Nghị quyết Khongso

Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về tội mua bán người và tội mua bán người dưới 16 tuổi do Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành

Nội dung toàn văn Nghị quyết hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về tội mua bán người


HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: …/2018/NQ-HĐTP

Hà Nội, ngày       tháng       năm 2018

DỰ THẢO

 

 

NGHỊ QUYẾT

HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI MUA BÁN NGƯỜI VÀ TỘI MUA BÁN NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Căn cứ Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014;

Để áp dụng đúng và thống nhất quy định tại các Điều 150, 151 của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14;

Sau khi có ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

QUYẾT NGHỊ:

Chương 1

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Giải thích từ ngữ

1. Mua bán người là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây:

a) Chuyển giao người để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

b) Tiếp nhận người để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

c) Chuyển giao người để người khác bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

d) Tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

đ) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi hướng dẫn tại các điểm a, b, c hoặc d khoản này.

2. Mua bán người dưới 16 tuổi là một trong các hành vi sau đây:

a) Chuyển giao người dưới 16 tuổi để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

b) Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

c) Chuyển giao người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

d) Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

đ) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi hướng dẫn tại các điểm a, b, c hoặc d khoản này.

3. Thủ đoạn khác quy định tại khoản 1 Điều 150 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội dùng các thủ đoạn như: bắt cóc, lừa gạt, cho nạn nhân uống thuốc ngủ, uống rượu say; cho nạn nhân sử dụng thuốc mê; đầu độc nạn nhân; lợi dụng quyền hạn, tình thế dễ bị tổn thương của nạn nhân…  để thực hiện một trong các hành vi hướng dẫn tại các điểm a, b, c hoặc d khoản 2 Điều này.

4. Để bóc lột tình dục quy định tại điểm b khoản 1 Điều 150 và điểm b khoản 1 Điều 151 của Bộ luật Hình sự là trường hợp chuyển giao, tiếp nhận, tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác nhằm phục vụ cho hoạt động  tình dục, như bán dâm, sử dụng nạn nhân để sản xuất ấn phẩm khiêu dâm, trình diễn khiêu dâm hoặc làm nô lệ tình dục.

Ví dụ: chuyển giao, tiếp nhận, tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác rồi đưa họ đến các ổ mại dâm hoặc tổ chức cho họ bán dâm hoặc tiếp nhận người khác để phục vụ nhu cầu tình dục của mình.

5. Để cưỡng bức lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều 150 và điểm b khoản 1 Điều 151 của Bộ luật Hình sự việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác nhằm buộc người khác lao động trái ý muốn của họ.

6. Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân quy định tại điểm b khoản 1 Điều 150 và điểm b khoản 1 Điều 151 của Bộ luật Hình sự là trường hợp chuyển giao, tiếp nhận, tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác nhằm lấy một phần của cơ thể của họ.

Ví dụ: Nguyễn Văn A đã chuyển giao Nguyễn Thị C cho Nguyễn Văn B để B lấy giác mạc của C (trên thực tế B chưa có hành vi lấy giác mạc).

7. Vì mục đích vô nhân đạo khác quy định tại điểm b khoản 1 Điều 150 và điểm b khoản 1 Điều 151 của Bộ luật Hình sựviệc người phạm tội nhằm sử dụng nạn nhân làm nô lệ, lao động khổ sai, để thanh toán nợ, làm thí nghiệm; buộc nạn nhân phải đi ăn xin; để quay phim, chụp ảnh, vẽ tranh ảnh khiêu dâm, đồi trụy hoặc sử dụng nạn nhân vào các mục đích tàn ác, dã man khác.

Điều 2. Về một số tình tiết định khung hình phạt

1. Có tổ chức quy định tại điểm a khoản 2 Điều 150 và điểm a khoản 3 Điều 151 của Bộ luật Hình sựhình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ và phân công, sắp đặt vai trò của những người tham gia thực hiện hành vi phạm tội, trong đó mỗi người thực hiện một hoặc một số hành vi và phải chịu sự điều khiển của người cầm đầu.

