Chỉ thị 04/CT-UBND

Chỉ thị 04/CT-UBND năm 2012 thực hiện nhiệm vụ, giải pháp cấp bách để chấn chỉnh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai do tỉnh Gia Lai ban hành

Nội dung toàn văn Chỉ thị 04/CT-UBND 2012 chấn chỉnh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhà ở Gia Lai


ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI

-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 04/CT-UBND

Gia Lai, ngày 18 tháng 6 năm 2012

 

CHỈ THỊ

VỀ THỰC HIỆN MỘT SỐ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CẤP BÁCH ĐỂ CHẤN CHỈNH VIỆC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT VÀ XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐẤT ĐAI

Trong thời gian qua, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp để đẩy mạnh việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Nghị quyết số 07/2007/QH12 ngày 12 tháng 11 năm 2007 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2008; các địa phương đã tập trung chỉ đạo, đầu tư kinh phí đẩy mạnh thực hiện đo đạc lập bản đồ địa chính, cấp Giấy chứng nhận đã đạt được những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, kết quả này chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra, việc đăng ký, cấp Giấy chứng nhận một số loại đất còn chậm; số lượng Giấy chứng nhận đã ký chưa trao cho người được cấp ở một số địa phương còn tồn đọng nhiều; chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu đất đai; việc cập nhật, chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính chưa được thực hiện đầy đủ, thường xuyên theo quy định.

Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do thủ tục cấp Giấy chứng nhận ở một số địa phương chậm được cải cách, còn phiền hà, phức tạp, vượt quá thời gian quy định; việc đầu tư kinh phí đo đạc và đăng ký, cấp Giấy chứng nhận, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai của nhiều địa phương còn ít, địa bàn triển khai dàn trải nên việc đăng ký, cấp Giấy chứng nhận thực hiện chậm, việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai chưa thật sự được coi trọng và tập trung chỉ đạo thực hiện; hệ thống Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất các cấp, nhất là ở cấp huyện còn hạn chế năng lực do thiếu cán bộ và các trang thiết bị làm việc cần thiết theo yêu cầu nhiệm vụ được giao; một số quy định về nghĩa vụ tài chính khi cấp Giấy chứng nhận chưa phù hợp thực tế; tình trạng nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục cấp Giấy chứng nhận chưa giảm, gây nhiều bức xúc trong dư luận; tình trạng vi phạm pháp luật đất đai và pháp luật xây dựng còn phổ biến; ý thức chấp hành pháp luật trong việc đăng ký đất đai của các tổ chức, cá nhân sử dụng đất chưa nghiêm, nhất là các cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất.

Để khắc phục những hạn chế, yếu kém trên đây nhằm xây dựng hệ thống quản lý đất đai có nền nếp, ổn định, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm công bằng, minh bạch trong các quan hệ về sử dụng đất đai và sở hữu tài sản gắn liền với đất, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu:

1. UBND các huyện, thị xã, thành phố có trách nhiệm:

- Tập trung chỉ đạo đẩy mạnh việc cấp Giấy chứng nhận ở địa phương, nhất là khu vực đô thị, nơi có nhiều giao dịch về đất đai, trên cơ sở đó tiến hành thanh tra, kiểm tra xử lý các trường hợp vi phạm về sử dụng đất, đặc biệt là sử dụng đất không đúng mục đích, xây dựng các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên đất nông nghiệp.

- Việc đầu tư cho công tác đo đạc, đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai và đăng ký biến động, chỉnh lý hồ sơ địa chính thường xuyên thực hiện theo Chỉ thị số 1474/CT-TTg ngày 24/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ.

- Chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn cấp huyện kiểm tra, rà soát lập kế hoạch kinh phí, diện tích và khu vực cần đo đạc lập bản đồ địa chính mới, đo đạc chỉnh lý, bổ sung phục vụ công tác cấp Giấy chứng nhận, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai cho từng xã cụ thể, theo nguyên tắc đo vẽ bản đồ địa chính xong phải thực hiện ngay việc đăng ký, cấp Giấy chứng nhận và xây dựng hồ sơ địa chính; không tiến hành lập mới dự án đo vẽ bản đồ địa chính nếu địa phương vẫn còn xã có bản đồ địa chính mà chưa thực hiện xong việc đăng ký, cấp Giấy chứng nhận và xây dựng hồ sơ địa chính thống nhất cho từng địa bàn cấp xã.

- Chỉ đạo rà soát, thống kê toàn bộ hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận và hồ sơ đăng ký biến động đất đai đã tiếp nhận chưa giải quyết, số Giấy chứng nhận đã ký chưa cấp, tập trung lực lượng giải quyết dứt điểm không để tình trạng người sử dụng đất có yêu cầu hợp pháp nhưng không được cấp Giấy chứng nhận.

- Rà soát, kiểm tra những trường hợp sử dụng đất có nguồn gốc vi phạm pháp luật đất đai còn tồn đọng, phức tạp; những khó khăn vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tính phổ biến vượt quá thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện thì tổng hợp, đề xuất hướng giải quyết gửi về UBND tỉnh (thông qua sở Tài nguyên và Môi trường) để xem xét ban hành quy định giải quyết dứt điểm nhằm lập hồ sơ quản lý.

