Nghị quyết 17/2007/NQ-HĐND

Nghị quyết 17/2007/NQ-HĐND về nhiệm vụ năm 2008 do tỉnh Vĩnh Phúc ban hành

Nội dung toàn văn Nghị quyết số: 17/2007/NQ-HĐND nhiệm vụ năm 2008 Tỉnh Vĩnh Phúc


HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 17/2007/NQ-HĐND

Vĩnh Yên, ngày 19 tháng 12 năm 2007

 

NGHỊ QUYẾT

VỀ NHIỆM VỤ NĂM 2008

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
KHOÁ XIV, KỲ HỌP THỨ 11

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26-11-2003;

Trên cơ sở xem xét báo cáo của UBND tỉnh, báo cáo thẩm tra của các Ban HĐND tỉnh và thảo luận,

QUYẾT NGHỊ:

I - Thông qua báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2007, phương hướng nhiệm vụ năm 2008 với những chỉ tiêu định hướng phát triển ngành, lĩnh vực và các giải pháp nêu trong báo cáo của UBND tỉnh; HĐND tỉnh nhấn mạnh một số vấn đề cơ bản sau:

II - Mục tiêu và các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu năm 2008:

1. Mục tiêu tổng quát:

Năm 2008 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là năm bản lề trong việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2006 - 2010). Vì vậy mục tiêu đặt ra là tiếp tục huy động và khai thác có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho phát triển, duy trì và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, theo hướng phát triển ổn định và bền vững. Tiếp tục chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động. Nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, chủ động hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế quốc tế. Đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực văn hoá - xã hội, thực hiện phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội. Tập trung đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh. Tăng cường củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc như: ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội... Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, trong đó tập trung vào cải cách thủ tục hành chính; tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư và phát triển.

Năm 2008 tỉnh ta xác định là năm “Tập trung phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, lấy phát triển giao thông là khâu đột phá, đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.

2. Những chỉ tiêu chủ yếu:

a) Các chỉ tiêu kinh tế:

- Giá trị tăng thêm toàn tỉnh (GDP giá ss94) tăng trên 18% so với năm 2007, trong đó:

+ Giá trị tăng thêm của các ngành công nghiệp - xây dựng tăng 22,7%;

+ Giá trị tăng thêm ngành dịch vụ tăng trên 16,6%;

+ Giá trị tăng thêm ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 6,0%;

- Sản lượng lương thực có hạt phấn đấu đạt tới 40 vạn tấn;

- Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 500 triệu USD;

- Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 13.000 -13.500 tỷ đồng bằng khoảng 58,8 - 61,1% GDP;

- Thu hút đầu tư nước ngoài đạt trên 1 tỷ USD;

- Tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 6.250 tỷ đồng; trong đó thu nội địa 5.150 tỷ đồng;

- Tổng chi ngân sách địa ph­ương 3.618,937 tỷ đồng;

- Cơ cấu GDP (theo giá thực tế):

+ Công nghiệp - xây dựng: 61,8%

+ Dịch vụ: 25,6%

+ Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản:12,6%

b) Các chỉ tiêu xã hội:

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 1,145%, mức giảm tỷ lệ sinh 0,003%;

- Số bác sỹ/vạn dân: 5,1 bác sỹ, tăng 0,5 so với năm 2007;

- Tỷ lệ hộ nghèo còn: 10%, giảm 2,5% so với năm 2007;

- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dư­ỡng 19%, giảm 1,5% so với năm 2007;

- Số lao động đư­ợc giải quyết việc làm: 25 nghìn ngư­ời;

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo: 40%, tăng 3,6% so với năm 2007.

III - MỘT SỐ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHÍNH:

1. Về kinh tế:

Tập trung đẩy mạnh công tác quy hoạch làm căn cứ để chỉ đạo điều hành và đầu tư; bao gồm quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020, quy hoạch vùng và quy hoạch trung tâm đô thị, công nghiệp Vĩnh Phúc định hướng đến năm 2025, làm cơ sở để phát triển công nghiệp, đô thị trong tương lai; xây dựng các quy hoạch chi tiết, làm cơ sở cho việc xúc tiến đầu tư. Triển khai đồng bộ quy hoạch vùng và quy hoạch ngành. Ưu tiên tập trung quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết đô thị khu vực Bình Xuyên, Phúc Yên, Tam Dương, Tam Đảo và các khu vực có điều kiện phát triển công nghiệp; quy hoạch mạng lưới điện phát triển công nghiệp, đô thị theo hướng quy hoạch chung, quy hoạch phát triển hệ thống khu công nghiệp của Vĩnh Phúc. Tăng cường hiệu quả công tác quản lý theo quy hoạch, chuẩn bị đầu tư, quản lý đầu tư XDCB.

