Văn bản khác 156/KH-UBND

Kế hoạch 156/KH-UBND năm 2016 thực hiện Nghị quyết 96/2015/QH13 về tăng cường biện pháp phòng, chống oan, sai và bảo đảm bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự do tỉnh Phú Yên ban hành

Nội dung toàn văn Kế hoạch 156/KH-UBND chống oan sai bồi thường cho người bị thiệt trong tố tụng hình sự Phú Yên 2016


ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 156/KH-UBND

Phú Yên, ngày 19 tháng 10 năm 2016

 

KẾ HOẠCH

THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 96/2015/QH13 CỦA QUỐC HỘI VỀ TĂNG CƯỜNG CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG, CHỐNG OAN, SAI VÀ BẢO ĐẢM BỒI THƯỜNG CHO NGƯỜI BỊ THIỆT HẠI TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Thực hiện Nghị quyết số 96/2015/QH13 ngày 26/6/2015 của Quốc hội và Quyết định số 1681/QĐ-TTg ngày 30/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chương trình thực hiện Nghị quyết số 96/2015/QH13 của Quốc hội về tăng cường các biện pháp phòng, chống oan, sai và bảo đảm bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, UBND tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện như sau:

I. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU

1. Thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, yêu cầu đề ra trong Nghị quyết số 96/2015/QH13, chấp hành nghiêm pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự, không bỏ lọt tội phạm, không để xảy ra oan, sai. Khi xác định đã có oan, sai phải kịp thời minh oan cho người bị oan, bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định pháp luật. Chủ động, tích cực điều tra, khám phá kịp thời các loại tội phạm. Giảm tối đa các trường hợp bắt, tạm giữ hình sự sau đó chuyển xử lý hành chính. Hạn chế đến mức thấp nhất việc đình chỉ điều tra do hành vi không cấu thành tội phạm. Không để xảy ra bức cung, dùng nhục hình, người đang bị giam giữ và chấp hành án tại các cơ sở giam giữ chết do tự sát, đánh nhau. Tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia các vụ án theo quy định của pháp luật. Xử lý nghiêm minh đối với người thi hành công vụ sai phạm và trách nhiệm liên quan của người đứng đầu cơ quan gây ra oan, sai, để xảy ra bức cung, dùng nhục hình trong hoạt động điều tra, tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự.

2. Xác định rõ nhiệm vụ, giải pháp, phân công trách nhiệm cụ thể và cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ngành và địa phương trong thực hiện Nghị quyết số 96/2015/QH13 của Quốc hội.

II. NHIỆM VỤ

1. Nâng cao năng lực phát hiện, điều tra, khám phá kịp thời các loại tội phạm. Thực hiện tốt công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Bảo đảm việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can chặt chẽ, thận trọng, đúng pháp luật và có căn cứ. Không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Thực hiện nghiêm quy trình điều tra các loại án, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, công tác điều tra ban đầu, nhất là đối với các vụ án giết người, hiếp dâm không quả tang. Không để xảy ra bức cung, dùng nhục hình; không để xảy ra trường hợp người đang bị giam giữ, chấp hành án tại các cơ sở giam giữ chết do tự sát, do đánh nhau và phải làm rõ trách nhiệm của cán bộ trực tiếp quản lý và người đứng đầu cơ sở giam giữ để xảy ra tình trạng này.

2. Cơ quan điều tra Công an tỉnh tiếp nhận, điều tra giải quyết các vụ án mà Tòa án hủy bản án có hiệu lực pháp luật kết án bị cáo hình phạt chung thân hoặc tử hình để điều tra lại. Công an tỉnh chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ phối hợp với các cơ quan chức năng của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cùng cấp rà soát, khẩn trương giải quyết các vụ án đã quá thời hạn luật định; xử lý dứt điểm những vụ án kéo dài và các vụ án khác được dư luận, xã hội quan tâm; sớm kết thúc điều tra đề nghị truy tố đối với các vụ án mà Tòa án hủy bản án có hiệu lực pháp luật để điều tra lại; minh oan và phối hợp giải quyết bồi thường kịp thời cho người bị oan đã có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

3. Bảo đảm các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện nghiêm thẩm quyền tố tụng do luật định; không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, nâng cao chất lượng điều tra các vụ án thuộc thẩm quyền, bảo đảm không để xảy ra oan, sai.

