Chỉ thị 22/2006/CT-UBND

Chỉ thị 22/2006/CT-UBND giải pháp cần tập trung chỉ đạo trong những tháng cuối năm để phấn đấu hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2006 do Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ban hành

Nội dung toàn văn Chỉ thị 22/2006/CT-UBND giải pháp cần tập trung chỉ đạo trong những tháng


ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 22/2006/CT-UBND

Mỹ Tho, ngày 13 tháng 9 năm 2006

 

CHỈ THỊ

VỀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẦN TẬP TRUNG CHỈ ĐẠO TRONG NHỮNG THÁNG CUỐI NĂM ĐỂ PHẤN ĐẤU HOÀN THÀNH KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2006

Ngày 07 tháng 8 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 27/2006/CT-TTg về một số giải pháp cần tập trung chỉ đạo trong những tháng cuối năm nhằm phấn đấu hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2006. Để thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu Thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã tập trung thực hiện ngay trong những tháng cuối năm 2006 những công việc sau:

1. Các ngành, các địa phương khẩn trương rà soát các nhiệm vụ được giao trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2006 (Báo cáo số 106/BC-UBND ngày 22/11/2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh), trong Chương trình hành động của UBND tỉnh thực hiện Nghị quyết số 01/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành kèm theo Quyết định số 08/2006/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh và trong các thông báo ý kiến kết luận của lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh tại các cuộc hội nghị, hội thảo, nhất là Thông báo số 50/TB-UBND ngày 05/7/2006 về ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tại Hội nghị sơ kết nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2006, nhằm đánh giá lại kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo trong thời gian tới, đồng thời xác định rõ các nhiệm vụ, giải pháp để tập trung giải quyết dứt điểm những mặt tồn tại, yếu kém, nhất là những vướng mắc về giải phóng mặt bằng, thuế, thanh quyết toán khối lượng xây dựng công trình, vấn đề địa phương và doanh nghiệp trong bối cảnh hậu WTO, đẩy mạnh việc thực hiện xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa, xã hội, cải cách hành chính...

2. Triển khai thực hiện Chương trình hành động của UBND tỉnh về thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ban hành kèm theo Quyết định số 14/2006/QĐ-UBND ngày 20/3/2006 và Chương trình hành động của UBND tỉnh về thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng ban hành kèm theo Quyết định số 19/2006/QĐ-UBND ngày 04/5/2006, trong đó cần chú trọng việc quản lý và sử dụng vốn, tài sản nhà nước, việc mua sắm và sử dụng phương tiện đi lại, việc tổ chức các đoàn đi giao lưu, tham quan, du lịch trong và ngoài nước; thực hiện nghiêm quy định về chế độ họp trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh Tiền Giang ban hành kèm theo Quyết định số 44/QĐ-UBND ngày 30/8/2006 của UBND tỉnh và Chỉ thị số 26/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính về việc nghiêm cấm dùng công quỹ làm quà biếu và chiêu đãi khách sai quy định.

3. Về hoạt động kinh tế đối ngoại:

- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thâm nhập thị trường mới, nhất là thị trường Hoa Kỳ với các mặt hàng may mặc, thủ công mỹ nghệ, thủy sản. Chú trọng các thị trường Nhật Bản, Trung Quốc về tiêu thụ hàng nông sản, thủy sản.

- Tiếp tục nghiên cứu xây dựng định hướng phát triển đối với một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh như hàng nông sản, thủy sản, may mặc, chế biến rau quả; thực hiện chiến lược phát triển sản xuất tạo ra sản phẩm xuất khẩu; phát triển phải đi vào chiều sâu nhằm nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu.

- Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thi công và hoàn thành cơ bản các công trình, dự án “Giao thông nông thôn - năm thứ 3” - WB2, dự án “Y tế nông thôn” - ADB, dự án “Thủy lợi Ông Mười - Bà Trà”. Tổ chức triển khai thực hiện dự án Bến tàu thủy du lịch thành phố Mỹ Tho, dự án cải thiện môi trường thành phố Mỹ Tho - ADB; dự án Chăm sóc sức khoẻ sinh sản - UNFPA chu kỳ 7.

- Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, giám sát việc triển khai thực hiện các công trình, dự án của các đơn vị thi công; công tác chuẩn bị thực hiện dự án và nghiệm thu thanh toán từng hạng mục công trình để giải ngân tốt nguồn vốn ODA. Ưu tiên bố trí vốn đối ứng cho các chương trình, dự án ODA theo cam kết để góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân tốt nguồn vốn ODA.

- Các ngành, các đơn vị có liên quan và các Ban quản lý dự án Trung ương cần phối hợp chặt chẽ để giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc, nhằm đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân tốt nguồn vốn ODA.

- Tiếp tục xử lý, thu hồi giấy phép, chấm dứt hoạt động đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và chi nhánh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh không triển khai thực hiện Giấy phép đầu tư theo văn bản số 3482/BKH-ĐTNN ngày 17 tháng 5 năm 2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Đồng thời, theo dõi, nắm tình hình và kịp thời hỗ trợ các doanh nghiệp khắc phục khó khăn để ổn định và phát triển sản xuất.

- Tham gia hội thảo về xúc tiến đầu tư do Trung tâm Đầu tư nước ngoài - phía Nam tổ chức và đẩy mạnh công tác xúc tiến, kêu gọi nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào khu công nghiệp Tân Hương. Triển khai thực hiện Luật Đầu tư đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài.

4. Sở Kế hoạch và Đầu tư:

- Phối hợp Viện Chiến lược phát triển và Vụ Thẩm định - Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhanh chóng hoàn thiện quy hoạch tổng thể tỉnh và báo cáo với Hội đồng thẩm định nhà nước để hoàn chỉnh trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, làm cơ sở để xây dựng quy hoạch sử dụng đất và các quy hoạch chi tiết khác.

Sau khi quy hoạch tổng thể tỉnh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, các ngành, các địa phương phải tiến hành ngay việc rà soát, hiệu chỉnh các quy hoạch thuộc lĩnh vực ngành, địa phương quản lý, đồng thời cụ thể hóa các nội dung của quy hoạch vào các kế hoạch, chương trình, dự án ưu tiên đầu tư. Trong quá trình thực hiện phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành và địa phương với nhau, và phải gắn kết với định hướng phát triển lâu dài của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Vùng đồng bằng sông Cửu Long. Các ngành cần chủ động tổ chức các cuộc hội thảo chuyên đề, mời các nhà khoa học tham gia để tìm những giải pháp phát triển một cách cụ thể, chuyên sâu về lĩnh vực mình phụ trách để có kế hoạch phát triển ổn định, bền vững.

- Đẩy nhanh việc chuyển đổi các công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Hướng dẫn các công ty cổ phần thực hiện việc bán tiếp phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

- Về đầu tư, xây dựng cơ bản, chủ trì phối hợp cùng các ngành liên quan:

+ Tích cực huy động các nguồn để giảm bớt mất cân đối vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2006, đặc biệt là nguồn tiền sử dụng đất. Tranh thủ các nguồn vốn bổ sung của Trung ương cho một số chương trình, dự án như đường ô tô đến trung tâm xã; chống sạt lở bờ sông, bờ biển; đầu tư xử lý rác thải ở khu vực Gò Công, dự án cung cấp nước cho các huyện phía Đông; tranh thủ Trung ương đầu tư qua các bộ các công trình Trung ương quản lý, đầu tư trên địa bàn tỉnh; kêu gọi, vận động các nguồn vốn khác như ODA, các tổ chức, cá nhân trong ngoài tỉnh, nhân dân đóng góp... đưa vào đầu tư xây dựng cơ bản.

+ Tiến hành rà soát lại danh mục công trình đã được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua, kiến nghị triển khai các công trình theo thứ tự ưu tiên.

+ Khắc phục các khó khăn yếu kém trong công tác huy động và thực hiện vốn xây dựng cơ bản trong thời gian qua như giải quyết dứt điểm vướng mắc về đền bù, giải toả, tăng cường công tác quyết toán vốn đầu tư, thực hiện tốt công tác đấu thầu, chỉ định thầu, thành lập tổ chức tư vấn quản lý dự án, giám sát kỹ thuật độc lập, khắc phục những tồn tại trong công tác lập dự án đầu tư, thực hiện phân cấp hơn nữa cho các địa phương, quản lý giá xây dựng theo thị trường...

