Nghị quyết 31/2008/NQ-HĐND7

Nghị quyết 31/2008/NQ-HĐND7 Về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009 do tỉnh Bình Dương ban hành

Nghị quyết 31/2008/NQ-HĐND7 Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2009 Bình Dương đã được thay thế bởi Quyết định 2875/QĐ-UBND 2013 Danh mục văn bản quy định pháp luật Hội đồng Ủy ban Bình Dương và được áp dụng kể từ ngày 14/11/2013.

Nội dung toàn văn Nghị quyết 31/2008/NQ-HĐND7 Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2009 Bình Dương


HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 31/2008/NQ-HĐND7

Thủ Dầu Một, ngày 17 tháng 12 năm 2008

 

NGHỊ QUYẾT

VỀ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2009

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
KHÓA VII - KỲ HỌP THỨ 12

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004;

Sau khi xem xét Báo cáo số 133/BC-UBND ngày 04 tháng 12 năm 2008 của Uỷ ban nhân dân tỉnh; báo cáo của các cơ quan hữu quan; báo cáo của các Ban Hội đồng nhân dân và ý kiến của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Tán thành nội dung đánh giá tình hình và kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2008; mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009 được nêu trong báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, báo cáo của các cơ quan hữu quan và báo cáo của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh.

Điều 2. Hội đồng nhân dân tỉnh nhấn mạnh một số vấn đề chủ yếu như sau:

1. Về tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2008

Năm 2008, là năm tình hình kinh tế thế giới nói chung, kinh tế nước ta nói riêng có nhiều biến động phức tạp, khó lường, ảnh hưởng tiêu cực và trực tiếp đến đời sống nhân dân và hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn. Tuy nhiên, kinh tế – xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển ổn định: hầu hết chỉ tiêu chủ yếu đạt và vượt kế hoạch; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng nông nghiệp; hai chỉ tiêu giá trị sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu tuy không đạt kế hoạch nhưng giá trị tăng thêm đạt cao đã góp phần ổn định tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Các chương trình thuộc lĩnh vực văn hóa – xã hội như: giáo dục – đào tạo, y tế, giải quyết việc làm,... được triển khai thực hiện có hiệu quả, công tác chăm lo cho các đối tượng chính sách được quan tâm, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện, đảm bảo an sinh xã hội. An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và đấu tranh phòng chống các loại tội phạm được tăng cường. Quốc phòng và an ninh được giữ vững, ổn định.

Bên cạnh những thành tựu đạt được,Hội đồng nhân dân tỉnh nhất trí về đánh giá những hạn chế trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2008 như báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh đã nêu.

2. Về nhiệm vụ thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2009

a) Mục tiêu tổng quát

Tiếp tục kiềm chế lạm phát, ổn định tình hình kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng đi đôi với bảo vệ môi trường, giải quyết tốt hơn các vấn đề an sinh xã hội; chủ động ngăn ngừa suy giảm kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, tiêu dùng; chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, dạy nghề, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe nhân dân; giải quyết tốt các vấn đề bức xúc của xã hội; đẩy mạnh tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm. Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước; thực hiện nghiêm công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội. Phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu đề ra trong năm 2009.

b) Chỉ tiêu chủ yếu

- Các chỉ tiêu kinh tế:

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng 13%.

Cơ cấu kinh tế của tỉnh đến cuối năm 2009: công nghiệp 64,9%, dịch vụ 30,3% và nông nghiệp 4,8%.

GDP bình quân đầu người đạt 26,8 triệu đồng/năm.

Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 19,5%.

Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp tăng 4 - 4,2%.

Giá trị dịch vụ tăng 23%.

Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 20,9%.

Thu hút đầu tư nước ngoài đạt từ 1 tỷ đô la Mỹ trở lên.

Tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 11.859 tỷ đồng, tăng 8%; tổng chi ngân sách địa phương đạt 4.870 tỷ đồng, tăng 38%; trong đó, chi đầu tư - xây dựng là 2.242 tỷ đồng, tăng 67% so với ước thực hiện năm 2008.

- Các chỉ tiêu xã hội:

Duy trì mức sinh thay thế.

Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống dưới 15%.

Tỷ lệ trạm y tế có bác sĩ đạt 100%.

Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế là 86/89 xã (96,6%).

Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 99%.

Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo của tỉnh giảm 2 – 2,5%.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55%.

Diện tích nhà ở bình quân đầu người đạt 14,67 m2.

- Các chỉ tiêu môi trường:

Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn công nghiệp, chất thải rắn sinh hoạt đô thị đạt 80%.

Tỷ lệ che phủ rừng đạt 56%.

