Chỉ thị 38/2006/CT-TTg

Chỉ thị 38/2006/CT-TTg về biện pháp cấp bách phòng, chống hạn, bảo vệ sản xuất vụ Đông Xuân 2006 - 2007 do Thủ tướng Chính phủ ban hành

Nội dung toàn văn Chỉ thị 38/2006/CT-TTg biện pháp cấp bách phòng, chống hạn, bảo vệ sản xuất vụ Đông Xuân


THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 38/2006/CT-TTg

Hà Nội, ngày 11 tháng 12 năm 2006 

 

CHỈ THỊ

VỀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CẤP BÁCH PHÒNG, CHỐNG HẠN BẢO VỆ SẢN XUẤT VỤ ĐÔNG XUÂN 2006 – 2007

Mùa mưa năm 2006 kết thúc sớm hơn bình thường hàng năm từ 1 đến 2 tháng. Lượng mưa ở nhiều nơi thiếu hụt từ 40 - 50%, riêng các tỉnh Nam Trung Bộ thiếu hụt tới 70 - 80%. Dòng chảy trên các sông, suối ở Trung Bộ và nhiều địa phương khác thiếu hụt nhiều so với trung bình nhiều năm.

Hiện nay, nhiều sông, suối, hồ chứa nước đều ở mức thấp, có nơi đã cạn kiệt. Mực nước trên hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình thấp hơn cùng kỳ năm 2005 khoảng 1,62 mét và thấp hơn trung bình cùng kỳ nhiều năm đến 2,60 mét. Dự báo vụ Đông Xuân năm 2006 - 2007, ở các tỉnh Bắc Bộ có trên 120.000 ha lúa có khó khăn về nước tưới.

Theo dự báo của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, hiện tượng El-Nino đang phát triển và tình hình thiếu nước, khô hạn có khả năng diễn ra trên diện rộng và kéo dài trong mùa khô sắp đến ở nhiều khu vực trong cả nước; tình trạng xâm nhập mặn xảy ra sớm hơn và vào sâu trong đất liền tại nhiều địa phương ven biển.

Để chủ động phòng, chống hạn, bảo đảm đủ nước sinh hoạt cho nhân dân và đáp ứng nhu cầu nước phục vụ sản xuất, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị:

1. Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn Quốc gia theo dõi chặt chẽ diễn biến về thời tiết, thủy văn, dòng chảy để có dự báo, cảnh báo sớm về tình hình khô hạn, thiếu nước; cung cấp kịp thời thông tin, dự báo về khí tượng thủy văn để phục vụ công tác phòng, chống hạn, xâm nhập mặn, bảo vệ sản xuất.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo thực hiện một số biện pháp cấp bách sau:

a) Các địa phương vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ:

- Kiểm tra các công trình thủy lợi trên địa bàn, huy động các lực lượng và nhân dân tham gia công tác làm thủy lợi, nạo vét kênh mương và xử lý, bảo vệ môi trường nước. Chỉ đạo việc đánh giá, kiểm tra nguồn nước hiện có và nhu cầu sử dụng nước trên địa bàn để rà soát lại kế hoạch sản xuất vụ Đông Xuân 2006 - 2007;

- Phân công lãnh đạo chuyên trách trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo các biện pháp trữ nước, sử dụng nước tiết kiệm, hợp lý; điều chỉnh lịch thời vụ, cơ cấu cây trồng phù hợp với khả năng nguồn nước; chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết về giống, phân bón, vật tư ... phục vụ sản xuất vụ Đông Xuân 2006 - 2007 có hiệu quả; nơi nào có khó khăn về nguồn nước phải hướng dẫn nông dân chuyển đổi mùa vụ sản xuất, sử dụng giống lúa phù hợp hoặc chuyển từ trồng lúa sang trồng các loại rau màu, cây lương thực ngắn ngày.

b) Các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên:

- Cùng với việc chủ động phòng, chống lụt bão, phải theo dõi sát tình hình thời tiết, khí tượng thủy văn để có các biện pháp tích nước ở các hồ chứa, sông, suối, ao, hồ…; khôi phục, sửa chữa các công trình thủy lợi để đảm bảo nguồn nước  phục vụ sản xuất;

- Chỉ đạo các ngành, các cấp ở địa phương rà soát, đánh giá nhu cầu sử dụng nước để lập phương án và tổ chức chỉ đạo thực hiện có hiệu quả việc phòng, chống hạn và khắc phục hậu quả do hạn hán gây ra, đặc biệt là có các giải pháp bảo đảm nước sinh hoạt cho người và gia súc tại các vùng bị khô hạn nặng.

c) Các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long:

- Cùng với việc tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Chỉ thị  số 30/2006/CT-TTg ngày 11 tháng 8 năm 2006 và các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về một số biện pháp cấp bách phòng trừ rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên lúa, phải có phương án phòng, chống hạn, xâm nhập mặn để bảo vệ sản xuất;

- Chỉ đạo việc quản lý, vận hành các cống ngăn mặn, giữ ngọt và các công trình điều tiết nước, bảo đảm phòng, chống xâm nhập mặn; hướng dẫn nông dân chuyển đổi mùa vụ sản xuất đối với các vùng bị khô hạn.

d) Các địa phương chủ động sử dụng ngân sách của địa phương năm 2007 theo quy định để chi cho công tác phòng, chống hạn, bảo vệ sản xuất và cứu trợ dân sinh kịp thời.

