Văn bản khác 96/KH-UBND

Kế hoạch 96/KH-UBND năm 2016 nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển ngành nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2016-2020 do tỉnh Lạng Sơn ban hành

Nội dung toàn văn Kế hoạch 96/KH-UBND nâng cao chất lượng nhân lực phát triển nông nghiệp nông thôn Lạng Sơn 2016 2020


ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 96/KH-UBND

Lạng Sơn, ngày 09 tháng 9 năm 2016

 

KẾ HOẠCH

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN 2016 - 2020

Căn cứ Quyết định số 1323/QĐ-BNN-TCCB ngày 17/6/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2014- 2020;

Căn cứ Quyết định số 70/QĐ-UBND ngày 20/01/2011 của Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn về việc phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020”; Quyết định số 953/QĐ-UBND ngày 11/6/2016 về việc ban hành kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016-2020 và Kế hoạch số 88/KH-UBND ngày 02/8/2016 về đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn giai đoạn 2017-2020;

Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn ban hành kế hoạch nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển ngành nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2016 - 2020 với các nội dung sau:

I. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT)

1. Thực trạng đội ngũ công chức, viên chức ngành NN&PTNT

1. 1. Thực trạng đội ngũ công chức:

a) Quy mô số lượng:

Cán bộ, công chức toàn ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn tính đến 31/12/2015 là 611 người, trong đó: công tác tại cấp tỉnh là 309 người, cấp huyện là 89 người, cấp xã là 213 người.

b) Cơ cấu chức danh và trình độ:

- Theo trình độ chuyên môn: Tiến sỹ: 01 người, chiếm 0,16%; Thạc sỹ: 28 người, chiếm 4,58%; Đại học: 386 người, chiếm 63,17%; Cao đẳng 42 người, chiếm 6,87%; Trung cấp, sơ cấp: 154 người, chiếm 25,2%.

- Theo trình độ lý luận chính trị: Cao cấp: 47 người, chiếm 7,7%; Trung cấp: 57 người chiếm 9,3% trong tổng số công chức toàn ngành;

- Về trình độ quản lý nhà nước: Chuyên viên cao cấp: 04 người, chiếm 1,0%; Chuyên viên chính hoặc tương đương: 46 người, chiếm 11,6%; Chuyên viên hoặc tương đương: 205 người, chiếm 51,5%; Chưa qua bồi dưỡng quản lý nhà nước: 143 người chiếm 35,9%;

- Công chức xã phụ trách lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy lợi: 213 người.

1.2. Thực trạng đội ngũ viên chức:

Tính đến 31/12/2015, toàn ngành có 272 người, về cơ bản trong những năm qua trình độ chuyên môn của đội ngũ viên chức trong ngành được nâng lên rõ rệt, hiện tại có 239 người có trình độ đại học trở lên chiếm 87% (trong đó 17 người có trình độ thạc sĩ), còn lại 33 người có trình độ từ cao đẳng, trung cấp và sơ cấp chiếm 23%.

Viên chức đã được đào tạo, bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị là 16 người, trong đó cao cấp và cử nhân là 06 người chiếm 2,2% tổng số viên chức, trung cấp là 10 người chiếm 3,6%.

Theo tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo quản lý, số viên chức còn thiếu tiêu chuẩn về lý luận chính trị là 46 người đối với các vị trí lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo các phòng, trạm trực thuộc đơn vị.

1.3. Kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức giai đoạn 2010-2015

Trong 05 năm đã có 329 lượt công chức, viên chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý nhà nước, cụ thể:

Đào tạo trình độ chuyên môn đại học, sau đại học: 131 lượt người (24 thạc sĩ, 117 đại học); Đào tạo lý luận chính trị trong đó: cao cấp 23 người, trung cấp 27 người; Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước: chuyên viên cao cấp 2 người, chuyên viên chính 24 người, chuyên viên và tương đương 112 người.

Năm 2016 đang được thực hiện theo kế hoạch của tỉnh đã phê duyệt.

(Chi tiết theo biểu 01, 02 đính kèm)

1.4. Đánh giá chung về đội ngũ công chức, viên chức

Đội ngũ cán bộ công chức, viên chức ngành NN&PTNT nhìn chung có bản lĩnh chính trị vững vàng; có kiến thức trình độ và năng lực, kinh nghiệm hoạt động thực tiễn; có tinh thần trách nhiệm và ý thức kỷ luật, đoàn kết; khắc phục khó khăn để học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, văn hóa, kiến thức về kinh tế thị trường, quản lý nhà nước, pháp luật, nghiệp vụ hành chính, ngoại ngữ, tin học trình độ của cán bộ, công chức, viên chức ngày được nâng cao. Tuy nhiên bên cạnh đó còn bộc lộ một số hạn chế đó là:

- Chất lượng công chức, viên chức hiện nay vẫn chưa đồng đều, một bộ phận chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới. Mặc dù công tác đào tạo, bồi dưỡng được chú trọng, số lượng công chức qua các khóa đào tạo, bồi dưỡng tăng lên qua các năm, nhưng nhìn chung số lượng còn ít, việc vận dụng kiến thức về lý luận chính trị, quản lý nhà nước, quản lý kinh tế vào thực tế chỉ đạo, điều hành thực thi công việc còn một số mặt chưa phù hợp.

