Chỉ thị 32-TTg

Chỉ thị 32-TTg năm 1962 về phân công nghiên cứu và giải quyết một số khó khăn về trang bị dụng cụ phòng hộ lao động do Thủ tướng Chính phủ ban hành

Nội dung toàn văn Chỉ thị 32-TTg phân công nghiên cứu giải quyết khó khăn trang bị dụng cụ phòng hộ lao động


THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 32-TTg

Hà Nội, ngày 08 tháng 03 năm 1962 

 

CHỈ THỊ

VỀ VIỆC PHÂN CÔNG NGHIÊN CỨU VÀ GIẢI QUYẾT MỘT SỐ KHÓ KHĂN VỀ TRANG BỊ DỤNG CỤ PHÒNG HỘ LAO ĐỘNG  

Trong mấy năm qua, do yêu cầu bảo vệ sức khỏe công nhân và bảo đảm an toàn trong sản xuất, các Bộ, các ngành đã cố gắng trong việc đặt mua hoặc sản xuất những dụng cụ bảo hộ lao động. Tuy vậy, việc sản xuất, phân phối, sử dụng và bảo quản trang bị dụng cụ phòng hộ nhằm bảo đảm an toàn lao động và bảo vệ sức khỏe công nhân còn nhiều thiếu sót và nhược điểm:

- Trang bị dụng cụ phòng hộ sản xuất ra chưa bảo đảm quy cách, phẩm chất; chưa thích hợp với tình hình sản xuất và xây dựng trong nước;

- Một số dụng cụ phòng hộ cần mua nước ngoài thường thiếu kế hoạch cụ thể, hàng nhập không kịp thời, có loại không thích hợp với khổ người và điều kiện khí hậu ở nước ta;

- Việc quản lý sản xuất và phân phối chưa chặt chẽ; hàng năm các ngành chưa lập được kế hoạch đầy đủ để sản xuất, do đó hàng sản xuất ra lúc thừa, lúc thiếu;

- Công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức sử dụng và bảo quản trong công nhân chưa đầy đủ, nên nhiều nơi dụng cụ phòng hộ không được sử dụng đúng, gây lãng phí lớn cho công quỹ.

Để khắc phục những thiếu sót nói trên góp phần đẩy mạnh công tác bảo hộ lao động phục vụ sản xuất, xây dựng và căn cứ vào đề nghị của hội nghị các ngành do Bộ Lao động triệu tập ngày 15-11-1962, Phủ Thủ tướng quy định một số biện pháp giải quyết sau đây:

1. Trong khi chờ đợi việc thành lập cơ quan nghiên cứu khoa học bảo hộ lao động, cần có sự phân công giữa các ngành có trách nhiệm để nghiên cứu quy cách, mẫu mực, phẩm chất các loại dụng cụ phòng hộ có thể sản xuất trong nước.

Việc nghiên cứu này, dựa theo phương hướng sau đây:

- Bộ Lao động sẽ đặt một số loại trang bị dụng cụ phòng hộ ở các nước xã hội chủ nghĩa về cung cấp cho các ngành làm mẫu mà nghiên cứu lại quy cách, mẫu mực cho phù hợp với khổ người, điều kiện khí hậu và điều kiện sản xuất ở nước ta.

- Tận dụng được nguyên vật liệu hiện có trong nước để giảm bớt sự chi phí về ngoại tệ và kịp thời phục vụ yêu cầu của sản xuất và xây dựng.

- Khai thác và sử dụng những kinh nghiệm của quần chúng góp ý vào việc nghiên cứu cải tiến trang bị phòng hộ.

2. Các Bộ : Lao động, Y tế Công nghiệp nặng, Công nghiệp nhẹ, Kiến trúc, Giao thông vận tải, Thủy lợi và điện lực cùng với sự tham gia của Ủy ban Khoa học Nhà nước, Tổng Công đoàn Việt-nam, có trách nhiệm nghiên cứu và ban hành những tiêu chuẩn cụ thể về quy cách, mẫu mực các loại dụng cụ phòng hộ.

Căn cứ vào khả năng và phương tiện của mỗi ngành, Phủ Thủ tướng phân công trách nhiệm cụ thể như sau:

- Bộ Lao động chịu trách nhiệm theo dõi tổng hợp tình hình, phát hiện những thiếu sót và bất hợp lý cần nghiên cứu cải tiến; chủ trì các cuộc họp với các ngành; chủ trì hội đồng kiểm nghiệm và cùng với Ủy ban Khoa học Nhà nước xác nhận quy cách, mẫu mực trang bị dụng cụ phòng hộ đã nghiên cứu; đôn đốc và theo dõi chương trình nghiên cứu đã đề ra.

- Bộ Công nghiệp nặng và Viện Vệ sinh (Bộ Y tế) nghiên cứu quy cách mẫu mực các loại dụng cụ phòng chống nhiễm độc và chống bụi. Trước mắt cần nghiên cứu các loại khẩu trang, các loại mặt nạ, ủng, găng tay cao su chống tác hại của các hóa chất độc.

- Bộ Thủy lợi và điện lực nghiên cứu quy cách mẫu mực các loại dụng cụ cách điện. Trước mắt là ủng, găng tay, mũ và thảm cao su cách điện.

- Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu quy cách mẫu mực các loại phao bơi; các loại quần áo công tác, găng, ghệt bằng vải thường và vải dày (bạt).

- Bộ Công nghiệp nhẹ và Viện mắt (Bộ Y tế) nghiên cứu quy cách mẫu mực các loại kính đeo mắt (kính trắng, kính màu, kính hàn…)

- Bộ Kiến trúc nghiên cứu quy cách mẫu mực và phẩm chất các loại dây an toàn (bằng vải, da, dây gai…kể cả sức chịu đựng của móc sắt) và các loại mũ an toàn.

- Ủy ban Khoa học Nhà nước tham gia ý kiến với các ngành nói trên về mặt khoa học kỹ thuật và quy định tiêu chẩn các loại dụng cụ phòng hộ.

- Đề nghị Tổng Công đoàn Việt-nam phụ trách việc tuyên truyền giáo dục quần chúng sử dụng dụng cụ phòng hộ và thu thập ý kiến của họ góp vào việc nghiên cứu cải tiến trang bị phòng hộ.

3. Bộ Công nghiệp nhẹ có trách nhiệm quản lý thống nhất và hướng dẫn sản xuất đối với những mặt hàng có thể sản xuất trong nước. Hàng năm, Bộ Nội thương căn cứ vào kế hoạch của các ngành, các cơ sở mà đặt hàng cho các xí nghiệp, các hợp tác xã thủ công nghiệp được phép sản xuất theo đúng tiêu chuẩn quy định; đồng thời cần có kế hoạch quản lý việc kinh doanh, phân phối các mặt hàng cho thống nhất.

Bộ Ngoại thương chịu trách nhiệm tổng hợp các kế hoạch nhập hàng về dụng cụ phòng hộ của các ngành, các cơ sở và liên hệ đặt mua hàng kịp thời. Trước mắt cần cố gắng mua ngay một số hàng mẫu ở các nước ngoài để giúp cho việc nghiên cứu của các ngành được nhanh chóng.

4. Căn cứ vào sự phân công nói trên, mỗi Bộ sẽ cùng với Bộ Lao động thảo luận kế hoạch cụ thể giao trách nhiệm cho một số cán bộ và nhân viên kỹ thuật chuyên trách để hoàn thành việc nghiên cứu càng sớm càng tốt.

5. Đi đôi với việc nghiên cứu quy cách, mẫu mực và sản xuất trang bị phòng hộ, Bộ Lao động, Bộ Y tế, Tổng Công đoàn, các Bộ quản lý sản xuất xây dựng cần tăng cường việc kiểm tra đôn đốc thường xuyên việc sử dụng các dụng cụ phòng hộ, Bộ Lao động cần quy định chế độ sử dụng vào bảo quản trang bị phòng hộ và kiểm tra việc thi hành một các chặt chẽ.

Trên đây là một số biện pháp trước mắt cần giải quyết gấp để kịp thời phục vụ cho kế hoạch năm 1962, Phủ Thủ tướng thấy cần lưu ý các Bộ, các ngành quan tâm hơn nữa đến việc cải thiện điều kiện làm việc, cải tiến thiết bị sản xuất và thiết bị an toàn, vì đó mới là những biện pháp tích cực nhất để bảo vệ sức khỏe và bảo đảm an toàn cho công nhân lao động.

 

 

KT.THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG
 


 

Lê Thanh Nghị

 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 32-TTg

Loại văn bảnChỉ thị
Số hiệu32-TTg
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành08/03/1962
Ngày hiệu lực24/03/1962
Ngày công báo21/03/1962
Số công báoSố 9
Lĩnh vựcLao động - Tiền lương
Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
Cập nhật11 năm trước

Lược đồ Chỉ thị 32-TTg phân công nghiên cứu giải quyết khó khăn trang bị dụng cụ phòng hộ lao động


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Chỉ thị 32-TTg phân công nghiên cứu giải quyết khó khăn trang bị dụng cụ phòng hộ lao động
                Loại văn bảnChỉ thị
                Số hiệu32-TTg
                Cơ quan ban hànhThủ tướng Chính phủ
                Người kýLê Thanh Nghị
                Ngày ban hành08/03/1962
                Ngày hiệu lực24/03/1962
                Ngày công báo21/03/1962
                Số công báoSố 9
                Lĩnh vựcLao động - Tiền lương
                Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
                Cập nhật11 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản được dẫn chiếu

                    Văn bản hướng dẫn

                      Văn bản được hợp nhất

                        Văn bản được căn cứ

                          Văn bản hợp nhất

                            Văn bản gốc Chỉ thị 32-TTg phân công nghiên cứu giải quyết khó khăn trang bị dụng cụ phòng hộ lao động

                            Lịch sử hiệu lực Chỉ thị 32-TTg phân công nghiên cứu giải quyết khó khăn trang bị dụng cụ phòng hộ lao động

                            • 08/03/1962

                              Văn bản được ban hành

                              Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                            • 21/03/1962

                              Văn bản được đăng công báo

                              Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                            • 24/03/1962

                              Văn bản có hiệu lực

                              Trạng thái: Có hiệu lực