+ Tăng cường tiếp cận các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế để nắm bắt nhu cầu, định hướng đầu tư, tìm kiếm các dự án thuộc đối tượng cho vay tín dụng đầu tư của nhà nước để bổ sung vào kế hoạch hỗ trợ phát triển năm 2006. Tiếp cận, đàm phán với các tổ chức có nguồn vốn nhàn rỗi để huy động bổ sung nguồn vốn nhằm chủ động hơn trong việc thực hiện cho vay, tạo động lực thúc đẩy mạnh mẽ đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh.

5. Sở Tài chính:

- Có kế hoạch và phối hợp chặt chẽ với ngành liên quan để có biện pháp chống thất thu thuế và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước, đảm bảo đạt chỉ tiêu thu trong năm 2006. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong việc chi ngân sách nhà nước.

- Kiểm soát chặt chẽ các yếu tố hình thành giá vật tư, hàng hóa thiết yếu, theo dõi sát với những diễn biến của thị trường và dự báo biến động giá, nhất là vào dịp lễ, Tết, các công trình xây dựng cơ bản ở giai đoạn hoàn tất, tránh gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế và đời sống, xã hội của địa phương.

6. Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Thương mại - du lịch: phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng UBND tỉnh cùng các ngành có liên quan rà soát lại một số dự án để chuẩn bị tổ chức công tác xúc tiến đầu tư tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Công tác xúc tiến phải cụ thể và có trọng điểm, phải xác định rõ về yêu cầu kêu gọi đầu tư của từng loại dự án, về từng vấn đề cụ thể, về địa điểm và chi phí. Đặc biệt quan tâm đến một số dự án quan trọng như Khu công nghiệp Tân Hương, các cụm công nghiệp, dự án cấp nước từ Mỹ Tho đến các huyện phía Đông, dự án về xử lý nước thải, rác thải và du lịch.

7. Sở Giao thông Vận tải: phối hợp cùng các ngành liên quan chủ động có kế hoạch phối hợp triển khai một số dự án lớn của Trung ương trên địa bàn tỉnh như Quốc lộ 60, Quốc lộ 50 và cầu Mỹ Lợi. Cần lưu ý trong việc gắn kết các dự án với công tác quy hoạch theo mô hình gắn quy hoạch vùng công nghiệp với dịch vụ và đô thị.

8. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:

a) Về sản xuất nông nghiệp, phối hợp các địa phương trong việc chăm sóc, phòng trị các loại dịch hại trên lúa, rau màu; thường xuyên theo dõi, áp dụng mọi biện pháp phòng, chống để ngăn chặn có hiệu quả các loại dịch bệnh xảy ra trên gia súc, gia cầm... Tổ chức thực hiện tốt việc trồng rừng tập trung, quản lý, bảo vệ tốt rừng hiện có; đồng thời, tập trung hoàn chỉnh việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng trên địa bàn tỉnh.

Thường xuyên kiểm tra các công trình thủy lợi, tu bổ các công trình, nhất là các cống, đê bao, đồng thời tiếp tục phát động nhân dân nạo vét khơi thông dòng chảy trên các tuyến kinh, nhằm phòng chống lũ lụt và triều cường. Chăm sóc, thu hoạch vụ hè - thu chính vụ để né lũ ở những vùng chưa có đê bao.

b) Về phát triển nông thôn:

- Thủy lợi: khẩn trương huy động lao động, nạo vét kinh mương nội đồng để kịp phục vụ tưới tiêu. Thi công dứt điểm các công trình thuộc nguồn vốn thủy lợi phí. Thường xuyên theo dõi thông báo kịp thời diễn biến mực nước, nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại do khô hạn, ngập úng, lũ lụt, bảo vệ sản xuất và tài sản nhân dân.

- Về phát triển lưới điện: Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình đã được duyệt, hoàn thành công trình trong những tháng cuối năm 2006, các huyện thi công hoàn thành công trình điện hạ thế năm 2005... đảm bảo chỉ tiêu hộ có điện sử dụng và hộ sử dụng điện kế chính đạt và vượt kế hoạch đề ra. Hoàn thành việc bàn giao lưới điện cho Công ty Điện lực II.