Tỷ lệ dân cư nông thôn sử dụng nước sạch đạt 93%.

c) Nhiệm vụ và giải pháp thực hiện

- Trên cơ sở dự báo những phức tạp phát sinh từ suy giảm kinh tế thế giới và khó khăn trong nước, các ngành, các cấp cần nhận thức đầy đủ tình hình chung, cả những mặt thuận lợi, những mặt bất lợi, đánh giá đúng thực chất tình hình địa phương, nắm vững và vận dụng thực hiện tốt tinh thần chỉ đạo của Trung ương là: Tiếp tục kiềm chế lạm phát, chủ động hạn chế tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; chăm lo tốt hơn an sinh xã hội; duy trì tăng trưởng hợp lý, bền vững; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; tạo điều kiện thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010.

- Tập trung khắc phục những hạn chế, yếu kém trong quản lý, điều hành, thực hiện có hiệu quả việc huy động và sử dụng các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội. Các ngành, các cấp cần sâu sát, thấu hiểu những khó khăn trong sản xuất và đời sống, có những giải pháp cụ thể để tháo gỡ vướng mắc, nhằm ổn định và thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, trước hết là những giải pháp về cung ứng vốn, giảm, giãn thuế, bảo đảm cung ứng điện cho sản xuất. Ưu tiên, tạo điều kiện thuận lợi thu hút vào các khu, cụm công nghiệp các dự án quy mô lớn, các dự án sản xuất sản phẩm thuộc ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn, áp dụng công nghệ, tiến bộ kỹ thuật, sử dụng ít lao động và đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường.

- Rà soát, đánh giá, điều chỉnh và bổ sung kịp thời các quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch xây dựng, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các huyện, thị một cách đồng bộ theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tập trung hơn nữa công tác quy hoạch chung xây dựng đô thị Bình Dương, quy hoạch chung xây dựng đô thị thị xã Thủ Dầu Một và Trung tâm chính trị - hành chính tập trung của tỉnh bảo đảm chất lượng và kế hoạch đề ra, đáp ứng yêu cầu và tốc độ phát triển của tỉnh. Kiện toàn tổ chức, thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý và phát triển đô thị, nhất là thị xã Thủ Dầu Một, huyện Thuận An và huyện Dĩ An, tạo tiền đề để thực hiện hoàn thành nhiệm vụ nâng cấp đô thị theo kế hoạch 5 năm của tỉnh.

- Tập trung chỉ đạo thực hiện tốt công tác đầu tư - xây dựng; tăng cường phối hợp xử lý các khó khăn vướng mắc về trình tự, thủ tục trong đầu tư, đôn đốc các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án, nhất là các công trình trọng điểm của tỉnh và các dự án giao thông trọng yếu như đường ĐT 744, ĐT 741, cầu Thủ Biên, cầu Thạnh Hội, cầu Phú Long,... kiên quyết không để kéo dài làm ảnh hưởng đến đầu tư phát triển chung. Tập trung bồi thường giải phóng mặt bằng dự án đường cao tốc Mỹ Phước - Tân Vạn.

- Thực hiện tốt công tác quản lý thị trường, bình ổn giá; chống đầu cơ, buôn lậu, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng; đảm bảo cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu; xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Đề cao vai trò, trách nhiệm của các công ty nhà nước, các doanh nghiệp được Nhà nước giao bảo đảm cung ứng các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất, tiêu dùng và tham gia tích cực vào việc bình ổn thị trường.

- Tiếp tục thực hiện triệt để tiết kiệm chi thường xuyên và quy định tạm dừng mua sắm tài sản, các quy định về chi tiêu phục vụ cho hoạt động của các cơ quan, đơn vị; đảm bảo chi kịp thời giải quyết các vấn đề an sinh xã hội. Triển khai và thực hiện Chỉ thị số 33/2008/CT-TTg ngày 20 tháng 11 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện nghiêm các chính sách tài khóa và thực hiện các kết luận, kiến nghị của cơ quan kiểm toán, thanh tra.

- Hoàn thành công tác quy hoạch sử dụng đất; đẩy nhanh tiến độ đo đạc bản đồ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tăng cường công tác kiểm tra việc sử dụng đất theo quy hoạch, kiên quyết thu hồi các dự án sử dụng đất kém hiệu quả, kéo dài thời gian quy định; tổ chức thực hiện tốt đấu giá quyền sử dụng đất và đấu thầu dự án có sử dụng đất.

- Kiện toàn bộ máy về quản lý môi trường, đảm bảo nhân lực và trang thiết bị chuyên dùng đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước. Thực hiện kiên quyết và đồng bộ các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ và cải thiện môi trường, nhất là ở các khu, cụm công nghiệp, khu đô thị; tăng cường kiểm tra và xử lý kiên quyết, dứt điểm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Đẩy nhanh tiến độ việc quy hoạch, xây dựng hệ thống thoát nước, khu xử lý nước, chất thải, rác thải; đầu tư tăng cường năng lực hệ thống quan trắc giám sát, thực hiện cam kết môi trường. Tập trung thực hiện công tác quản lý, kiểm tra việc sử dụng các nguồn tài nguyên theo quy hoạch.

