Nghị quyết 371-CP

Nghị quyết số 371-CP về việc phát triển chăn nuôi gà công nghiệp do Hội đồng Chính phủ ban hành

Nội dung toàn văn Nghị quyết 371-CP phát triển chăn nuôi gà công nghiệp


HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
******

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
*******

Số: 371-CP

Hà Nội, ngày 08 tháng 10 năm 1979

 

NGHỊ QUYẾT

VỀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI GÀ CÔNG NGHIỆP

Chăn nuôi gà theo phương pháp công nghiệp là một ngành chăn nuôi tiên tiến, đem lại hiệu quả kinh tế nhanh hơn so với các ngành chăn nuôi khác, góp phần tăng nhanh nguồn thực phẩm.

Trong những năm gần đây, được sự giúp đỡ của một số nước xã hội chủ nghĩa anh em, ta đã xây dựng được một số cơ sở chăn nuôi gà công nghiệp. Các cơ sở này bước đầu thu được kết quả tốt, năng suất thịt và trứng đều đạt và vượt các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật quy định. Các giống gà công nghiệp có khả năng thích nghi và sinh trưởng tốt ở tất cả các vùng khí hậu của nước ta.

Để đẩy mạnh chăn nuôi gà công nghiệp trong những năm tới, Hội đồng Chính phủ quyết định những chủ trương, biện pháp và chính sách sau đây.

I. CHỦ TRƯƠNG VÀ CHỈ TIÊU SẢN XUẤT

Trong những năm tới, phải phát triển chăn nuôi gà công nghiệp một cách tích cực và vững chắc ở khu vực chăn nuôi quốc doanh và tập thể trong cả nước. Trước mắt phải phát triển mạnh chăn nuôi gà công nghiệp ở các thành phố, khu công nghiệp có nhu cầu lớn về thực phẩm như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nam Ninh, Bắc Thái, Vĩnh Phú, Sông Bé, Đồng Nai, Thanh Hóa, Bình Trị Thiên, v.v… Cùng với việc phát triển các cơ sở gà công nghiệp của Nhà nước và hợp tác xã, cần phải coi trọng việc khuyến khích và giúp đỡ các gia đình chăn nuôi gà theo phương pháp công nghiệp, nhất là ở các vùng vành đai thực phẩm thuộc các thành phố, khu công nghiệp.

Phấn đấu năm 1980 sản xuất 50 triệu quả trứng, 2000 tấn thịt. Từ nay đến năm 1985 phải hoàn chỉnh đồng bộ việc xây dựng hệ thống gà giống, thức ăn cho gà và mạng lưới phòng dịch bệnh cho bà, bảo đảm các điều kiện để hàng năm tăng nhanh chỉ tiêu sản xuất thịt và trứng gà.

II. NHỮNG CHÍNH SÁCH VÀ BIỆN PHÁP LỚN

1. Về con giống:

Bộ Nông nghiệp có trách nhiệm xây dựng quy hoạch và kế hoạch hoàn chỉnh hệ thống giống gà công nghiệp từ trung ương đến địa phương nhằm bảo đảm cung cấp đủ con giống tốt theo kế hoạch chăn nuôi hàng năm.

- Ở trung ương:

Phải nhanh chóng mở rộng hai trung tâm gà giống gốc Tam Đảo, Ba Vì và xí nghiệp gà giống trứng ở Lương Mỹ. Hoàn thành đúng thời hạn các công trình gà giống Tam Dương, Hồng Sanh và Minh Tâm. Xây dựng thêm hai trung tâm gà giống gốc ở Sông Bé để tiếp nhận hai bộ gà giống mới do Cu Ba viện trợ vào năm 1983.

Xây dựng một xí nghiệp gà giống thịt và một xí nghiệp gà giống trứng ở thành phố Hồ Chí Minh để cung cấp con giống cho các tỉnh Nam Bộ.

- Ở các tỉnh:

Tùy theo nhu cầu con giống, mỗi tỉnh xây dựng một, hai hoặc ba trại gà bố mẹ giống thịt và một số tỉnh gần nhau xây dựng một trại gà bố mẹ giống trứng.

Những công trình gà giống nói trên phải được tập trung xây dựng dứt điểm và hoàn thành đúng thời gian quy định.

Khi đưa vào sản xuất các công trình nói trên, phải bảo đảm cung ứng đủ gà giống cho các địa phương, đồng thời phải đặc biệt coi trọng việc bảo đảm các quy trình kỹ thuật để giữ gìn và nâng cao chất lượng gà giống, không được để cho các tiêu chuẩn gà giống bị giảm sút.

2. Về thức ăn cho gà.

Để phát triển chăn nuôi gà công nghiệp một cách vững chắc, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Nông nghiệp, Bộ Lương thực và thực phẩm và Bộ Hải sản phải có kế hoạch cung ứng đủ nguyên liệu chế biến thức ăn hỗn hợp cho đàn gà cân đối với kế hoạch phát triển gà công nghiệp hàng năm và giao cho ngành kinh doanh gà công nghiệp trực tiếp quản lý.

Bộ Nông nghiệp và Ủy ban nhân dân các tỉnh có trách nhiệm quy hoạch và giao nhiệm vụ ngay cho một số nông trường chuyên sản xuất ngô, đậu tương… để làm thức ăn cho gà.

Bộ Hải sản giao nhiệm vụ cho một số xí nghiệp chế biến hải sản sản xuất bột cá để làm thức ăn cho gà.