- Về giao thông nông thôn: Nhanh chóng thi công hoàn thành các công trình đã có đủ hồ sơ dự toán, ưu tiên địa bàn vùng lũ. Tiếp tục phát động phong trào huy động vốn trong dân đầu tư xây dựng giao thông nông thôn theo tinh thần Chỉ thị 05/2004/CT.UB của UBND tỉnh. Khẩn trương hoàn thành các công trình từ nguồn vốn Trung ương Đoàn. Tổng kết 3 năm thực hiện phân cấp đầu tư cho xã, rút kinh nghiệm xây dựng cơ chế đầu tư giao thông nông thôn giai đoạn 2007 - 2010.

- Về nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn: Đẩy nhanh tiến độ thi công xây dựng các công trình chuyển tiếp. Triển khai thi công các công trình thuộc vốn chương trình mục tiêu.

- Đầu tư cụm, tuyến dân cư: Tập trung hoàn thành phần san nền và cơ sở hạ tầng các cụm dân cư còn lại, cùng các tuyến đê bao dân cư mới bổ sung. Tập trung công tác tổ chức bình xét, phân lô và bố trí dân cư vào trong các cụm nhằm giúp cho người dân có nơi cư trú an toàn trong mùa mưa lũ năm 2006. Phấn đấu hoàn thành các công trình, dự án cụm tuyến dân cư vượt lũ của tỉnh trong năm 2006 theo đúng tiến độ đề ra.

9. Sở Thủy sản: tiếp tục tăng cường công tác tập huấn, hội thảo kỹ thuật, kiểm tra, xử lý bệnh đối với thủy sản nuôi đặc biệt là bệnh tôm sú, cá nuôi. Xây dựng và nhân rộng các điểm trình diễn, mô hình điểm về nuôi thủy sản đạt hiệu quả cao; tiếp tục hỗ trợ ngư dân chuyển đổi, phát triển các nghề khai thác mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Vận động thành lập các mô hình kinh tế hợp tác trên lĩnh vực nuôi và khai thác thủy sản. Đẩy mạnh các hoạt động nuôi trồng thủy sản, nhất là việc nuôi cá nước ngọt. Trong đó, tập trung qui hoạch vùng nuôi cá đăng quầng trên sông Tiền và nuôi cá trong ao theo công nghệ cao, kiểm soát dịch bệnh. Tuyên truyền, cấp phát tài liệu bướm và kiểm tra công tác phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn cho các tàu cá trong mùa mưa bão.

10. Sở Công nghiệp: triển khai thực hiện Chương trình hỗ trợ phát triển các sản phẩm chủ lực giai đoạn 2006-2010 phù hợp với quy hoạch của tỉnh và vùng. Tiến hành khảo sát tình hình hoạt động của các cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh để nắm được khó khăn, đề ra kế hoạch hỗ trợ cho các cơ sở.

11. Sở Thương mại - Du lịch:

- Tiếp tục thực hiện Chương trình hợp tác kinh tế giữa tỉnh với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trong lĩnh vực thương mại, du lịch. Có giải pháp thu hút các đối tác vào Trung tâm thương mại trái cây Hoà Khánh để khai thác có hiệu quả. Tiếp tục theo dõi tiến độ xây dựng Trung tâm Thông tin du lịch và 2 cầu tàu du lịch nhỏ ở Cái Bè.

- Phối hợp Trung tâm Xúc tiến Đầu tư và Thương mại-du lịch tăng cường công tác xúc tiến thương mại và du lịch cả về nguồn nhân lực, kinh phí và cơ sở vật chất kỹ thuật để tổ chức các hoạt động cung cấp thông tin thương mại, du lịch và thị trường.

- Tăng cường quảng bá sản phẩm của tỉnh như trái cây, hàng thủ công mỹ nghệ nhằm mở rộng thị trường tham gia các hình thức hội chợ; triển lãm trong và ngoài nước, thiết lập hệ thống phân phối tại một số thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh. Phát triển xuất khẩu trái cây tươi, hàng thủ công mỹ nghệ sang thị trường EU.

Các ngành, địa phương cần chủ động chuẩn bị khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), đặc biệt là vấn đề xây dựng thương hiệu cho nông sản, sản phẩm của tỉnh.