4. Thực hiện có hiệu quả việc phân loại, xử lý vụ án; chấn chỉnh việc đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra vụ án không đúng pháp luật để tránh oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm; kịp thời giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là đơn kêu oan, đơn tố cáo bức cung, dùng nhục hình.

5. Tăng cường công tác quản lý, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để nâng cao chất lượng công tác điều tra, giám định kỹ thuật hình sự, giám định pháp y và giám định các lĩnh vực: tài chính - kế toán, lâm nghiệp, môi trường, xây dựng… tạo cơ sở tin cậy cho cơ quan có thẩm quyền tố tụng xem xét, quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự.

6. Chủ động rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự. Xem xét trách nhiệm hoàn trả đối với người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, xử lý trách nhiệm liên quan của người đứng đầu cơ quan gây ra oan, sai, để xảy ra bức cung, dùng nhục hình.

III. GIẢI PHÁP

1. Các sở, ngành có liên quan và UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm các quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân và các Nghị quyết của Đảng, của Quốc hội về công tác tư pháp. Tăng cường quan hệ phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương, xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu chính quyền và các cơ quan chức năng của địa phương trong việc triển khai, thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp mà Nghị quyết số 96/2015/QH13 của Quốc hội đã đề ra.

2. Triển khai, thi hành nghiêm túc các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến công tác phòng ngừa, chống tội phạm và bảo đảm bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự. Tiếp tục rà soát hệ thống văn bản pháp luật, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật theo thẩm quyền. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành trong các sở, ngành chức năng, đặc biệt là các cơ quan tư pháp.

3. Chấn chỉnh công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; phân công, phân cấp cụ thể, rõ ràng trong hoạt động điều tra. Nâng cao trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan điều tra và Điều tra viên, cán bộ điều tra trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp hạn chế quyền con người, đặc biệt là biện pháp tạm giữ, tạm giam bảo đảm đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, lập hồ sơ vụ án phải tuân thủ các quy định của pháp luật; phát hiện, thu thập, củng cố, bảo quản và đánh giá chứng cứ buộc tội, gỡ tội đầy đủ, khách quan, toàn diện nhằm xác định sự thật vụ án. Việc đình chỉ điều tra, miễn trách nhiệm hình sự phải bảo đảm chặt chẽ, có đầy đủ căn cứ. Cơ quan điều tra trong Công an tỉnh có trách nhiệm kiểm tra chặt chẽ đối với quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can, tránh tình trạng lạm dụng miễn truy cứu trách nhiệm hình sự để đình chỉ điều tra các đối tượng bị oan, sai. Đối với những vụ án phức tạp, nghiêm trọng, vụ án có quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện báo cáo xin ý kiến cấp trên. Cấp điều tra nhận được báo cáo xin ý kiến phải kiểm tra lại hồ sơ tài liệu và khẩn trương có chỉ đạo kịp thời.