- Tiếp tục chủ động triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách bảo đảm an sinh xã hội. Trong đó, cần chú ý vận dụng linh hoạt các chính sách, huy động các nguồn lực xã hội để chăm lo cho các đối tượng chính sách, người nghèo, người gặp khó khăn trước tác động của tình hình suy giảm kinh tế. Thực hiện tốt các chương trình, chính sách đã đề ra như: chương trình nhà ở xã hội, chương trình bảo hiểm y tế toàn dân, chính sách hỗ trợ học phí, hỗ trợ vốn, dạy nghề, tạo việc làm… góp phần bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục, y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc trẻ em; nâng cao chất lượng giáo dục, khám chữa bệnh, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; thực hiện tốt các đề án và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học – công nghệ. Hoàn chỉnh việc quy hoạch đất cho các mục đích xã hội hóa các hoạt động văn hóa – xã hội; mời gọi, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực này. Tiếp tục duy trì cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, thực hiện nếp sống văn minh - gia đình văn hóa mới.

- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản và tiện lợi, công khai và minh bạch; coi cải cách thủ tục hành chính là khâu then chốt để tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, giữ vững và nâng cao các chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh, gắn liền với việc đề cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 trong hoạt động các cơ quan hành chính nhà nước; tập trung thực hiện có hiệu quả Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước (đề án 30) theo kế hoạch đề ra. Trước mắt, Uỷ ban nhân dân tỉnh cần nhanh chóng thành lập các tổ chức liên ngành để rà soát, tháo gỡ những vướng mắc về thủ tục hành chính trên các lĩnh vực đất đai, đầu tư – xây dựng, sản xuất kinh doanh, thuế, xuất nhập khẩu, trong đó tập trung cho đất đai và đầu tư -xây dựng.

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động của các Sở, ngành và huyện, thị; từng bước cung cấp dịch vụ công trên môi trường mạng; đổi mới phương thức điều hành, từng bước hiện đại hóa nền hành chính. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước.

- Tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm gắn với thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng của tỉnh.

- Chủ động triển khai bảo vệ và bảo đảm giữ vững quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, địa phương thực hiện tốt các biện pháp phòng chống các loại tệ nạn xã hội. Nâng cao hơn nữa trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc giải quyết khiếu kiện đông người, phức tạp và các cuộc đình, lãn công trái pháp luật; tập trung chỉ đạo xử lý các vụ việc, nhất là trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, chú ý xác định rõ trách nhiệm, thẩm quyền, cơ chế phối hợp để xử lý dứt điểm các vụ việc tồn đọng, kéo dài, không để phát sinh thành điểm nóng. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho chủ doanh nghiệp và người lao động; kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc chấp hành pháp luật lao động, vận động các doanh nghiệp tiếp tục thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách đối với công nhân vào dịp cuối năm; nắm sát tình hình, phối hợp xử lý kịp thời, không để xảy ra đình, lãn công quy mô lớn.

Điều 3. Giao Uỷ ban nhân dân tỉnh và các ngành hữu quan tổ chức triển khai và chỉ đạo thực hiện Nghị quyết này. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra theo quy định pháp luật, bảo đảm Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh được chấp hành và thực hiện nghiêm.

Điều 4. Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, các Tổ đại biểu và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.

Hội đồng nhân dân tỉnh đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các tổ chức thành viên tích cực vận động nhân dân thực hiện và giám sát việc thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.

Hội đồng nhân dân tỉnh kêu gọi nhân dân, các ngành, các cấp, các tổ chức đoàn thể, các đơn vị kinh tế, lực lượng vũ trang trong tỉnh phát huy truyền thống đoàn kết, sáng tạo để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, mục tiêu về kinh tế – xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2009.

Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VII, kỳ họp thứ 12 thông qua./.

 

 

 

CHỦ TỊCH




Vũ Minh Sang

 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 31/2008/NQ-HĐND7

Loại văn bảnNghị quyết
Số hiệu31/2008/NQ-HĐND7
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành17/12/2008
Ngày hiệu lực27/12/2008
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcVăn hóa - Xã hội, Thương mại
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực 14/11/2013
Cập nhật2 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 31/2008/NQ-HĐND7

Lược đồ Nghị quyết 31/2008/NQ-HĐND7 Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2009 Bình Dương


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Nghị quyết 31/2008/NQ-HĐND7 Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2009 Bình Dương
                Loại văn bảnNghị quyết
                Số hiệu31/2008/NQ-HĐND7
                Cơ quan ban hànhTỉnh Bình Dương
                Người kýVũ Minh Sang
                Ngày ban hành17/12/2008
                Ngày hiệu lực27/12/2008
                Ngày công báo...
                Số công báo
                Lĩnh vựcVăn hóa - Xã hội, Thương mại
                Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực 14/11/2013
                Cập nhật2 năm trước

                Văn bản hướng dẫn

                  Văn bản được hợp nhất

                    Văn bản gốc Nghị quyết 31/2008/NQ-HĐND7 Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2009 Bình Dương

                    Lịch sử hiệu lực Nghị quyết 31/2008/NQ-HĐND7 Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2009 Bình Dương