Công văn 811/TCT-DNL

Công văn 811/TCT-DNL năm 2019 về trích lập dự phòng do Tổng cục Thuế ban hành

Nội dung toàn văn Công văn 811/TCT-DNL 2019 đề nghị hướng dẫn về trích lập dự phòng


BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 811/TCT-DNL
V/v: trích lập dự phòng

Hà Nội, ngày 13 tháng 3 năm 2019

 

Kính gửi: Công ty Cổ phần Đường sắt Hà Ninh.

Tổng cục Thuế nhận được công văn số 1641/ĐSHN-TCKT ngày 19/12/2018 của Công ty Cổ phần Đường sắt Hà Ninh (Công ty CPĐS Hà Ninh) đề nghị hướng dẫn về trích lập dự phòng khoản tổn thất đã trở thành khoản nợ khó đòi. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Tại điểm c khoản 1.1 Điều 45 Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 24/12/2014 của Bộ Tài chính về chế độ kế toán doanh nghiệp, quy định:

“Dự phòng phải thu khó đòi: Là khoản dự phòng phần giá trị các khoản nợ phải thu và các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn khác có bản chất tương tự các khoản phải thu khó có khả năng thu hồi.”

Thông tư số 228/2009/TT-BTC ngày 07/12/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các khoản đầu tư tài chính, nợ phải thu khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp tại doanh nghiệp, quy định:

“Điều 2. Giải thích từ ngữ:

3. Dự phòng nợ phải thu khó đòi: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của các khoản nợ phải thu quá hạn thanh toán nợ phải thu chưa quá hạn nhưng có thể không đòi được do khách nợ không có khả năng thanh toán…”

“Điều 3. Nguyên tắc chung trong trích lập các khoản dự phòng.

1. Các khoản dự phòng nêu tại điểm 1, 2, 3, 4 Điều 2 Thông tư này được trích trước vào chi phí hoạt động kinh doanh năm báo cáo của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có nguồn tài chính để bù đắp tổn thất có thể xảy ra trong năm kế hoạch, nhằm bảo toàn vốn kinh doanh;…”

“Điều 6. Dự phòng nợ phải thu khó đòi.

1. Điều kiện: là các khoản nợ phải thu khó đòi đảm bảo các điều kiện sau:

- Khoản nợ phải có chứng từ gốc, có đối chiếu xác nhận của khách nợ về số tiền còn nợ, bao gồm: hợp đồng kinh tế, khế ước vay nợ, bản thanh lý hợp đồng, cam kết nợ, đối chiếu công nợ và các chứng từ khác.

Các khoản không đủ căn cứ xác định là nợ phải thu theo quy định này phải xử lý như một khoản tổn thất.

- Có đủ căn cứ xác định là khoản nợ phải thu khó đòi:

+ Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán ghi trên hợp đồng kinh tế, các khế ước vay nợ hoặc các cam kết nợ khác.

+ Nợ phải thu chưa đến thời hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế (các công ty, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, tổ chức tín dụng..) đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử, đang thi hành án hoặc đã chết.”

Tại khoản 1 Điều 282 Bộ Luật tố tụng Dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội quy định:

“Điều 282. Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị

1. Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định cho thi hành ngay.”

Căn cứ các quy định trên và xét thực tế báo cáo của doanh nghiệp cho thấy:

Mặc dù ngày 15/11/2018 Toà án nhân dân tỉnh Nam Định đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự số 68/2018/TLST-HS ngày 26/10/2018 và có bản án số 89/2018/HS-ST đối với các bị cáo trong vụ án, trong đó có bị cáo Ngô Trường Giang làm thất thoát 20.746.282.257 đồng. Đây là số tiền Công ty CPĐS Hà Ninh phải thu của ông Giang và là số tiền ông Giang có nghĩa vụ phải trả cho Công ty CPĐS Hà Ninh. Tuy nhiên, bản án này chưa có hiệu lực pháp luật (ngày 30/11/2018 Toà án nhân dân tỉnh Nam Định có Thông báo số 39/2018/TB-TA về việc kháng cáo).

Theo quy định tại Bộ Luật tố tụng Dân sự thì bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành.

Như vậy, với thông tin, hồ sơ gửi đến việc Công ty CPĐS Hà Ninh đề nghị thực hiện trích lập dự phòng khoản nợ phải thu khó đòi trên cơ sở phán quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm khi án chưa có hiệu lực pháp luật là chưa đủ cơ sở pháp lý để xác nhận đây là khoản nợ phải thu khó đòi của Công ty CPĐS Hà Ninh theo quy định.

Tổng cục Thuế trả lời để Công ty Cổ phần Đường sắt Hà Ninh biết và thực hiện./.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- Phó TCTr Đặng NgọcMinh (để b/c);
- Vụ CS, Vụ PC, Vụ KK (TCT);
- Lưu: VT, DNL (3b).

TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ QUẢN LÝ THUẾ DNL




Nguyễn Văn Phụng

 

 

Đã xem:

Đánh giá:  
 

Thuộc tính Công văn 811/TCT-DNL

Loại văn bảnCông văn
Số hiệu811/TCT-DNL
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành13/03/2019
Ngày hiệu lực13/03/2019
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcThuế - Phí - Lệ Phí
Tình trạng hiệu lựcKhông xác định
Cập nhật3 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Công văn 811/TCT-DNL

Lược đồ Công văn 811/TCT-DNL 2019 đề nghị hướng dẫn về trích lập dự phòng


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Công văn 811/TCT-DNL 2019 đề nghị hướng dẫn về trích lập dự phòng
                Loại văn bảnCông văn
                Số hiệu811/TCT-DNL
                Cơ quan ban hànhTổng cục Thuế
                Người kýNguyễn Văn Phụng
                Ngày ban hành13/03/2019
                Ngày hiệu lực13/03/2019
                Ngày công báo...
                Số công báo
                Lĩnh vựcThuế - Phí - Lệ Phí
                Tình trạng hiệu lựcKhông xác định
                Cập nhật3 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản được dẫn chiếu

                    Văn bản hướng dẫn

                      Văn bản được hợp nhất

                        Văn bản gốc Công văn 811/TCT-DNL 2019 đề nghị hướng dẫn về trích lập dự phòng

                        Lịch sử hiệu lực Công văn 811/TCT-DNL 2019 đề nghị hướng dẫn về trích lập dự phòng

                        • 13/03/2019

                          Văn bản được ban hành

                          Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                        • 13/03/2019

                          Văn bản có hiệu lực

                          Trạng thái: Có hiệu lực