4. Tập trung đẩy nhanh tiến độ giải quyết các đơn kêu oan, đơn khiếu nại bức xúc kéo dài, đơn tố cáo vi phạm trong hoạt động điều tra và các vụ án mà Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã hủy án để điều tra lại (nếu có); giải quyết kịp thời đơn khiếu nại, tố cáo về bức cung, dùng nhục hình trong hoạt động điều tra. Kịp thời giải quyết những trường hợp bị oan có đơn yêu cầu bồi thường theo đúng quy định của pháp luật. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ, giải đáp vướng mắc, khó khăn trong quá trình thi hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

5. Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tập huấn, đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức pháp luật, đạo đức nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm và trách nhiệm công vụ cho lực lượng thực thi pháp luật, nhất là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, cán bộ điều tra, cán bộ quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự. Xây dựng đội ngũ Điều tra viên bảo đảm về số lượng, chất lượng, nắm vững đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có trình độ nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có quan điểm khách quan, toàn diện trong điều tra, xử lý tội phạm. Bổ sung biên chế phù hợp cho các đơn vị, địa phương phải thụ lý giải quyết nhiều án, tránh áp lực quá nhiều công việc dẫn đến oan, sai, bỏ lọt tội phạm. Bố trí sử dụng cán bộ phù hợp với năng lực, trình độ; kiên quyết không bố trí số cán bộ chưa qua đào tạo về công tác điều tra, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện để làm công tác điều tra, xử lý tội phạm. Tăng cường lực lượng Điều tra viên cho Cơ quan điều tra cấp huyện. Kiên quyết loại khỏi bộ máy Cơ quan điều tra những cán bộ kém về đạo đức, yếu về chuyên môn nghiệp vụ.

6. Kiện toàn tổ chức Cơ quan điều tra trong lực lượng Công an và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cho phù hợp với thực tiễn công tác điều tra. Đề cao trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị đối với các vụ việc oan, sai trong hoạt động điều tra hình sự; xử lý nghiêm minh đối với người thi hành công vụ mắc sai phạm, nhất là đối với trường hợp bức cung, dùng nhục hình, làm oan, sai nghiêm trọng. Đơn vị để xảy ra oan, sai, bức cung, dùng nhục hình thì Thủ trưởng đơn vị đó phải chịu trách nhiệm liên quan. Củng cố, chấn chỉnh công tác giám định tư pháp, nhất là giám định pháp y, giám định kỹ thuật hình sự và giám định các lĩnh vực: tài chính - kế toán, lâm nghiệp, môi trường, xây dựng… phục vụ công tác điều tra, xử lý tội phạm bảo đảm chính xác, kịp thời.

7. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động điều tra, nhất là việc chấp hành các quy trình làm việc, quy chế công tác trong hoạt động điều tra; kịp thời phát hiện sai phạm, tập trung xác minh dấu hiệu oan, sai để có biện pháp chấn chỉnh, xử lý, không để kéo dài, gây hậu quả nghiêm trọng. Tăng cường công tác hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động điều tra, xử lý tội phạm của Cơ quan điều tra cấp tỉnh với Cơ quan điều tra cấp huyện, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, những vụ án phức tạp, tồn đọng. Phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp kiểm sát hoạt động điều tra ngay từ khi tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm nhằm hạn chế các vi phạm, thiếu sót trong hoạt động tố tụng hình sự, phòng ngừa oan, sai. Tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư, người bào chữa tham gia các hoạt động tố tụng của Cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật để phòng, chống oan, sai, bức cung, dùng nhục hình. Tiếp nhận, nghiên cứu các kiến nghị của luật sư, người bào chữa trong quá trình điều tra, thu thập, đánh giá chứng cứ nhằm bảo đảm kết luận điều tra vụ án khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác và đúng pháp luật. Thực hiện tốt công tác sơ kết, tổng kết thực tiễn, hướng dẫn áp dụng pháp luật, thông báo rút kinh nghiệm kịp thời đối với các vụ án trả hồ sơ điều tra bổ sung, vụ án bị Tòa án cấp trên hủy án, đình chỉ điều tra do không có hành vi phạm tội, vụ án Tòa án tuyên không phạm tội và các vi phạm khác trong quá trình giải quyết vụ án.