Công ty giống gia cầm và gà công nghiệp trung ương trực tiếp ký hợp đồng thu mua nguyên liệu làm thức ăn ở các nông trường và xí nghiệp bột cá nói trên theo sự phân công của các bộ chủ quản. Căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước và theo chế độ quản lý ngoại thương của Nhà nước, công ty này được trực tiếp giao dịch và ký hợp đồng với các nước trong việc xuất khẩu sản phẩm gia cầm và nhập khẩu thức ăn, thuốc thú y, thiết bị, v.v… của ngành gia cầm theo nguyên tắc xuất khẩu phải bù được nhập khẩu và tiến tới xuất siêu.

Bộ Xây dựng và Bộ Nông nghiệp cần tập trung lực lượng thi công và vật liệu xây dựng để hoàn thành sớm nhà máy thức ăn cho gà ở Lương Mỹ, nhà máy thức ăn gia súc ở Hương Canh và khẩn trương xây dựng 2 lò mổ gia cầm, 2 phòng lạnh công suất 500 tấn (trọng số 8 lò mổ và 5 phòng lạnh đã có thiết bị viện trợ) để làm nhiệm vụ xuất khẩu sản phẩm gia cầm.

3. Thu mua và giá cả.

a) Thu mua:

- Những cơ sở gà giống, gà thương phẩm quốc doanh phải thực hiện chế độ giao nộp sản phẩm theo chỉ tiêu kế hoạch, đối với phần sản phẩm vượt kế hoạch Nhà nước mua theo giá thỏa thuận.

- Những hợp tác xã được Nhà nước gia công chăn nuôi gà công nghiệp (Nhà nước cung ứng con giống và thức ăn) phải nộp sản phẩm chăn nuôi theo định mức quy định, đối với phần sản phẩm vượt mức được tự do sử dụng.

- Những hợp tác xã có nuôi gà công nghiệp bằng nguồn thức ăn do hợp tác xã tự giải quyết, được bán cho Nhà nước thịt gà, trứng gà thay cho thịt lợn ghi trong hợp đồng kinh tế hai chiều. Tỷ lệ tính đổi mức bán thịt lợn sang thịt gà, trứng gà do Bộ Nội thương và Bộ Nông nghiệp quy định.

b) Giá cả:

Ủy ban Vật giá Nhà nước và Bộ Nông nghiệp xác định lại giá thu mua các sản phẩm chăn nuôi gà công nghiệp trình Hội đồng Chính phủ quyết định.

Giá thu mua sản phẩm của các cơ sở chăn nuôi gà quốc doanh phải bằng giá thành kế hoạch được duyệt cộng với một phần tích lũy theo quy định của Nhà nước để bảo đảm cho các cơ sở chăn nuôi bù đắp được chi phí sản xuất và có một phần lãi thích đáng.

4. Về tổ chức quản lý.

Bộ Nông nghiệp xúc tiến thành lập liên hiệp xí nghiệp sản xuất gia cầm Việt Nam là một tổ chức kinh doanh theo phương thức hạch toán kinh tế để chỉ đạo và quản lý thống nhất ngành chăn nuôi gia cầm trong cả nước. Liên hiệp xí nghiệp sản xuất gia cầm bước đầu cần được trang bị và quản lý các cơ sở sản xuất giống gia cầm, các cơ sở chăn nuôi gia cầm thương phẩm, các nhà máy chế biến thức ăn cho gia cầm, các lò mổ và kho lạnh, cơ sở thú y, cơ sở nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật chăn nuôi gia cầm, các trường đào tạo công nhân chuyên nghiệp.

Hướng tiến lên của Liên hiệp xí nghiệp sản xuất gia cầm Việt Nam là dần dần phải bao quát được toàn ngành, quản lý được hệ thống giống, thức ăn, thú y, chế biến sản phẩm, sản xuất dụng cụ chuyên dùng của ngành gia cầm, đào tạo cán bộ, công nhân và nghiên cứu, ứng dụng khoa học, kỹ thuật chăn nuôi gia cầm trong phạm vi cả nước.

Bộ Nông nghiệp có trách nhiệm giúp đỡ các tỉnh xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch phát triển gà công nghiệp phù hợp với điều kiện của từng địa phương.

Bộ Nông nghiệp ra thông tư hướng dẫn thi hành nghị quyết này sau khi đã bàn với các ngành có liên quan.

 

 

TM. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG




Lê Thanh Nghị

 

Đã xem:

Đánh giá:  
 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 371-CP

Loại văn bảnNghị quyết
Số hiệu371-CP
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành08/10/1979
Ngày hiệu lực23/10/1979
Ngày công báo31/10/1979
Số công báoSố 8
Lĩnh vựcLĩnh vực khác
Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
Cập nhật14 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Lược đồ Nghị quyết 371-CP phát triển chăn nuôi gà công nghiệp


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Nghị quyết 371-CP phát triển chăn nuôi gà công nghiệp
                Loại văn bảnNghị quyết
                Số hiệu371-CP
                Cơ quan ban hànhHội đồng Chính phủ
                Người kýLê Thanh Nghị
                Ngày ban hành08/10/1979
                Ngày hiệu lực23/10/1979
                Ngày công báo31/10/1979
                Số công báoSố 8
                Lĩnh vựcLĩnh vực khác
                Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
                Cập nhật14 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản được dẫn chiếu

                    Văn bản hướng dẫn

                      Văn bản được hợp nhất

                        Văn bản được căn cứ

                          Văn bản hợp nhất

                            Văn bản gốc Nghị quyết 371-CP phát triển chăn nuôi gà công nghiệp

                            Lịch sử hiệu lực Nghị quyết 371-CP phát triển chăn nuôi gà công nghiệp

                            • 08/10/1979

                              Văn bản được ban hành

                              Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                            • 31/10/1979

                              Văn bản được đăng công báo

                              Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                            • 23/10/1979

                              Văn bản có hiệu lực

                              Trạng thái: Có hiệu lực