2. Vì động cơ đê hèn quy định tại điểm b khoản 2 Điều 150 và điểm g khoản 2 Điều 151 của Bộ luật Hình sự là trường hợp phạm tội với động cơ đê tiện, thấp hèn, ích kỷ, thể hiện sự bội bạc, phản trắc, hèn nhát. Người phạm tội nhằm mục đích trả thù hoặc để khống chế nạn nhân và người thân thích của nạn nhân.

Ví dụ: do có thù tức cá nhân, B đã dụ dỗ con gái của A rồi bán sang nước ngoài.

3. Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại điểm d khoản 2 Điều 150 và điểm đ khoản 2 Điều 151 của Bộ luật Hình sự là đã đưa nạn nhân ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

4. Phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm e khoản 2 Điều 150 và điểm e khoản 2 Điều 151 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội mua bán người từ 02 lần trở lên nhưng đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ví dụ: Ngày 15-6-2018, Nguyễn Văn A có hành vi mua bán người;       đến ngày 20-7-2018, Nguyễn Văn A lại có hành vi mua bán người và bị bắt giữ. Cả hai lần phạm tội trên, Nguyễn Văn A đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người.

Trường hợp người phạm tội vừa thuộc trường hợp phạm tội từ 02 lần trở lên quy định tại điểm e khoản 2 Điều 150 của Bộ luật Hình sự vừa thuộc trường hợp phạm tội đối với 06 người trở lên quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 150 của Bộ luật Hình sự thì áp dụng điểm đ khoản 3 Điều 150 của Bộ luật Hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự.

5. Có tính chất chuyên nghiệp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 150 và điểm b khoản 3 Điều 151 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội mua bán người từ 05 lần trở lên (không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích) và người phạm tội lấy các việc mua bán người làm nghề sinh sống, lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc mua bán người làm nguồn sống chính.

Đối với trường hợp phạm tội từ 05 lần trở lên mà trong đó có lần phạm tội đã bị kết án, chưa được xóa án tích thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị áp dụng các tình tiết định khung hoặc tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần”, “đối với nhiều người”, “tái phạm” (hoặc “tái phạm nguy hiểm”) “có tính chất chuyên nghiệp".

6. Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân quy định tại điểm b khoản 3 Điều 150 và điểm đ khoản 3 Điều 151 của Bộ luật Hình sự là trường hợp chuyển giao, tiếp nhận, tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác và đã lấy một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau của nạn nhân (chủ yếu là các bộ phận mà y học có thể thay thế, như: giác mạc, thận, gan...).

Ví dụ: Nguyễn Văn A đã chuyển giao Nguyễn Thị C cho Nguyễn Văn B. B đã lấy giác mạc của C để thay cho người khác.

7. Làm nạn nhân chết hoặc tự sát quy định tại điểm d khoản 3 Điều 150 và điểm đ khoản 3 Điều 151 của Bộ luật Hình sự là trường hợp chuyển giao, tiếp nhận, tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; để bóc lột tình dục; để cưỡng bức lao động; để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc sử dụng vào mục đích vô nhân đạo khác dẫn đến nạn nhân chết hoặc tự sát.

Ví dụ 1: Nguyễn Văn A đã chuyển giao Nguyễn Thị C cho Nguyễn Văn B. B đã lấy một phần gan của C để thay cho người khác, nhưng do không bảo đảm kỹ thuật, vệ sinh dẫn đến C bị chết do nhiễm trùng.

Ví dụ 2: Nguyễn Văn A lừa bán Nguyễn Thị C cho Nguyễn Văn B để C phục vụ hoạt động mại dâm trong quán Karaoke của B. Vì uất ức C đã tự sát.

Chương 2

TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 150 CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ

Điều 3. Truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp sử dụng thủ đoạn môi giới hôn nhân với người nước ngoài trái phép

Người sử dụng thủ đoạn môi giới hôn nhân với người nước ngoài trái phép bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người theo quy định tại Điều 150 của Bộ luật Hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Người môi giới dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác để buộc người khác kết hôn với người nước ngoài và đã giao người đó cho người nước ngoài để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

2. Người môi giới biết hoặc có khả năng để biết mục đích của người nước ngoài là thông qua hoạt động xem mặt, chọn vợ (hoặc chồng) hoặc kết hôn để đưa người được chọn ra nước ngoài bóc lột sức lao động, bóc lột tình dục hoặc bán cho người khác nhưng vẫn tiến hành môi giới để nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác của người nước ngoài.