3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:

- Theo dõi chặt chẽ tình hình diễn biến thời tiết, khí hậu và tình hình thiếu nước, khô hạn để chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả các biện pháp phòng, chống hạn, bảo vệ sản xuất;

- Phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh chỉ đạo ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn quản lý chặt chẽ nguồn nước, chống rò rỉ, thất thoát nước của các hồ chứa, phân phối nước hợp lý, hiệu quả; đặt lịch tưới cụ thể và tổ chức tưới luân phiên, tiết kiệm nước; chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương rà soát lại kế hoạch điều chỉnh mùa vụ sản xuất, cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với nguồn nước; đối với các vùng có khó khăn về nguồn nước thì hướng dẫn các địa phương chuyển từ trồng lúa sang trồng một số loại cây màu thích hợp;

- Phối hợp chặt chẽ với Bộ Công nghiệp, Tập đoàn Điện lực Việt Nam trong việc điều tiết, sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn nước xả của các hồ Hòa Bình, Thác Bà và các hồ thủy điện khác để phục vụ sản xuất vụ Đông Xuân 2006 - 2007;

- Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương chủ động phòng, chống cháy rừng trong điều kiện thiếu nước và nắng nóng, khô hạn kéo dài;

- Đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình thủy lợi để đưa vào khai thác sử dụng phục vụ sản xuất; đối với các hồ chứa đang xây dựng nếu đủ điều kiện an toàn cũng phải tích nước chống hạn.

4. Bộ Công nghiệp, Tập đoàn Điện lực Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các địa phương có phương án, kế hoạch cụ thể để thực hiện việc điều tiết hợp lý nguồn nước ở các hồ Hoà Bình, hồ Thác Bà và các hồ chứa thuỷ điện khác để đảm bảo vừa đáp ứng nhu cầu phát điện, đồng thời đảm bảo nước phục vụ sản xuất nông nghiệp.

5. Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo, hướng dẫn việc phân luồng, xử lý đảm bảo an toàn giao thông đường thủy nội địa trong điều kiện mực nước hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình và các sông xuống thấp.

6. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định lập Tổ điều hành công tác phòng, chống hạn do một Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm Tổ trưởng, có nhiệm vụ kiểm tra, đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương trong việc phòng, chống hạn, bảo vệ sản xuất và khắc phục hậu quả do hạn hán gây ra, định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Các Bộ, ngành: Tài nguyên và Môi trường, Tài chính, Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Văn phòng Chính phủ cử cán bộ tham gia Tổ công tác này.

7. Các Bộ, ngành khác theo chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm theo dõi chặt chẽ tình hình nguồn nước, có phương án chủ động phòng, chống hạn, thiếu nước để bảo đảm sản xuất, kinh doanh.

8. Các cơ quan thông tin đại chúng phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các địa phương và các cơ quan liên quan thông tin kịp thời về tình hình thời tiết, khí hậu, nguồn nước để các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp và mọi người dân chủ động thực hiện các biện pháp phòng, chống hạn, bảo vệ sản xuất.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công nghiệp, Giao thông vận tải, Tài nguyên và Môi trường, Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các Bộ, ngành liên quan thực hiện nghiêm túc nội dung Chỉ thị này./.

 

 

 

Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; 
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
- Văn phòng BCĐTW về phòng, chống tham nhũng;
- HĐND, UBND các tỉnh,
  thành phố trực thuộc Trung ương;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;

- Văn phòng Quốc hội;
- Toà án nhân dân tối cao; 

- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán Nhà nước;
- BQL KKTCKQT Bờ Y;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể; 

- Học viện Hành chính quốc gia;
- VPCP: BTCN, các PCN,
  Website Chính phủ, Ban Điều hành 112,
  Người phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ,
  các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
- Lưu: Văn thư, NN (5b).

KT. THỦ TƯỚNG
PHÓ THỦ TƯỚNG

 
 


Nguyễn Sinh Hùng

 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 38/2006/CT-TTg

Loại văn bảnChỉ thị
Số hiệu38/2006/CT-TTg
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành11/12/2006
Ngày hiệu lực05/01/2007
Ngày công báo21/12/2006
Số công báoTừ số 27 đến số 28
Lĩnh vựcTài nguyên - Môi trường
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực
Cập nhật12 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 38/2006/CT-TTg

Lược đồ Chỉ thị 38/2006/CT-TTg biện pháp cấp bách phòng, chống hạn, bảo vệ sản xuất vụ Đông Xuân


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Chỉ thị 38/2006/CT-TTg biện pháp cấp bách phòng, chống hạn, bảo vệ sản xuất vụ Đông Xuân
                Loại văn bảnChỉ thị
                Số hiệu38/2006/CT-TTg
                Cơ quan ban hànhThủ tướng Chính phủ
                Người kýNguyễn Sinh Hùng
                Ngày ban hành11/12/2006
                Ngày hiệu lực05/01/2007
                Ngày công báo21/12/2006
                Số công báoTừ số 27 đến số 28
                Lĩnh vựcTài nguyên - Môi trường
                Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực
                Cập nhật12 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản hướng dẫn

                    Văn bản được hợp nhất

                      Văn bản được căn cứ

                        Văn bản hợp nhất

                          Văn bản gốc Chỉ thị 38/2006/CT-TTg biện pháp cấp bách phòng, chống hạn, bảo vệ sản xuất vụ Đông Xuân

                          Lịch sử hiệu lực Chỉ thị 38/2006/CT-TTg biện pháp cấp bách phòng, chống hạn, bảo vệ sản xuất vụ Đông Xuân

                          • 11/12/2006

                            Văn bản được ban hành

                            Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                          • 21/12/2006

                            Văn bản được đăng công báo

                            Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                          • 05/01/2007

                            Văn bản có hiệu lực

                            Trạng thái: Có hiệu lực