoảng 70%; năm 2006 đạt khoảng 76%, năm 2007 đạt khoảng 79%, năm 2008 đạt 85,2 %, năm 2009 đạt 92 %.

[20] Theo Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ thì thời hạn hiệu lực để khởi công xây dựng công trình là 12 tháng kể từ ngày được cấp phép, nếu qua thời hạn này mà không khởi công xây dựng thì phải làm thủ tục xin gia hạn.

[21] Khoản 1 Điều 23 của Nghị định số 12/2009/NĐ-CP quy định: “UBND cấp tỉnh tổ chức cấp phép xây dựng đối với công trình xây dựng đặc biệt, cấp 1; công trình tôn giáo; … những công trình trên các tuyến, trục đường phố chính trong đô thị; …”. Quy định này áp dụng đối với cả trường hợp xin cấp GPXD đối với các công trình trong đô thị thuộc huyện là không phù hợp với thực tế ở địa phương, nhất là các tỉnh miền núi đi lại khó khăn.

[22] Khoản 5 Điều 5 của Thông tư số 12/2009/NĐ-CP quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình">03/2009/TT-BXD ngày 26/3/2009 của Bộ Xây dựng về giấy phép xây dựng tạm quy định: “phần xây dựng theo giấy phép xây dựng tạm thì không được bồi thường” khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất.

[23] Theo quy định trước đó, trong hồ sơ còn phải nộp thêm cả tờ khai, bảng kê hàng hóa dịch vụ bán ra, mua vào của các tháng đề nghị hoàn.

[24] Thời gian giải quyết hoàn thuế GTGT đối với trường hợp hoàn thuế trước kiểm tra sau từ 15 ngày rút xuống còn 08 ngày. Riêng hoàn thuế đối với hồ sơ có hàng hóa xuất khẩu, chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng giải quyết tạm hoàn 90% và không quá 4 ngày đối với 10% thuế GTGT còn lại.

Đã xem:

Đánh giá:  
 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 378/BC-UBTVQH12

Loại văn bản Văn bản khác
Số hiệu 378/BC-UBTVQH12
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành 18/10/2010
Ngày hiệu lực 18/10/2010
Ngày công báo ...
Số công báo
Lĩnh vực Bộ máy hành chính
Tình trạng hiệu lực Không xác định
Cập nhật 10 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 378/BC-UBTVQH12

Lược đồ Báo cáo 378/BC-UBTVQH12 thực hiện cải cách thủ tục hành chính


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

Văn bản liên quan ngôn ngữ

Văn bản sửa đổi, bổ sung

Văn bản bị đính chính

Văn bản được hướng dẫn

Văn bản đính chính

Văn bản bị thay thế

Văn bản hiện thời

Báo cáo 378/BC-UBTVQH12 thực hiện cải cách thủ tục hành chính
Loại văn bản Văn bản khác
Số hiệu 378/BC-UBTVQH12
Cơ quan ban hành Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
Người ký Uông Chu Lưu
Ngày ban hành 18/10/2010
Ngày hiệu lực 18/10/2010
Ngày công báo ...
Số công báo
Lĩnh vực Bộ máy hành chính
Tình trạng hiệu lực Không xác định
Cập nhật 10 năm trước

Văn bản thay thế

Văn bản được dẫn chiếu

Văn bản hướng dẫn

Văn bản được hợp nhất

Văn bản được căn cứ

Văn bản hợp nhất

Văn bản gốc Báo cáo 378/BC-UBTVQH12 thực hiện cải cách thủ tục hành chính

Lịch sử hiệu lực Báo cáo 378/BC-UBTVQH12 thực hiện cải cách thủ tục hành chính

  • 18/10/2010

    Văn bản được ban hành

    Trạng thái: Chưa có hiệu lực

  • 18/10/2010

    Văn bản có hiệu lực

    Trạng thái: Có hiệu lực