12. Sở Bưu chính, Viễn thông: mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động các điểm bưu điện văn hóa xã. Tiếp tục đầu tư mở rộng dung lượng cho các đài, trạm viễn thông trong tỉnh, đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng về lắp mới điện thoại.

13. Sở Giáo dục và Đào tạo:

- Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị phục vụ thay sách lớp 5 và lớp 10. Phối hợp các địa phương đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình kiên cố hóa trường học để kịp đưa vào sử dụng trong năm học mới.

- Các địa phương tiếp tục huy động hết số trẻ 5 tuổi chưa học mẫu giáo ra học các lớp mẫu giáo 36 buổi trong hè. Năm học 2006 - 2007, phấn đấu huy động hết số trẻ 6 tuổi vào lớp 1 và số trẻ trong độ tuổi đã bỏ học đến các lớp phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

- Kiểm tra, chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện để làm việc với Bộ Giáo dục và Đào tạo về kiểm tra công nhận Tiền Giang đạt chuẩn về phổ cập trung học cơ sở.

- Tổng kết công tác xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia và tổ chức các lớp học 2 buổi/ngày nhằm tìm ra các giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện trong thời gian tới.

- Tập trung đầu tư, xây dựng các trường trung học phổ thông (THPT) Thiên Hộ Dương, THPT Nguyễn Văn Tiếp, THPT Tân Phước, THPT Dưỡng Điềm, THPT Long Bình và hoàn thành hồ sơ đầu tư các trường THPT Phước Thạnh.

Trường Đại học Tiền Giang tập trung xây dựng và triển khai kế hoạch năm học mới 2006-2007; kiểm điểm các công việc đã đạt được sau 1 năm thành lập trường; củng cố nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, chất lượng đào tạo; đề xuất các giải pháp đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở Trường Đại học Tiền Giang theo kế hoạch. Chú ý tập trung cho công tác tuyển sinh năm đầu tiên của Trường và thực hiện xét tuyển hệ trung cấp nghiêm túc, đúng quy chế.

Trường Chính trị tỉnh thực hiện công tác đào tạo bồi dưỡng, khai giảng, bế giảng các lớp theo kế hoạch, tổ chức hội giảng ở các khoa; tổ chức nghiệm thu các đề tài nghiên cứu khoa học của nhà trường.

14. Sở Y tế:

- Tiếp tục theo dõi tình hình phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết, cúm A H5N1, bệnh Rubella; tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và nhiễm HIV/AIDS. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở các tuyến. Đẩy mạnh công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em, các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình. Phấn đấu giảm 5 tai biến sản khoa, giảm tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ em dưới 1 tuổi. Tiếp tục thực hiện Chính sách quốc gia về thuốc. Triển khai chiến lược phát triển ngành Dược Việt Nam.

- Các bệnh viện tiếp tục thực hiện dự án “Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh” đẩy mạnh công tác chỉ đạo tuyến. Xây dựng và hoàn chỉnh đề án tổ chức lại đơn vị sự nghiệp và phương án sắp xếp tổ chức bộ máy ngành y tế theo Thông tư liên tịch số 11/2005/TTLT-BNV-BYT ngày 12/4/2005; triển khai Quyết định 276/2005/QĐTTg và Thông tư liên tịch số 02/2006/TTLĐ-BTC-BNV về phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với cán bộ, viên chức tại các cơ sở y tế của nhà nước; tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng nâng cao về chất và tinh thần phục vụ.

- Tăng cường công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường và an toàn lao động.

- Đẩy mạnh công tác hợp tác quốc tế các dự án: Dự án y tế nông thôn, Dự án sức khỏe sinh sản do UNFPA tài trợ, dự án phòng chống HIV/AIDS do tổ chức LIFE-GAP tài trợ, dự án phòng chống tác hại thuốc lá do tổ chức Rockerfller tài trợ, dự án đổi mới công tác quản lý các dịch vụ khám chữa bệnh, đặc biệt là khám bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi do UNICEF tài trợ...