- Trình độ ngoại ngữ nói chung chưa đáp ứng được yêu cầu, tính đến thời điểm hiện nay số cán bộ công chức, viên chức có thể sử dụng ngoại ngữ trong giao tiếp, tham gia các hội nghị, hội thảo còn rất ít; chỉ khoảng 5% công chức, viên chức có trình độ ngoại ngữ đạt trình độ trung cấp, về trình độ tin học chủ yếu có chứng chỉ tin học văn phòng.

- Công chức xã tuy được đào tạo, bồi dưỡng nhưng tỷ lệ có trình độ đại học, cao đẳng chuyên ngành quản lý, kỹ thuật nông nghiệp (nhóm ngành nông, lâm nghiệp) ít, chiếm 30%, chất lượng không đồng đều.

- Cán bộ công chức, viên chức vững về chuyên môn nghiệp vụ và có kinh nghiệm đa số thuộc diện lớn tuổi.

2. Đội ngũ kỹ thuật viên (Khuyến nông viên, Thú y viên)

2.1. Thực trạng

Tính đến 31/12/2015 đội ngũ khuyến nông viên cơ sở có số lượng 243 người trong đó đại học 41 người tỷ lệ 16,9%, cao đẳng 15 người tỷ lệ 6,1 %, trung cấp 125 người tỷ lệ 51,4%, sơ cấp 4 người tỷ lệ 1,6%, chưa qua đào tạo 58 người tỷ lệ 24%, trình độ ngoại ngữ và tin học cơ bản chưa được đào tạo, bồi dưỡng.

Tính đến 31/12/2015 đội ngũ thú y viên cơ sở có số lượng 262 người trong đó trình độ đại học 88 người đạt tỷ lệ 34% cao đẳng 41 người đạt 15%, trung cấp 133 người đạt 51%, trình độ ngoại ngữ và tin học văn phòng cơ bản chưa được đào tạo bồi dưỡng (Chi tiết theo biểu 01 đính kèm).

2.2. Đánh giá chung

Đây là đội ngũ đông đảo, là cánh tay “nối dài” của hệ thống quản lý chuyên ngành; trực tiếp làm việc ở địa bàn nông thôn. Tuy nhiên, về tổ chức, cơ chế quản lý, chế độ, chính sách chưa đồng bộ. Lực lượng khuyến nông viên, thú y cơ sở đa số đã có chứng chỉ, bằng cấp về trồng trọt, chăn nuôi thú y, lâm nghiệp, công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật, công tác phòng chống dịch bệnh, song trình độ, năng lực nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

Khuyến nông viên, Thú y cơ sở xã, phường, thị trấn tuy được đào tạo nhưng chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, kỹ thuật, kỹ năng thực thi nhiệm vụ còn hạn chế. Đa số khuyến nông viên và thú y cơ sở còn trẻ độ tuổi từ 20 đến 40 tuổi chiếm tỷ lệ 95% tuy có nhiệt tình và năng động nhưng trình độ chuyên môn, khả năng vận động quần chúng, phương pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ còn hạn chế.

3. Lao động nông thôn

3.1. Kết quả đào tạo nghề lao động nông thôn

Cơ cấu lao động đang từng bước chuyển dịch theo hướng tích cực, song số lao động làm việc trong các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chiếm tỷ lệ thấp, trong khi lao động ở khu vực nông, lâm nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ rất cao có 416.230 người chiếm 82,41%. Trong giai đoạn 2011-2015 toàn tỉnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn được 15.568 người, với tổng kinh phí hỗ trợ 23.355 triệu đồng. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 33% năm 2010 lên 43,4% năm 2015, bình quân mỗi năm tăng từ 2,0 đến 2,2%.

Hằng năm tuyển mới dạy nghề từ 8.000 đến 9.000 người, trong đó: Cao đẳng nghề 200 người, Trung cấp 1.400 người, Sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên từ 6.500 đến 7.500 người. Trên 70% số lao động nông thôn được đào tạo nghề đã áp dụng có hiệu quả vào phát triển kinh tế hộ, tự tạo việc làm (Chi tiết theo biểu 03 đính kèm).

3.2. Đánh giá chung về công tác đào tạo nghề

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn góp phần tích cực trong việc thay đổi tư duy lao động sản xuất của người nông dân, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm và giảm nghèo bền vững khu vực nông thôn. Tạo được sự chuyển biến cơ bản trong nhận thức của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị, xã hội và người lao động về vai trò quan trọng của đào tạo nghề cho lao động nông thôn đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân trên địa bàn tỉnh.

Lao động nông thôn tham gia học nghề được trang bị những kiến thức cơ bản theo từng ngành nghề được đào tạo, trực tiếp tham gia vào quá trình thực hành, để vận dụng vào phát triển sản xuất tại gia đình, được tư vấn nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm hoặc tự tạo việc làm, vận dụng kiến thức đã học vào thực tế sản xuất kinh doanh tại địa phương, gia đình, góp phần tăng thu nhập, ổn định cuộc sống.

Tuy nhiên, một bộ phận lao động nông thôn chưa nhận thức đầy đủ về việc học nghề để tạo việc làm và phát triển kinh tế gia đình; Học viên chủ yếu là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp nên tiếp thu kiến thức chậm. Sau đào tạo chưa mạnh dạn đầu tư vào sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp theo mô hình sản xuất hàng hóa, dịch vụ nông nghiệp. Công tác điều tra, khảo sát nhu cầu học nghề của người lao động chưa sát với thực tế, số lao động nông thôn đăng ký học nghề chiếm tỷ lệ cao, tuy nhiên khi tuyển sinh học nghề lại gặp khó khăn, ngành nghề đăng ký học thay đổi, phong tục tập quán canh tác của người dân, thời vụ sản xuất... cũng ảnh hưởng đến công tác tuyển sinh, tổ chức lớp.