8. Rà soát, đề xuất xây dựng cơ sở vật chất cho các cơ quan tư pháp; đầu tư kinh phí nâng cấp trang thiết bị cho hoạt động điều tra, khám nghiệm hiện trường, giám định tư pháp; lắp đặt hệ thống thiết bị ghi âm, ghi hình có âm thanh các buổi hỏi cung theo quy định của pháp luật, để ghi nhận chứng cứ, chống bức cung, dùng nhục hình, phòng chống oan, sai trong điều tra các vụ án hình sự. Chỉ đạo xây dựng, sửa chữa, nâng cấp các cơ sở giam, giữ phục vụ công tác quản lý tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự nhằm bảo đảm quyền con người, không để người đang bị giam giữ và chấp hành án tại các cơ sở giam giữ chết do đánh nhau, tự sát.

IV. PHÂN CÔNG TRÁCH NHIỆM

1. Trách nhiệm chung

Các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố theo chức năng, nhiệm vụ thực hiện tốt công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống oan, sai và bảo đảm bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, trong đó, Công an tỉnh là nòng cốt. Hàng năm, định kỳ hoặc đột xuất báo cáo kết quả việc thực hiện Kế hoạch này về UBND tỉnh (qua Công an tỉnh) để tổng hợp, báo cáo theo quy định.

2. Trách nhiệm cụ thể

2.1. Công an tỉnh

- Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan và UBND các huyện, thị xã, thành phố tham mưu cho UBND tỉnh triển khai, thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác đảm bảo an ninh, trật tự, cải cách tư pháp theo quy định. Triển khai thực hiện các đề án, chương trình đã được phê duyệt nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động nghiệp vụ của lực lượng Công an trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; chịu trách nhiệm thực hiện các mục tiêu về phòng ngừa nghiệp vụ, phát hiện, điều tra tội phạm, truy bắt, vận động đối tượng truy nã đầu thú, thi hành án hình sự, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam, trong đó trọng tâm là mục tiêu không để xảy ra oan, sai, bức cung, dùng nhục hình trong hoạt động điều tra.

- Rà soát, nghiên cứu, tham mưu UBND tỉnh đề nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan để phòng, chống oan, sai trong hoạt động tố tụng hình sự. Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành triển khai, thi hành các Bộ luật, luật; đề xuất sửa chữa, nâng cấp các cơ sở giam, giữ phục vụ công tác quản lý tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự. Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Chấp hành nghiêm quy định, quy trình điều tra án, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, công tác điều tra ban đầu, nhất là đối với các vụ án giết người, hiếp dâm không quả tang; thực hiện hiệu quả các biện pháp chống bức cung, dùng nhục hình.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư, người bào chữa tham gia các hoạt động tố tụng của Cơ quan điều tra theo quy định, tiếp nhận, nghiên cứu các kiến nghị của luật sư, người bào chữa trong quá trình điều tra, thu thập, đánh giá chứng cứ nhằm bảo đảm kết luận điều tra vụ án khách quan, toàn diện, chính xác, đúng pháp luật. Thủ trưởng cơ quan điều tra phải nêu cao tinh thần trách nhiệm phát hiện kịp thời, chấn chỉnh khắc phục những sơ hở, thiếu sót trong công tác bắt, giam giữ, điều tra, xử lý tội phạm; xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm và kiên quyết điều chuyển khỏi cơ quan điều tra những cá nhân vi phạm nghiêm trọng công tác điều tra vụ án hình sự, đồng thời xử lý trách nhiệm liên quan của Thủ trưởng trực tiếp nếu để xảy ra oan, sai, bức cung, dùng nhục hình. Đơn vị có cán bộ, chiến sĩ Công an bị khởi tố, kỷ luật do để xảy ra oan, sai, bức cung, dùng nhục hình phải tổ chức kiểm điểm nghiêm túc, đồng thời thông báo cho các đơn vị trong lực lượng biết để chấn chỉnh, rút kinh nghiệm.