Điều 4. Truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp sử dụng thủ đoạn đưa người đi lao động nước ngoài trái phép

Người sử dụng thủ đoạn đưa người đi lao động nước ngoài trái phép bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người theo quy định tại Điều 150 của Bộ luật Hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Người môi giới, người đưa người đi lao động nước ngoài biết hoặc có khả năng để biết người lao động (từ đủ 16 tuổi trở lên) ra nước ngoài sẽ bị bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác (như: người bị đưa ra nước ngoài bị buộc phải làm việc trong môi trường độc hại, không bảo đảm an toàn lao động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe; phải làm việc mà không được trả lương; bị buộc phải hoạt động mại dâm) nhưng vẫn lừa gạt hoặc ép buộc người lao động và giao họ cho người khác ở nước ngoài để lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác.

2. Người môi giới sử dụng thủ đoạn môi giới đưa lao động ra nước ngoài để chuyển giao người lao động cho phía nước ngoài bán người lao động cho người khác.

3. Người sử dụng thủ đoạn môi giới đưa người đi lao động ở nước ngoài để lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (sau khi nhận tiền của người lao động đã chiếm đoạt và bỏ trốn, không thực hiện việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài) thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người nhưng tùy từng trường hợp cụ thể có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nếu có đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm khác.

4. Người tổ chức, cưỡng ép người khác ở lại nước ngoài không nhằm mục đích bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc không vì mục đích vô nhân đạo khác thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người nhưng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép quy định hoặc tội cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép nếu có đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm khác.

Điều 5. Truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp người phạm tội đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân

Phương án 1:

1. Trường hợp người phạm tội đã lấy đi bộ phận cơ thể quyết định sự sống của nạn nhân (như tim, não...) làm nạn nhân chết thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người theo điểm h khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự (giết người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân).

Ví dụ: Nguyễn Văn A đã chuyển giao Nguyễn Thị C cho Nguyễn Văn B. B đã lấy tim của C để thay cho người khác. Trong trường hợp này, A và B phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người theo điểm h khoản 1 Điều 123  Bộ luật Hình sự (giết người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân).

2. Trường hợp người phạm tội lấy bộ phận cơ thể không tách rời sự sống của nạn nhân, không làm nạn nhân chết (như lấy 01 quả thận, 01 lá phổi...) thì bị truy cứu trách nhiệm về tội mua bán người theo điểm b khoản 3 Điều 150 của Bộ luật Hình sự. Trong trường hợp này, nếu sau đó nạn nhân chết do bị nhiễm trùng hoặc nạn nhân phẫn uất mà tự sát thì người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm d khoản 3 Điều 150 của Bộ luật Hình sự.

Phương án 2:

Trường hợp người phạm tội đã lấy đi bộ phận không thể tách rời sự sống của nạn nhân (như tim, não...), làm nạn nhân chết thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người theo điểm h khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Chương 3

TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 151 CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ

Điều 6. Truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp sử dụng thủ đoạn môi giới nuôi con nuôi trái pháp luật

1. Người biết người khác thực sự có nhu cầu nuôi con nuôi (do hiếm muộn hoặc có lòng yêu trẻ) đã giới thiệu người đó với người muốn cho con của chính họ đi làm con nuôi vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có điều kiện nuôi dưỡng đứa trẻ, mong muốn đứa trẻ được nuôi dưỡng tốt hơn và đã nhận một khoản tiền, đồng thời người môi giới cũng được nhận một khoản tiền cho việc môi giới, thì người môi giới, người cho con mình đi làm con nuôi và người nhận con nuôi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 151 của Bộ luật Hình sự.