4. Đội ngũ cán bộ quản lý Hợp tác xã, Tổ hợp tác nông nghiệp

4.1. Đối với Hợp tác xã

a) Thực trạng: Tính đến 31/12/2015 có 50 Hợp tác xã nông nghiệp (HTX) phân loại HTX theo lĩnh vực hoạt động chính bao gồm: Trồng trọt 06, chăn nuôi 06, thủy lợi 02, lâm nghiệp 08, thủy sản 11, dịch vụ tổng hợp 17, bình quân 01 HTX có 28 thành viên. Các HTX đã thực hiện đa dạng hóa các hoạt động sản xuất kinh doanh mở rộng các ngành nghề dịch vụ, tiêu thụ nông sản, xác định việc đảm nhận dịch vụ trong khâu sản xuất với giá thành hợp lý. Hoạt động của HTX đã góp phần nhỏ bé của mình nhằm phục vụ các nhu cầu kinh tế, đời sống của thành viên, phát triển cộng đồng, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị ở cơ sở.

b) Về đội ngũ quản lý HTX: Hiện số lượng cán bộ quản lý 204 người, trong đó Ban quản trị, kiêm giám đốc 149 người, Ban kiểm soát 53 người. Trình độ sơ cấp 13 người chiếm 6,4%, trung cấp 31 người chiếm 15,2%, đại học và cao đẳng 27 người chiếm 13,2%; số cán bộ quản lý chưa qua đào tạo là 133 người chiếm gần 65,2%. (Chi tiết theo biểu 04 đính kèm).

c) Đánh giá về đội ngũ cán bộ quản lý HTX: Nhận thức về HTX của cán bộ quản lý các cấp và kể cả cán bộ HTX cũng như hầu hết thành viên đều chưa đầy đủ và thấu đáo về bản chất, nguyên tắc và giá trị của HTX kiểu mới theo Luật Hợp tác xã năm 2012.

Đội ngũ cán bộ quản lý các HTX còn hạn chế về trình độ, năng lực tổ chức quản lý, điều hành và nghiệp vụ chuyên môn. Đa số cán bộ quản lý mới chỉ được tham gia các khóa bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ ngắn ngày.

Hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển HTX và lợi ích ngày càng tăng của thành viên, phần lớn HTX không có khả năng tích lũy từ nội bộ để tái đầu tư. Hoạt động của HTX phản ánh qua doanh thu và lãi thấp; lợi ích mang lại cho thành viên chưa nhiều.

Năng lực nội tại của nhiều HTX nông nghiệp còn yếu kém về cả tài chính, cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ và quy mô hoạt động. Hoạt động của các hợp tác xã còn thiếu sự liên kết, hệ thống chặt chẽ cả về mặt kinh tế, xã hội và tổ chức. Các hoạt động liên doanh, liên kết trong sản xuất, kinh doanh giữa các hợp tác xã với nhau còn hạn chế.

4.2. Đối với Tổ hợp tác (THT)

a) Thực trạng:

Tính đến 31/12/2015 trên địa bàn tỉnh có 315 tổ hợp tác (THT). Được phân theo lĩnh vực: thủy lợi 282, nước sinh hoạt 5, trồng trọt và lâm nghiệp 10, chăn nuôi 10, thủy sản 2, nghề nông nghiệp 2, dịch vụ tổng hợp 4 THT.

Các THT bước đầu đã khắc phục được một số điểm yếu của kinh tế hộ. Từ đó giúp đỡ nhau trong sản xuất, đời sống, góp phần xóa đói giảm nghèo. Đồng thời Tổ hợp tác thuận tiện cho việc tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

b) Đội ngũ cán bộ quản lý THT: Về số lượng cán bộ quản lý THT hiện có là 608 người (gồm tổ trưởng, tổ phó, kỹ thuật nghiệp vụ); trình độ chuyên môn sơ cấp 15 người chiếm 2%, trung cấp 18 người chiếm 3% cao đẳng và đại học 14 người chiếm 3 %, chưa qua đào tạo trình độ chuyên môn 561 người chiếm 92%; trình độ chính trị sơ cấp 34 người đạt 6 %, trung cấp 23 người chiếm 4% còn lại 551 chưa qua đào tạo người chiếm 91% chưa qua đào tạo (Chi tiết theo biểu 05 đính kèm).

c) Đánh giá về đội ngũ cán bộ quản lý THT

Cán bộ quản lý chưa được đào tạo, bồi dưỡng bài bản nên quá trình quản lý các hoạt động dịch vụ của nhiều THT chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế hộ thành viên. Nhiều THT nông nghiệp tổ chức chỉ được 1 - 2 dịch vụ, nhưng hoạt động kém hiệu quả. Thu nhập của các THT còn thấp, không ổn định, thu nhập bình quân của lao động thường xuyên trong THT chỉ 1,5 triệu đồng/tháng.

Chưa cập nhật được các thông tin phục vụ cho sản xuất và tiêu thsản phẩm, năng lực, trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý tổ hợp tác yếu nên định hướng trong sản xuất, tiếp cận với các cơ chế chính sách của Nhà nước còn hạn chế. Nhiều Tổ hợp tác chưa đăng ký với chính quyền xã nên gặp khó khăn trong giao dịch kinh tế.