- Chủ động phối hợp chặt chẽ với TAND, VKSND trong việc rà soát xem xét, giải quyết dứt điểm các đơn khiếu nại kêu oan, nhất là đơn kêu oan của người bị kết án có mức hình phạt tù 20 năm trở lên, tù chung thân, tử hình nhằm phòng ngừa, phát hiện và chấn chỉnh những sai phạm có thể xảy ra, khẩn trương kết thúc điều tra đối với các vụ án mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hủy bản án có hiệu lực pháp luật để điều tra lại; tập trung giải quyết các vụ án đã quá thời hạn luật định, phối hợp xử lý dứt điểm những vụ án kéo dài trên 05 năm và các vụ án khác được dư luận, xã hội quan tâm.

- Tăng cường công tác quản lý, đào tạo cán bộ để nâng cao chất lượng công tác giám định kỹ thuật hình sự, chủ động nghiên cứu, đề xuất Bộ Công an bổ sung, hoàn thiện văn bản quy định quy trình, quy chuẩn giám định trong lĩnh vực này.

- Làm tốt công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức nghề nghiệp, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và trách nhiệm công vụ cho cán bộ, chiến sĩ trong hoạt động điều tra, bổ sung biên chế phù hợp cho các đơn vị đang thụ lý, giải quyết nhiều vụ án, tránh áp lực quá nhiều công việc dẫn đến oan, sai, bỏ lọt tội phạm. Xem xét, thực hiện nghiêm trách nhiệm hoàn trả đối với người thi hành công vụ trong Công an nhân dân đã gây thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

2.2. Sở Tư pháp: Chủ trì, phối hợp các sở, ban, ngành, đoàn thể và UBND các huyện, thị xã, thành phố nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, theo dõi, đôn đốc việc triển khai các dự án luật, pháp lệnh và văn bản quy phạm pháp luật theo quy định. Nâng cao chất lượng công tác kiểm soát thủ tục hành chính, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, kịp thời phát hiện, xử lý và kiến nghị xử lý theo quy định. Phối hợp các cơ quan liên quan trong việc mở lớp đào tạo nghề luật sư, nâng cao tính chuyên nghiệp và đạo đức nghề nghiệp của luật sư, giám sát luật sư trong việc tuân thủ pháp luật, thực hiện tốt trách nhiệm bào chữa, cung cấp dịch vụ pháp lý, nhất là đối với những trường hợp bào chữa chỉ định theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tố tụng.

2.3. Sở Tài chính: Chủ trì, phối hợp Công an tỉnh và các cơ quan liên quan cân đối, đề xuất dự toán ngân sách hằng năm để bảo đảm kinh phí phục vụ cho hoạt động tố tụng hình sự. Tăng cường công tác quản lý cán bộ, nâng cao chất lượng công tác giám định tài chính - kế toán phục vụ công tác điều tra các vụ án kinh tế, tránh oan sai.

2.4. Sở Kế hoạch và Đầu tư: Chủ trì, phối hợp Sở Tài chính, Công an tỉnh nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường huy động các nguồn lực và bố trí vốn đầu tư trang bị phương tiện, cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật đầu tư công để nâng cấp trang thiết bị cho hoạt động điều tra, khám nghiệm hiện trường, giám định tư pháp, nhất là các nguồn vốn đầu tư xây dựng, cải tạo Trại tạm giam, Nhà tạm giữ, Kho vật chứng, lắp đặt các thiết bị ghi âm, ghi hình có âm thanh để ghi nhận chứng cứ, chống bức cung, dùng nhục hình và bảo đảm các phương tiện làm việc cần thiết khác theo quy định của pháp luật khi có đề án của Chính phủ.

2.5. Sở Y tế: Chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh, Sở Tư pháp và các sở, ban, ngành có liên quan tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo tăng cường công tác quản lý, đào tạo cán bộ để nâng cao chất lượng công tác giám định pháp y, đề xuất Bộ Y tế hoàn thiện, ban hành quy trình, quy chuẩn giám định trong các lĩnh vực này.