15. Sở Lao động, Thương binh và Xã hội:

- Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin tuyển dụng lao động và đào tạo nghề trên các phương tiện thông tin đại chúng; tăng cường công tác tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động. Tổ chức Hội chợ việc làm của tỉnh thứ lần 3.

- Hướng dẫn các huyện tuyên truyền và tổ chức dạy nghề ở các làng nghề và dạy nghề cho lao động nông thôn.

- Đẩy nhanh tiến độ huy động lao động công ích để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn và các công trình phúc lợi công cộng; công tác vận động quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, xây dựng nhà tình nghĩa... để thực hiện các chính sách hỗ trợ nâng cao mức sống cho đối tượng chính sách.

16. Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em:

- Có kế hoạch chuẩn bị tham gia Trại hè trẻ em liên tỉnh tại An Giang.

- Tiếp tục thực hiện dự án VIE/01/07 (chu kỳ II) nâng cao chất lượng và sử dụng dịch vụ sức khỏe sinh sản do UNFPA tài trợ về truyền thông thay đổi hành vi dân số/sức khỏe sinh sản. Phối hợp với đoàn Interplast chữa trị cho các em khuyết tật; đưa trẻ em lang thang về nhà và trẻ em không nơi nương tựa về các mái ấm.

- Triển khai Chiến dịch Tăng cường vận động lồng ghép dịch vụ sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia đình đến vùng có mức sinh cao, vùng khó khăn.

- Tiếp tục vận động Quỹ Bão trợ trẻ em từ tỉnh đến cơ sở đạt chỉ tiêu kế hoạch năm.

17. Văn hoá Thông tin, Phát thanh Truyền hình, Thể dục Thể thao:

a) Sở Văn hoá Thông tin: tập trung tuyên truyền cổ động trực quan, tổ chức hoạt động văn hóa - văn nghệ, biểu diễn nghệ thuật phục vụ các ngày lễ lớn. Tổ chức liên hoan, hội thi, hội diễn cấp tỉnh năm 2006. Xây dựng chương trình tham gia liên hoan toàn quốc về băng đĩa hình thông tin lưu động, kịch ngắn không chuyên... Quy hoạch hoạt động karaoke và hoạt động quảng cáo theo chỉ đạo của Bộ Văn hóa-Thông tin. Triển khai xây dựng tượng đài Anh hùng dân tộc Trương Định; công trình di tích văn hoá Óc Eo-Gò Thành; Bia chiến thắng Ngã sáu; Tượng đài chiến thắng Cổ Cò... Trùng tu, bảo quản tốt các công trình văn hóa, lịch sử.

b) Đài Phát thanh Truyền hình tăng cường cải tiến nội dung, chương trình đảm bảo thông tin nhanh, đạt chất lượng, trong đó, quan tâm phát hiện những mô hình sản xuất, kinh doanh giỏi, những ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất trên mọi lĩnh vực để nhân rộng. Chú ý xây dựng các chương trình tuyên truyền pháp luật và các chủ trương, chính sách mới phục vụ sản xuất và đời sống. Phối hợp tốt với các ngành chức năng trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

c) Sở Thể dục Thể thao tổ chức tuyển chọn, chuẩn bị lực lượng tham gia Đại hội thể dục thể thao toàn quốc lần V năm 2006; đội bóng đá U19 tập huấn tham gia Giải bóng đá Thanh Niên năm 2006. Duy trì công tác huấn luyện, đào tạo các lớp năng khiếu tập trung và đào tạo vận động viên theo kế hoạch. Củng cố, nâng cao các phong trào thể dục, thể thao, rèn luyện thân thể từ tỉnh đến cơ sở.

18. Sở Khoa học và Công nghệ: tổ chức xét duyệt đề cương các đề tài còn lại theo kế hoạch năm 2006, đôn đốc, kiểm tra tiến độ các đề tài chuyển tiếp, nghiệm thu các đề tài đến hạn đưa vào ứng dụng; tiếp tục hỗ trợ các cơ quan hành chính và các doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng; kiểm định các phương tiện đo, thanh tra đo lường và chất lượng hàng hóa; triển khai các hoạt động nghiên cứu ứng dụng và dịch vụ khoa học công nghệ; thực hiện các dự án hợp tác quốc tế.