4.3. Kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý các HTX, THT giai đoạn 2010-2015.

Trong 5 năm đã tổ chức đào tạo bồi dưỡng về quản lý, tuyên truyền, thăm quan học tập mô hình cho cán bộ quản lý các Hợp tác xã, Tổ hợp tác được 503 lượt người. Nhìn chung kết quả đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ quản lý HTX, THT còn thấp (chi tiết theo biểu 06 đính kèm).

5. Đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước

5.1. Số lượng quy mô hoạt động

Hiện trên địa bàn tỉnh có 01 Doanh nghiệp nhà nước thuộc UBND tỉnh hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp là Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi với vốn điều lệ 25 tỷ đồng (100% vốn nhà nước).

5.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ: Tổng số lao động của Công ty tính đến thời điểm 31/12/2015 là 218 người, trong đó: Trình độ đại học 87 người; Cao đẳng, trung cấp: 67 người; Công nhân: 64 người;

5.3. Đánh giá

Đội ngũ lãnh đạo quản lý doanh nghiệp cơ bản được đào tạo đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Tuy nhiên chất lượng nguồn nhân lực chưa đồng đều, chưa được bồi dưỡng, tập huấn thường xuyên, trình độ năng lực chưa đáp ứng được với yêu cầu thực tế nhiệm vụ.

6. Đánh giá chung về nguồn nhân lực phục vụ phát triển ngành nông nghiệp, nông thôn tỉnh Lạng Sơn

6.1. Những mặt được

Nguồn nhân lực ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn có số lượng đông nhiều ngành nghề. Có bề dày kinh nghiệm, nắm được tình hình trong việc chỉ đạo, quản lý, hướng dẫn kỹ thuật nông - lâm - ngư nghiệp. Từ nhiều năm nay việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực được Lãnh đạo tỉnh, ngành, các huyện quan tâm triển khai thực hiện, đã xây dựng được nguồn nhân lực cho ngành, từng bước đáp ứng được nhu cầu về số lượng, chất lượng đóng góp quan trọng việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của ngành.

Trong những năm qua, nguồn nhân lực đã góp phần cho tăng trưởng trong sản xuất nông - lâm nghiệp; từng bước có sự chuyển dịch hiệu quả về cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn; đời sống nông dân được cải thiện rõ rệt, góp phần quan trọng trong việc xóa giảm nghèo.

Chất lượng nguồn nhân lực tăng, tỷ lệ được đào tạo cơ bản, chuyên sâu ngày càng cao, ngành học phù hợp với vị trí công việc, đáp ứng được yêu cầu thực thi nhiệm vụ. Quy mô, chất lượng nhân lực của ngành có sự gia tăng trên tất cả các lĩnh vực, nhiều lao động nông thôn được đào tạo nghề đã đạo được việc làm ổn định, một số cán bộ quản lý Hợp tác xã đã được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý.

6.2. Hạn chế yếu kém nguyên nhân

Số lượng cán bộ công chức, viên chức có bằng cấp, chứng chỉ tăng lên, nhưng chất lượng một số mặt còn hạn chế, chưa đồng đều giữa khối, khu vực quản lý nhà nước, sự nghiệp và Hợp tác xã, Tổ hợp tác, khối doanh nghiệp,… nhiều công chức, viên chức được đào tạo từ các chuyên ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, cơ khí nông nghiệp, thủy lợi, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp… Tuy nhiên, các vị trí lãnh đạo và quản lý hiện tại cần đòi hỏi phải được trang bị thêm về kiến thức, kỹ năng quản lý kinh tế, quản trị, hành chính công, hội nhập quốc tế.

Một bộ phận cán bộ công chức, viên chức còn thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu khả năng làm việc độc lập, nên hiệu quả công tác chưa cao; tác phong, lề lối làm việc chậm đổi mới; văn hóa công sở, giao tiếp hành chính và thái độ ứng xử chưa thể hiện tính chuyên nghiệp trong thực thi công vụ.

Ngoài ra một số công chức, viên chức trình độ, kỹ năng hạn chế, kể cả một bộ phận nguồn nhân lực đã qua đào tạo cũng chưa đáp ứng với việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới, chưa đáp ứng được với hội nhập kinh tế quốc tế; tính chủ động, sáng tạo trong triển khai thực hiện công việc còn hạn chế. Trình độ ngoại ngữ, tin học của đội ngũ công chức, viên chức chủ yếu đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn chứng chỉ, khả năng giao tiếp ngoại ngữ còn nhiều yếu kém.

Tỷ lệ người lao động được đào tạo lại, bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng còn thấp. Số lượng, cơ cấu ngành chưa hợp lý, chưa cân đối các lĩnh vực hoạt động (Kỹ thuật viên, cán bộ quản lý HTX, THT, quản lý doanh nghiệp); thiếu cán bộ giỏi, chuyên gia đầu ngành, cán bộ có chuyên môn cao, có kinh nghiệm trong các lĩnh vực như thủy lợi, biến đổi khí hậu, quản lý khai thác tài nguyên nước, hoạch định chính sách quản lý nhà nước tầm vĩ mô.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã, khuyến nông viên, thú y viên cơ sở còn nhiều khó khăn bất cập đây chính là đội ngũ quan trọng trực tiếp thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, CNH-HĐH nông nghiệp - nông thôn, tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

Năng lực thực tế của một bộ phận công chức cấp xã phụ trách lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy lợi còn yếu so với yêu cầu nhiệm vụ, một số còn tỏ ra lúng túng, làm việc thụ động, nhiều khi có biểu hiện trông chờ, ỷ lại; bất cập về kiến thức, năng lực và kỹ năng công tác.