2.6. Các sở, ngành quản lý chuyên môn về lĩnh vực giám định kỹ thuật hình sự, giám định pháp y, giám định tài chính - kế toán, lâm nghiệp, môi trường, xây dựng… chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp tăng cường công tác quản lý, đào tạo cán bộ để nâng cao chất lượng công tác giám định các lĩnh vực nêu trên; đồng thời, theo chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền bổ sung, hoàn thiện và ban hành quy trình, quy chuẩn giám định trong các lĩnh vực này.

2.7. UBND các huyện, thị xã, thành phố: Chỉ đạo, triển khai thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống oan, sai và bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự; chịu trách nhiệm thực hiện tốt các mục tiêu đề ra trong Kế hoạch của UBND tỉnh ở địa phương mình và phối hợp với các sở, ngành có liên quan triển khai thực hiện các hoạt động của Kế hoạch này.

2.8. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các đoàn thể tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ phối hợp với Công an tỉnh và các sở, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố tham gia triển khai thực hiện Kế hoạch này đạt hiệu quả.

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các sở, ngành, đoàn thể tỉnh; UBND các huyện, thị xã, thành phố xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện hiệu quả các nội dung của Kế hoạch này và Nghị quyết số 96/2015/QH13 ngày 26/6/2015 của Quốc hội; chấp hành nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo định kỳ, hằng năm hoặc đột xuất về tình hình, kết quả thực hiện các biện pháp phòng, chống oan, sai và bảo đảm bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, gửi UBND tỉnh (qua Công an tỉnh) để tổng hợp, báo cáo theo quy định.

2. Giao Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với sở, ban, ngành liên quan giúp UBND tỉnh theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và hướng dẫn việc thực hiện Kế hoạch này; tổng hợp, báo cáo theo quy định./.

 

 

Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ;
- Bộ Công an;
- TT.Tỉnh ủy, TT.HĐND tỉnh;
- UBMTTQVN tỉnh;
- Chủ tịch, các PCT UBND tỉnh;
- Các sở, ban, ngành và đoàn thể tỉnh;
- Công an tỉnh (PV11);
- UBND các huyện, thị xã, thành phố;
- Chánh, PCVP UBND tỉnh;
- Lưu VT, NCT.

CHỦ TỊCH




Hoàng Văn Trà

 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 156/KH-UBND

Loại văn bảnVăn bản khác
Số hiệu156/KH-UBND
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành19/10/2016
Ngày hiệu lực19/10/2016
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcThủ tục Tố tụng, Trách nhiệm hình sự
Tình trạng hiệu lựcKhông xác định
Cập nhật3 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 156/KH-UBND

Lược đồ Kế hoạch 156/KH-UBND chống oan sai bồi thường cho người bị thiệt trong tố tụng hình sự Phú Yên 2016


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Kế hoạch 156/KH-UBND chống oan sai bồi thường cho người bị thiệt trong tố tụng hình sự Phú Yên 2016
                Loại văn bảnVăn bản khác
                Số hiệu156/KH-UBND
                Cơ quan ban hànhTỉnh Phú Yên
                Người kýHoàng Văn Trà
                Ngày ban hành19/10/2016
                Ngày hiệu lực19/10/2016
                Ngày công báo...
                Số công báo
                Lĩnh vựcThủ tục Tố tụng, Trách nhiệm hình sự
                Tình trạng hiệu lựcKhông xác định
                Cập nhật3 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản được căn cứ

                    Văn bản hợp nhất

                      Văn bản gốc Kế hoạch 156/KH-UBND chống oan sai bồi thường cho người bị thiệt trong tố tụng hình sự Phú Yên 2016

                      Lịch sử hiệu lực Kế hoạch 156/KH-UBND chống oan sai bồi thường cho người bị thiệt trong tố tụng hình sự Phú Yên 2016

                      • 19/10/2016

                        Văn bản được ban hành

                        Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                      • 19/10/2016

                        Văn bản có hiệu lực

                        Trạng thái: Có hiệu lực