19. Sở Tài nguyên và Môi trường:

- Hoàn thành công tác đo đạc lập hồ sơ địa chính và tổ chức đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các xã thuộc Chợ Gạo và Gò Công Tây.

- Hoàn chỉnh việc nhận đất quốc phòng bàn giao cho tỉnh.

- Tiếp tục lập quy hoạch sử dụng đất cho các xã đã triển khai, lập kế hoạch sử dụng đất cho các huyện, thị, thành, chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính tại Tân Phước và Gò Công Đông.

- Giải quyết tiếp các hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, các hồ sơ về tài nguyên nước, khoáng sản và môi trường.

- Tiếp tục tổ chức thanh tra, giải quyết khiếu nại về lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

- Kiểm tra khắc phục yếu kém sai phạm trong quản lý đất đai của các huyện, thành, thị theo Chỉ thị 05/2006/TTg của Thủ tướng Chính phủ và triển khai Luật Bảo vệ Môi trường cùng các văn bản dưới luật.

20. Sở Tư pháp:

Nâng cao chất lượng thẩm định văn bản quy phạm pháp luật của địa phương, đảm bảo văn bản quy phạm pháp luật ban hành kịp thời, đúng tiến độ theo kế hoạch đề ra. Tổ chức triển khai các văn bản luật mới ban hành, đặc biệt tập trung tuyên truyền, phổ biến Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Chương trình hành động của Chính phủ, của Tỉnh ủy và UBND tỉnh thực hiện các luật trên. Kiểm tra các sở ngành, địa phương triển khai và tổ chức thực hiện Quyết định 212/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình hành động quốc gia phổ biến giáo dục pháp luật cho cán bộ, nhân dân xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến 2010. Tổ chức sơ kết 2 năm thực hiện cải cách hành chính theo cơ chế một cửa trong lĩnh vực công chứng, hộ tịch. Củng cố và kiện toàn để nâng cao hiệu quả hoạt động Hội đồng phổ biến giáo dục pháp luật cấp huyện. Tập trung rà soát, phân loại chính xác các loại án, kiên quyết thi hành những vụ, việc có điều kiện thi hành, giảm mạnh các vụ việc tồn đọng. Tổ chức triển khai các văn bản của Trung ương liên quan đến công tác tư pháp.

21. Sở Nội vụ:

- Khẩn trương thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh tại văn bản số 4683/UBND-CN ngày 25/8/2006 về việc chuẩn bị thành lập huyện mới ở cù lao Lợi Quan như thành lập Ban chỉ đạo, tổ công tác giúp việc Ban chỉ đạo...

- Tiếp tục tổ chức thực hiện Đề án sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế hành chính sự nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 7 khoá VIII Ban Chấp hành Trung ương, Quyết định 207/2000/QĐ-TTg Nghị quyết 16/NQ-CP Nghị quyết 09/NQ-CP.

- Ban hành quyết định về việc bổ sung các chức danh cán bộ không chuyên trách của xã, phường, thị trấn.

- Phê duyệt và triển khai thực hiện hệ thống quy trình thủ tục hành chính ba cấp trên địa bàn tỉnh; tiếp tục mở rộng cơ chế tự chủ về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp theo Nghị định 10/NĐ-CP.

22. Công an tỉnh:

Tập trung chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 08, Nghị quyết 21 của Bộ Chính trị. Bảo vệ tuyệt đối an toàn các ngày lễ lớn trong năm 2006; Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14. Tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự năm 2006 và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 40 của Bộ Chính trị về nâng cao chất lượng hiệu quả công tác công an trong tình hình mới. Phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 09/CP của Chính phủ, Chương trình quốc gia phòng chống ma tuý, mại dâm. Tập trung thực hiện có hiệu quả các biện pháp nghiệp vụ cơ bản, chủ động tấn công, trấn áp các loại tội phạm, kiềm chế phạm pháp hình sự và tệ nạn xã hội.

Tăng cường các biện pháp để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 13 của Chính phủ về kiềm chế và làm giảm tai nạn giao thông; các biện pháp phòng cháy, chữa cháy trong mùa khô.

23. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh:

- Tiếp tục thực hiện nghiêm các chỉ thị, mệnh lệnh sẵn sàng chiến đấu của cấp trên, tăng cường luyện tập các phương án cho các đơn vị, địa phương, phối hợp lực lượng bảo vệ an toàn các ngày lễ, Tết.

- Phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an, biên phòng và ban, ngành, đoàn thể địa phương tổ chức hoạt động trị an, bảo vệ an toàn các mục tiêu, kịp thời phát hiện và ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động khủng bố của địch. Tiếp tục thực hiện qui chế liên ngành giữa Bộ Chỉ huy Quân sự, Ban Giám đốc Công an và Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh về việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới.

- Thực hiện tốt công tác tuyển sinh quân sự, bảo đảm cả về chất lượng và số lượng chỉ tiêu trên giao. Theo dõi, chỉ đạo các huyện phía Đông tổ chức tốt công tác giao quân đợt 2 năm 2006.

- Tiếp tục bổ sung kế hoạch B quân sự, B nhà nước, chuẩn bị hậu cần các mặt bảo đảm cho các tình huống đột xuất và phòng chống lũ lụt thiên tai.

- Triển khai thực hiện tổng kiểm tra các đơn vị dự bị động viên năm 2006 theo chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

24. Trong những tháng cuối năm 2006, định kỳ vào ngày 18 hàng tháng, các sở, ban, ngành, địa phương đánh giá tình hình thực hiện những nhiệm vụ mà UBND tỉnh đã giao cho các sở, ban, ngành, địa phương về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2006, trong đó nêu rõ những việc đã làm, những việc chưa làm được, có giải pháp và kế hoạch cụ thể để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc gởi Sở Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh chậm nhất vào ngày 25 hàng tháng.

25. Các sở, ban, ngành, địa phương tiếp tục tranh thủ với các bộ, ngành Trung ương khẩn trương hoàn chỉnh việc xây dựng kế hoạch kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2007 theo tinh thần Chỉ thị số 16/2006/CT-UBND ngày 28 tháng 6 năm 2006 của UBND tỉnh.

Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh thường xuyên theo dõi, kiểm tra báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh kết quả thực hiện Chỉ thị này.

 

 

Nơi nhận:
- VP CP, Bộ Tư pháp, Bộ KH-ĐT, Bộ TC;
- Website CP;
- TT TU; TT HĐND tỉnh;
- CT và các PCT UBND tỉnh;
- VP ĐĐBQH tỉnh;
- Sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh;
- UBND cấp huyện;
- LĐ và CV VP UBND tỉnh;
- Công báo tỉnh;
- Lưu: VT, P.NCTH (Q.Anh).

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH




Nguyễn Hữu Chí

 

Đã xem:

Đánh giá:  
 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 22/2006/CT-UBND

Loại văn bảnChỉ thị
Số hiệu22/2006/CT-UBND
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành13/09/2006
Ngày hiệu lực23/09/2006
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcVăn hóa - Xã hội, Tài chính nhà nước
Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
Cập nhật14 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 22/2006/CT-UBND

Lược đồ Chỉ thị 22/2006/CT-UBND giải pháp cần tập trung chỉ đạo trong những tháng


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Chỉ thị 22/2006/CT-UBND giải pháp cần tập trung chỉ đạo trong những tháng
                Loại văn bảnChỉ thị
                Số hiệu22/2006/CT-UBND
                Cơ quan ban hànhTỉnh Tiền Giang
                Người kýNguyễn Hữu Chí
                Ngày ban hành13/09/2006
                Ngày hiệu lực23/09/2006
                Ngày công báo...
                Số công báo
                Lĩnh vựcVăn hóa - Xã hội, Tài chính nhà nước
                Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
                Cập nhật14 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản được dẫn chiếu

                  Văn bản hướng dẫn

                    Văn bản được hợp nhất

                      Văn bản được căn cứ

                        Văn bản hợp nhất

                          Văn bản gốc Chỉ thị 22/2006/CT-UBND giải pháp cần tập trung chỉ đạo trong những tháng

                          Lịch sử hiệu lực Chỉ thị 22/2006/CT-UBND giải pháp cần tập trung chỉ đạo trong những tháng

                          • 13/09/2006

                            Văn bản được ban hành

                            Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                          • 23/09/2006

                            Văn bản có hiệu lực

                            Trạng thái: Có hiệu lực