Sự phối hợp, thống nhất quản lý, sử dụng nguồn nhân lực phục vụ nông nghiệp còn bất cập, thiếu động lực để khuyến khích sự phát triển nhân lực của ngành.

Việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trong thời gian qua tuy có sự quan tâm, nhưng chất lượng và hiệu quả chưa cao, chưa tạo được đội ngũ nhân lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Chế độ phụ cấp cho khuyến nông viên, thú y cơ còn nhiều bất cập, có xã, khuyến nông, thú y phải kiêm nhiệm nhiều việc nên đầu tư thời gian, công sức vào hoạt động chuyên môn chưa nhiều... địa bàn rộng, dân cư rải rác; việc tuyên truyền, vận động, triển khai công việc nhiều khó khăn.

Công tác xây dựng kế hoạch đào tạo nghề hàng năm và lựa chọn nghề của một số địa phương để tổ chức đào tạo cho người lao động chưa phù hợp với nhu cầu của người lao động, hiệu quả giải quyết việc làm cho người lao động sau đào tạo nghề thấp; các ngành nghề đào tạo, vẫn chủ yếu tập trung vào các nghề nông nghiệp, các lớp nghề phi nông nghiệp còn ít được tổ chức.

Đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp còn hạn chế về khả năng tiếp cận thông tin thị trường, khoa học công nghệ, kỹ năng quản lý điều hành.

II. Phạm vi, đối tượng và mục tiêu

1. Phạm vi, đối tượng

1.1. Phạm vi

Kế hoạch: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển ngành nông nghiệp,nông thôn giai đoạn 2016-2020” thực hiện trên địa bàn toàn tỉnh; nội dung trọng tâm của Kế hoạch là đào tạo  bồi dưỡng nguồn nhân lực.

1.2. Đối tượng

- Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các đơn vị trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp huyện, Phòng Kinh tế thành phố.

- Công chức xã phụ trách địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (công chức xã phụ trách lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy lợi).

- Đội ngũ kỹ thuật viên: Khuyến nông viên, Thú y viên cơ sở.

- Lao động nông thôn: Từ đủ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ, có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học (thực hiện theo Đề án, đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020).

- Cán bộ quản lý Hợp tác xã, Tổ hợp tác dịch vụ nông nghiệp;

- Cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp của tỉnh.

2. Mục tiêu

2.1. Mục tiêu chung:

Xây dựng đội ngũ nhân lực ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2016-2020 đảm bảo số lượng, hợp lý về cơ cấu và trình độ đáp ứng yêu cầu phát triển của nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, đa dạng, bền vững có chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao theo định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới.

2.2. Mục tiêu cụ thể

- 100% công chức, viên chức được quản lý thông qua tiêu chuẩn theo chức danh ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ. Phấn đấu đến năm 2020 có trên 70% đội ngũ CBCCVC lãnh đạo, quản lý và quy hoạch trước khi bổ nhiệm chức vụ Trưởng, Phó phòng thuộc Sở và tương đương được đào tạo từ trình độ Trung cấp lý luận chính trị trở lên, 100% công chức, viên chức quy hoạch lãnh đạo quản lý cấp phòng và tương đương được bồi dưỡng tiêu chuẩn lãnh đạo quản lý trước khi bổ nhiệm.

- 70% công chức địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường cấp xã (công chức cấp xã phụ trách lĩnh vực nông lâm nghiệp và thủy lợi) được đào tạo, bồi dưỡng về quản lý nhà nước chuyên ngành nông nghiệp hàng năm.

- 100% số kỹ thuật viên được đào tạo, bồi dưỡng (được cấp chứng chỉ đủ điều kiện hành nghề) đáp ứng yêu cầu làm việc ở địa bàn nông thôn tham gia lĩnh vực cung ứng dịch vụ kỹ thuật, sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp.

- 55% lao động nông thôn được đào tạo, bồi dưỡng nghề ngắn hạn, được cấp chứng chỉ.

- 80% số cán bộ quản lý Hợp tác xã, Tổ hợp tác được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nông nghiệp.

- 90% số cán bộ quản lý trong doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp được đào tạo chuyên ngành, quản trị, hội nhập.

III. Nội dung

1. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức

Kế hoạch đào tạo giai đoạn 2016 -2020 cho cán bộ công chức, viên chức về chuyên môn, nghiệp vụ sau đại học là 30 người (phấn đấu đạt trên 10% công chức, viên chức), đại học 30 người; lý luận chính trị cao cấp, trung cấp 63 người (phấn đấu 100% công chức, viên chức đạt chuẩn theo tiêu chuẩn vị trí lãnh đạo); Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước theo tiêu chuyển ngạch công chức hành chính, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, công chức theo ngạnh, viên chức theo chức danh nghề nghiệp 557 người (phấn đấu 100% công chức, viên chức đạt chuẩn theo tiêu chuẩn theo ngạch, chức danh nghề nghiệp); Bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ 2.250 người (chi tiết theo biểu số 07).