- Rà soát sửa đổi các thủ tục liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại địa phương để đảm bảo đúng quy định hiện hành. Trong đó đặc biệt chú trọng việc cải cách thủ tục hành chính theo hướng “một cửa”, không được yêu cầu người sử dụng đất nộp thêm các loại giấy tờ hoặc các khoản phí mà Luật, các Nghị định và Thông tư hướng dẫn không quy định nhằm rút ngắn thời gian thực hiện và công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để người dân thực hiện, giám sát; đồng thời, thông báo số điện thoại nóng để người dân phản ánh tình hình.

- Kiện toàn Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất bảo đảm có đủ cán bộ công chức, kinh phí và các trang thiết bị làm việc cần thiết để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật đất đai. Đối với các địa bàn có nhu cầu cấp Giấy chứng nhận và đăng ký biến động đất đai lớn mà Văn phòng đăng ký cấp huyện chưa đáp ứng được thì báo cáo Sở Nội vụ, Sở Tài nguyên và Môi trường để đề xuất UBND tỉnh có biện pháp giải quyết, thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân. Tăng cường trách nhiệm của Giám đốc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trong việc triển khai thực hiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và việc cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính và xử lý theo thẩm quyền quy định.

- Phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức đào tạo, nâng cao trình độ năng lực của cán bộ, công chức quản lý đất đai, bảo đảm tính ổn định, chuyên nghiệp, đặc biệt là cán bộ địa chính cấp xã và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất; xây dựng, ban hành quy định về công khai thủ tục hành chính, thái độ, tác phong làm việc của cán bộ, công chức làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận

2. Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm:

- Chủ trì phối hợp cùng Sở kế hoạch và đầu tư, Tài chính, Xây dựng, Nội vụ nghiên cứu, đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách để chấn chỉnh việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai báo cáo UBND tỉnh xem xét chỉ đạo nhằm triển khai thực hiện tốt Chỉ thị 1474/CT-TTg ngày 24/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ.

- Tổ chức triển khai dự án xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu quản lý đất đai giai đoạn 2009-2015. Trên cơ sở kế hoạch của cấp huyện, kinh phí của tỉnh, kinh phí hỗ trợ từ trung ương lập kế hoạch cụ thể cho từng huyện, xã nhằm triển khai công tác đo đạc lập bản đồ địa chính, cấp Giấy chứng nhận, xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu quản lý đất đai.

- Tổ chức kiểm tra việc thực hiện thủ tục liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng hồ sơ địa chính tại các huyện, thị xã, thành phố để đảm bảo đúng quy định hiện hành (đặc biệt là việc yêu cầu ngươi sử dụng đất nộp thêm các loại giấy tờ hoặc thực hiện thêm các thủ tục mà Luật, các Nghị định và Thông tư hướng dẫn không quy định).

- Tổng hợp tình hình, báo cáo kết quả thực hiện Chỉ thị này theo định kỳ 6 tháng, hàng năm về UBND tỉnh để báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường theo quy định.

3. Sở Tài chính có trách nhiệm:

- Đề xuất việc cân đối, bố trí cho công tác đo đạc, đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai và đăng ký biến động, chỉnh lý hồ sơ địa chính thường xuyên thực hiện theo Chỉ thị số 1474/CT-TTg ngày 24/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ.

Các Sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố và các đơn vị liên quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ thị này./.

 


Nơi nhận:

- Thường trực Tỉnh ủy (b/c);
-
Thường trực HĐND tỉnh;
-
Các sở, ban, ngành ca tỉnh;
-
UBND các huyện, thành phố, thị xã;
-
Lưu VT, NC, NL, KTTH, CNXD.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH




Đào Xuân Liên

 

Đã xem:

Đánh giá:  
 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 04/CT-UBND

Loại văn bảnChỉ thị
Số hiệu04/CT-UBND
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành18/06/2012
Ngày hiệu lực18/06/2012
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcBất động sản
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực
Cập nhật9 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 04/CT-UBND

Lược đồ Chỉ thị 04/CT-UBND 2012 chấn chỉnh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhà ở Gia Lai


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Chỉ thị 04/CT-UBND 2012 chấn chỉnh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhà ở Gia Lai
                Loại văn bảnChỉ thị
                Số hiệu04/CT-UBND
                Cơ quan ban hànhTỉnh Gia Lai
                Người kýĐào Xuân Liên
                Ngày ban hành18/06/2012
                Ngày hiệu lực18/06/2012
                Ngày công báo...
                Số công báo
                Lĩnh vựcBất động sản
                Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực
                Cập nhật9 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản được căn cứ

                    Văn bản hợp nhất

                      Văn bản gốc Chỉ thị 04/CT-UBND 2012 chấn chỉnh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhà ở Gia Lai

                      Lịch sử hiệu lực Chỉ thị 04/CT-UBND 2012 chấn chỉnh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhà ở Gia Lai

                      • 18/06/2012

                        Văn bản được ban hành

                        Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                      • 18/06/2012

                        Văn bản có hiệu lực

                        Trạng thái: Có hiệu lực