2. Người sử dụng thủ đoạn môi giới nuôi con nuôi trái pháp luật phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người theo quy định tại Điều 151 của Bộ luật Hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người môi giới biết hoặc có khả năng biết việc nhận nuôi con nuôi là nhằm bóc lột, cưỡng bức lao động đối với người dưới 16 tuổi hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác nhưng đã sử dụng thủ đoạn môi giới nuôi con nuôi để chuyển giao nạn nhân cho người khác để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

b) Người môi giới nuôi con nuôi biết hoặc có khả năng biết mục đích của người nhận nuôi con nuôi là sau khi nhận con nuôi sẽ bán nạn nhân cho người khác.

c) Người nhận nuôi con nuôi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

d) Người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để môi giới nhận nuôi con nuôi trái phép (không thực hiện đúng các quy định của pháp luật về cho, nhận nuôi con nuôi) hoặc tạo điều kiện cho việc môi giới, nhận nuôi con nuôi trái phép mà biết hoặc có khả năng biết mục đích của người nhận nuôi con nuôi là nhằm bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc vì mục đích trái pháp luật khác.

đ) Người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để môi giới nhận nuôi con nuôi trái phép (không thực hiện đúng các quy định của pháp luật về cho, nhận nuôi con nuôi) hoặc tạo điều kiện cho việc môi giới, nhận nuôi con nuôi trái phép, nhưng không biết người nhận nuôi con nuôi nhằm bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc có mục đích trái pháp luật khác thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người dưới 16 tuổi. Tùy từng trường hợp cụ thể, người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đến người khác để trục lợi hoặc tội danh khác theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Điều 7. Truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội

Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội mà các hành vi đó độc lập với nhau thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội độc lập mà người đó đã thực hiện. Khi xét xử, Tòa án áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt chung.

Ví dụ: một người mua người dưới 16 tuổi, sau đó lại thực hiện một trong các hành vi lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 151 và tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm quy định tại Điều 147 của Bộ luật Hình sự. Khi xét xử trường hợp này, Tòa án quyết định mức hình phạt tương ứng đối với từng tội, sau đó quyết định hình phạt chung cho cả hai tội theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật Hình sự.

Chương 4

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 8. Hiệu lực thi hành

1. Nghị quyết này đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày ... tháng ... năm 2018 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ... tháng ... năm 2018.

2. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc đề nghị phản ánh cho   Tòa án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học) để có hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung kịp thời./.

 

 

Nơi nhận:
- Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;
- Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội; 
- Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội;
- Ban Nội chính Trung ương;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Chính phủ 02 bản (để đăng công báo);
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
- Bộ Tư pháp;
- Bộ Công an;
- Các Thẩm phán TANDTC;
- Các đơn vị thuộc TANDTC;
- Các TAND và TAQS các cấp;
- Cổng TTĐT TANDTC (để đăng tải);
- Lưu: VT VP, Vụ PC&QLKH (TANDTC).

TM. HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
CHÁNH ÁN




Nguyễn Hòa Bình

 

 

Thuộc tính Dự thảo văn bản Khongso

Loại văn bảnNghị quyết
Số hiệuKhongso
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành13/08/2018
Ngày hiệu lực...
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcTrách nhiệm hình sự
Tình trạng hiệu lựcKhông xác định
Cập nhật3 tháng trước
(15/08/2018)

Download Dự thảo văn bản Khongso

Lược đồ Nghị quyết hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về tội mua bán người


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Nghị quyết hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về tội mua bán người
                Loại văn bảnNghị quyết
                Số hiệuKhongso
                Cơ quan ban hànhHội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
                Người kýNguyễn Hòa Bình
                Ngày ban hành13/08/2018
                Ngày hiệu lực...
                Ngày công báo...
                Số công báo
                Lĩnh vựcTrách nhiệm hình sự
                Tình trạng hiệu lựcKhông xác định
                Cập nhật3 tháng trước
                (15/08/2018)

                Văn bản thay thế

                  Văn bản được dẫn chiếu

                    Văn bản hướng dẫn

                      Văn bản được hợp nhất

                        Văn bản được căn cứ

                          Văn bản hợp nhất

                            Văn bản gốc Nghị quyết hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về tội mua bán người

                            Lịch sử hiệu lực Nghị quyết hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về tội mua bán người

                            • 13/08/2018

                              Văn bản được ban hành

                              Trạng thái: Chưa có hiệu lực