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức vững vàng về chính trị, thông thạo chuyên môn, nghiệp vụ, đạt chuẩn theo chức danh, ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp đối với viên chức. Đảm bảo tất cả cán bộ, công chức ở các ngạch, vị trí công tác được đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng hành chính theo yêu cầu của từng ngạch công chức. Cán bộ, công chức trong quy hoạch được đào tạo, bồi dưỡng các kỹ năng lãnh đạo, quản lý trước khi đề bạt, bổ nhiệm.

Tập trung xây dựng và phát triển đội ngũ công chức hành chính nhà nước có trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; năng lực quản lý nhà nước, năng lực dự báo, hoạch định và tham mưu tổng hợp đáp ứng nhu cầu cải cách hành chính, thúc đẩy tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế xã hội; nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học.

Nâng cao chất lượng tuyển dụng, hình thành đội ngũ công chức, viên chức, chuyên gia giỏi, có trình độ chuyên môn sâu, nhất là có khả năng ứng dụng, chuyển giao khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hội nhập quốc tế. Quản lý, sử dụng chặt chẽ nguồn nhân lực thông qua cơ chế giám sát, đánh giá kết quả thực thi nhiệm vụ.

Thực hiện luân chuyển, điều động đi cơ sở theo định kỳ đối với công chức, viên chức nhằm nâng cao khả năng thực tiễn và kinh nghiệm của cán bộ đối với nhiệm vụ được giao.

2. Bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ công chức xã phụ trách lĩnh vực nông lâm nghiệp  thủy lợi

Bồi dưỡng, tập huấn kiến thức chuyên ngành 650 lượt người. Nội dung bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ công chức xã chủ yếu là về kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, quản lý kinh tế - xã hội, kỹ năng tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, kế hoạch của cấp trên ở địa bàn xã, thôn. Quan tâm đối tượng cán bộ công chức cơ sở ở vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa.

3. Bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ kỹ thuật viên

Bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng vận dụng cho đội ngũ kỹ thuật viên như: kỹ thuật viên chăn nuôi, kỹ thuật phòng chống dịch bệnh, trồng trọt, nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2016-2020 là 575 lượt người (hàng năm bồi dưỡng cho 25% đội kỹ thuật viên trở lên). Bồi dưỡng cấp chứng chỉ hành nghề đối với đội ngũ kỹ thuật viên(505 người) hoạt động trong lĩnh vực thú y; bảo vệ thực vật và các dịch vụ nông nghiệp khác đạt 100 % theo quy định (chi tiết theo biểu 08 đính kèm)

4. Đào tạo nâng cao chất lượng lao động nông thôn

Đến 2020 đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn được 17.612 người chiếm 47% tổng số lao động nông thôn được đào tạo nghề (năm 2016 đang được triển khai thực hiện theo Quyết định số 70/QĐ-UBND ngày 20/01/2011 của Chủ tịch UBND tỉnh về phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020”; năm 2017 đào tạo được 3.787 người; năm 2018 đào tạo được 4.270 người; năm 2019 đào tạo được 4.550 người; năm 2020 đào tạo được 5.005 người).

Đào tạo có trọng tâm, trọng điểm lao động nông thôn ở trình độ sơ cấp nghề, có chứng chỉ nghề để đủ điều kiện hợp đồng lao động với các doanh nghiệp nông nghiệp. Tiếp tục mở rộng quy mô và đa dạng hóa các loại hình đào tạo, gắn đào tạo với sử dụng lao động, chú trọng tới công tác tuyển sinh đào tạo. Từng bước chuyển đào tạo từ hướng cung sang hướng cầu của thị trường lao động, đảm bảo đáp ứng lao động sau khi đào tạo biết vận dụng kiến thức đã được học vào sản xuất.

Chú trọng việc đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân và các chủ trang trại nhằm giúp họ nâng cao kiến thức hiểu biết về khoa học - kỹ thuật hướng tới nâng cao giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; biết làm nghề nông một cách khoa học, có kỹ năng quản lý, có kiến thức thị trường để lựa chọn nghề sản xuất ra loại sản phẩm có giá trị kinh tế cao; đồng thời, bồi dưỡng kiến thức để giúp họ tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch phát triển làng, xã, tự giác đóng góp xây dựng và quản lý sau xây dựng các công trình hạ tầng của cộng đồng.

Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn được thực hiện theo Kế hoạch số 88/KH-UBND ngày 02/8/2016 của UBND tỉnh Lạng Sơn về kế hoạch đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn giai đoạn 2017-2020.

5. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng cán bộ quản lý hợp tác xã, tổ hợp tác

Trong giai đoạn 2016-2020 đào tạo cán bộ quản lý HTX là 775 người trong đó đào tạo quản lý hợp tác xã 100 người, kỹ thuật chuyên ngành 100, đào tạo kiến thức quản trị 275 người, đào tạo tin học 100 người, Tuyên truyền, nghiên cứu, thăm quan học tập 200 người. Triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hàng năm, tích cực cung cấp thông tin, tư vấn trực tiếp cho từng HTX.

Đối với Tổ hợp tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền 950 người trong đó; Đào tạo chuyên môn quản lý 275 người, đào tạo tin học 275, tuyên truyền, thăm quan học tập mô hình 400 người cho THT nhằm khắc phục những khó khăn, hạn chế; nâng cao nhận thức của cán bộ, xã viên phát huy nội lực, nguồn lực tại chỗ.

Xây dựng và thực hiện theo các chương trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý HTX, THT, để có đội ngũ cán bộ quản lý HTX có đủ trình độ chuyên môn, đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ đòi hỏi các cấp, các ngành cần phải thực hiện lộ trình đào tạo bài bản, có tính thực tiễn cao mới giúp các HTX hoạt động hiệu quả và phát triển bền vững (Thực hiện theo Kế hoạch số 98/KH-UBND ngày 12/11/2014 của UBND tỉnh Lạng Sơn về đổi mới và phát triển các hình thức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp giai đoạn 2014-2020, Quyết định số 1130/QĐ-UBND ngày 06/7/2016 của UBND tỉnh Lạng Sơn).

(Chi tiết theo biểu 09 đính kèm)

6. Bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp

Triển khai kế hoạch đào tạo cho cán bộ quản lý doanh nghiệp 50 người, bằng nguồn kinh phí xã hội hóa. Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ quản lý của doanh nghiệp và nhân lực trong quy hoạch về kiến thức quản lý doanh nghiệp, hội nhập và tiến bộ khoa học kỹ thuật; bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ quản lý khai thác công trình thủy lợi cho lãnh đạo các đơn vị trực thuộc; tập huấn nghiệp vụ quản lý lao động, an toàn lao động trong vận hành các công trình cho lãnh đạo, nhằm quản lý sử dụng nguồn nước hiệu quả, tiết kiệm.

IV. Giải pháp và dự toán kinh phí thực hiện

1. Giải pháp

1.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, quan tâm của toàn xã hội đối với đào tạo, phát triển nguồn nhân lực

Nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền, mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội về chính sách phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, kỹ thuật viên, người lao động của ngành NN&PTNT trong thời kỳ mới.

Tăng cường công tác quản lý nguồn nhân lực lĩnh vực nông nghiệp trên các mặt công tác, thực hiện có hiệu quả việc nhận xét, đánh giá và phân loại hàng năm để bảo đảm công bằng, khách quan, toàn diện và sát với thực tiễn.

Tạo điều kiện và thường xuyên giáo dục, cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ quản lý HTX, THT, doanh nghiệp, người lao động có ý thức tự học tập, nghiên cứu, gắn bó với nghề nghiệp phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng tốt yêu cầu công việc.

Đào tạo nguồn nhân lực phải đảm bảo phù hợp với định hướng về cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong từng giai đoạn, từng thời kỳ phát triển nông nghiệp nông thôn.

1.2. Công tác tuyên truyền

Tăng cường công tác tuyên truyền, thông qua các hội nghị, cuộc họp, tư vấn tại chỗ, gián tiếp trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Thông qua truyền thông, tuyên truyền để làm cho mọi người thấy rõ vai trò và trách nhiệm của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong việc thực hiện các nhiệm vụ của toàn ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tuyên truyền nâng cao ý thức vượt khó vươn lên, tự học, ý thức “tự học suốt đời” của nguồn nhân lực trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt đội ngũ cán bộ công chức, viên chức trong ngành nông nghiệp.

1.3. Xây dựng và thực hiện chính sách khuyến khích phát triển nguồn nhân lực nông thôn

Kết hợp việc phát triển nguồn nhân lực với xây dựng chính sách thu hút đầu tư và phát triển đa dạng hóa các thành phần kinh tế giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông thôn.

Tạo môi trường làm việc tốt, điều kiện, phương tiện làm việc, phụ cấp để mọi người say mê, tâm huyết, yên tâm làm việc trong ngành nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Kết hợp việc phát triển nguồn nhân lực với xây dựng và thực hiện chính sách thu hút đầu tư và phát triển đa dạng hóa các thành phần kinh tế giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông thôn; huy động các nguồn lực để phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho khu vực nông thôn.

1.4. Thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng

Đào tạo, bồi dưỡng các nội dung, lĩnh vực phù hợp và cần thiết đối với nguồn nhân lực ngành nông nghiệp theo kế hoạch hàng năm được xây dựng trên cơ sthực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng gắn với công tác quy hoạch cán bộ của ngành nhằm góp phần chủ động tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý, đảm bảo tính kế thừa, phát triển, đáp ứng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài.

1.5. Bố trí nguồn lực tài chính và xã hội hóa công tác đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực

Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn là công việc đòi hỏi phải huy động tài chính từ nhiều nguồn, trong đó nguồn lực từ ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng.

Bố trí nguồn lực tài chính để thực hiện Kế hoạch, ưu tiên huy động các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu đề ra, đồng thời đa dạng hóa các nguồn lực từ doanh nghiệp, HTX, người dân và các tổ chức quốc tế.

Thu hút, khuyến khích xã hội hóa trong công tác phát triển nhân lực trên địa bàn tỉnh. Khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn ODA, vốn tín dụng thương mại ưu đãi phục vụ lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học - công nghệ. Tận dụng các cơ hội đào tạo nhân lực trình độ cao của các tổ chức trong nước và quốc tế.

Khuyến khích các cơ sở đào tạo đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên, giáo viên để cải thiện chất lượng đào tạo.

Tăng cường kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện Kế hoạch tại các huyện, thành phố. Kiểm tra định kỳ và đột xuất các cơ sở đào tạo nghề về việc đào tạo và thực hiện các mục tiêu trong Kế hoạch.

2. Dự toán kinh phí thực hiện

Trên cơ sở mục tiêu của Kế hoạch, Tổng dự toán kinh phí để thực hiện kế hoạch là 61.870 triệu đồng, trong đó:

- Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức là: 6.028 triệu đồng (trong đó 3.508 triệu đồng thực hiện theo Quyết định số 953/QĐ-UBND ngày 11/6/2016 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016-2020; 2.520 triệu đồng thực hiện xã hội hóa);

- Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ quản lý HTX, THT là: 4.350 triệu đồng được thực hiện theo Kế hoạch số 98/KH-UBND ngày 12/11/2014, Quyết định số 1130/QĐ-UBND ngày 06/7/2016 của UBND tỉnh Lạng Sơn;

- Kinh phí đào tạo nghề cho lao động nông thôn là: 40.508 triệu đồng thực hiện theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ;

- Kinh phí giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện đề án là 10.985 triệu đồng, trong đó: ngân sách hỗ trợ là 7.085 triệu đồng; 3.900 triệu đồng xã hội hóa, cụ thể như sau:

+ Kinh phí bồi dưỡng công chức, viên chức theo tiêu chuẩn ngạch, chức danh nghề nghiệp ngân sách tỉnh hỗ trợ là 1.305 triệu đồng;

+ Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành là: 6.900 triệu đồng, trong đó ngân sách hỗ trợ 3.150 triệu đồng; 3.750 triệu đồng xã hội hóa;

+ Kinh phí bồi dưỡng công chức xã phụ trách lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy lợi ngân sách hỗ trợ là: 975 triệu đồng;

+ Kinh phí bồi dưỡng, tập huấn, bồi dưỡng cấp chứng chỉ hành nghề cho đội ngũ kỹ thuật viên (khuyến nông viên và Thú y cơ sở) ngân sách hỗ trợ: 1.655 triệu đồng.

+ Kinh phí bồi dưỡng cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước bằng nguồn xã hội hóa:150 triệu đồng. (Chi tiết theo biểu 10 kèm theo)

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan triển khai tổ chức thực hiện kế hoạch có hiệu quả; xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hàng năm trình UBND tỉnh ban hành để tổ chức thực hiện theo nội dung đã được phê duyệt.

Chủ động làm việc với các cơ sở đào tạo để triển khai thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực. Xây dựng cơ sở dữ liệu về đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, kỹ thuật viên ngành NN&PTNT.

Thực hiện chế độ báo theo quy định hiện hành. Tiến hành đánh giá sơ kết hàng năm và tổng kết 03 năm thực hiện Kế hoạch, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh.

2. Sở Nội vụ

Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng nội dung, dự toán kinh phí đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức, viên chức ngành nông nghiệp để đưa vào kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hàng năm của tỉnh đảm bảo tính thống nhất, khả thi, đồng bộ trong triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chung toàn tỉnh; hướng dẫn triển khai thực hiện và tổ chức kiểm tra, đánh giá theo quy định.

3. Sở Tài chính

Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan thẩm định dự toán kinh phí hàng năm do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lập, đề xuất bố trí ngân sách, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện thanh, quyết toán kinh phí thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng đúng mục đích, đúng chế độ chính sách theo quy định.

4. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội

Chủ trì phối hợp Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND các huyện, thành phố thực hiện nội dung đào tạo nghề lao động nông thôn; kiểm tra, giám sát việc đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn.

5. Các Sở, ban ngành có liên quan

Phối với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức thực hiện kế hoạch; tham mưu cho UBND tỉnh về những vấn đề liên quan lĩnh vực ngành của mình quản lý, giải quyết các vướng mắc để thực hiện kế hoạch có hiệu quả.

6. Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố

Phối hợp với các sở, ngành có liên quan tổ chức thực hiện kế hoạch theo thẩm quyền.

Trong quá trình thực hiện kế hoạch nếu có vướng mắc, phát sinh các cơ quan, đơn vị báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh (thông qua Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) để xem xét, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp./.

 

 

KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH





Lý Vinh Quang

 

 

Đã xem:

Đánh giá:  
 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 96/KH-UBND

Loại văn bảnVăn bản khác
Số hiệu96/KH-UBND
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành09/09/2016
Ngày hiệu lực09/09/2016
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcLao động - Tiền lương
Tình trạng hiệu lựcKhông xác định
Cập nhật4 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 96/KH-UBND

Lược đồ Kế hoạch 96/KH-UBND nâng cao chất lượng nhân lực phát triển nông nghiệp nông thôn Lạng Sơn 2016 2020


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Kế hoạch 96/KH-UBND nâng cao chất lượng nhân lực phát triển nông nghiệp nông thôn Lạng Sơn 2016 2020
                Loại văn bảnVăn bản khác
                Số hiệu96/KH-UBND
                Cơ quan ban hànhTỉnh Lạng Sơn
                Người kýLý Vinh Quang
                Ngày ban hành09/09/2016
                Ngày hiệu lực09/09/2016
                Ngày công báo...
                Số công báo
                Lĩnh vựcLao động - Tiền lương
                Tình trạng hiệu lựcKhông xác định
                Cập nhật4 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản gốc Kế hoạch 96/KH-UBND nâng cao chất lượng nhân lực phát triển nông nghiệp nông thôn Lạng Sơn 2016 2020

                  Lịch sử hiệu lực Kế hoạch 96/KH-UBND nâng cao chất lượng nhân lực phát triển nông nghiệp nông thôn Lạng Sơn 2016 2020

                  • 09/09/2016

                    Văn bản được ban hành

                    Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                  • 09/09/2016

                    Văn bản có hiệu lực

                    Trạng thái: Có hiệu lực