- Đẩy nhanh tiến độ xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, coi phát triển hạ tầng giao thông là khâu đột phá để phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án trọng điểm như: Quốc lộ 2A, 2B, đường nam Đầm Vạc, đường Nguyễn Tất Thành, đường 2C, đường Tôn Đức Thắng kéo dài, đường vành đai khu công nghiệp Bình Xuyên đi Vũ Di… Tiếp tục thực hiện phát triển hạ tầng giao thông nông thôn, phát triển mạng lưới xe buýt, hệ thống mạng lưới điện, cấp thoát nước, quan tâm đầu tư phát triển hạ tầng các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn. Thực hiện cơ chế huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển thông qua các hình thức huy động vốn, đấu giá quyền sử dụng đất, kêu gọi các nhà đầu tư theo hình thức BT, BOT, BO…

Làm tốt công tác đền bù giải phóng mặt bằng để tiếp tục triển khai các dự án và chủ động quỹ đất thu hút đầu tư. Trước mắt tập trung để giao mặt bằng cho các dự án đã được giới thiệu địa điểm đầu tư tại khu công nghiệp Bá Thiện I, Bá Thiện II, khu công nghiệp Bình Xuyên I, Bình Xuyên II, các khu, cụm công nghiệp trong tỉnh, các tuyến đường giao thông quan trọng…

- Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá. Triển khai thực hiện có hiệu quả các đề án, nghị quyết của HĐND tỉnh về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân, trong đó chú trọng phát triển chăn nuôi, thuỷ sản theo hướng trang trại, từng bước xây dựng và hình thành các khu sản xuất tập trung. Đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ công nghệ trong sản xuất nông nghiệp.

- Thu hút mạnh các nguồn vốn đầu tư phát triển công nghiệp. Tạo môi trường thuận lợi cho các dự án đã và đang đầu tư vào địa bàn triển khai thực hiện sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả. Khuyến khích, phát triển toàn diện các thành phần kinh tế, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm; có chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn.

- Đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực dịch vụ nhất là dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, bưu chính viễn thông… tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ, nhất là ngành dịch vụ chất lượng cao. Nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ thiết yếu phục vụ sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.

- Thực hiện nghiêm túc việc lập dự toán ngân sách và phân bổ ngân sách năm 2008, thực hiện công khai, minh bạch trong sử dụng ngân sách Nhà nước, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ngân sách chi cho đầu tư phát triển. Tăng cường phân cấp ngân sách cho cơ sở, đi đôi với việc hướng dẫn kiểm tra của cấp trên. Giao nhiệm vụ kế hoạch ngay từ đầu năm cho các cấp, các ngành chủ động triển khai thực hiện, việc giao kế hoạch vốn xây dựng cơ bản tuân thủ theo quy định về đầu tư XDCB của Nhà nước và phải trên cơ sở các danh mục dự án, công trình đã được HĐND tỉnh phân bổ; riêng một số công trình dự án thuộc các lĩnh vực: Giao thông - vận tải, công cộng hạ tầng, nông, lâm, thuỷ lợi, giáo dục - đào tạo, văn hoá - xã hội, cần đánh giá hiệu quả, đảm bảo quy hoạch chung của tỉnh phải được rà soát lại và thống nhất với Thường trực HĐND tỉnh trước khi quyết định.

2. Về văn hoá - xã hội:

- Đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực văn hoá - xã hội; tập trung phát triển nguồn nhân lực. Thực hiện đồng bộ các chính sách để phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, trong đó chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục ngay từ bậc mầm non, phổ thông, lấy nâng cao chất lượng và phổ cập giáo dục phổ thông làm nền tảng; đào tạo nghề và đào tạo đội ngũ lao động kỹ thuật chất lượng làm khâu đột phá; đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng toàn diện đội ngũ cán bộ, công chức viên chức trong hệ thống chính trị có ý nghĩa quyết định thành công sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá của tỉnh. Đẩy mạnh công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất mạng lưới y tế. Chú trọng đầu tư nâng cao năng lực khám chữa bệnh tuyến huyện và tuyến cơ sở. Thực hiện xã hội hoá các lĩnh vực văn hoá - xã hội. Đẩy mạnh công tác giải quyết việc làm cho người lao động, tiếp tục giảm tỷ lệ hộ nghèo, thực hiện tốt các chính sách xã hội.

3. Nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân và có biện pháp cụ thể, hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường; triển khai thực hiện tốt Luật bảo vệ môi trường và chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia; tăng cường kiểm tra, quản lý và kiên quyết xử lý đối với các cơ sở, đơn vị, tổ chức cá nhân gây ô nhiễm môi trường; quản lý chặt chẽ và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai, tài nguyên nước, khai thác hợp lý tài nguyên khoáng sản. Tăng cường kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm và việc phòng chống các dịch bệnh, xử lý nghiêm các vụ việc vi phạm pháp luật. Tổ chức thực hiện có kết quả chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, tập trung triển khai quyết liệt các giải pháp kiềm chế tai nạn giao thông, phấn đấu làm giảm số vụ, số người chết và bị thương so với năm 2007.

4. Về an ninh, quốc phòng, thi hành pháp luật và xây dựng chính quyền:

- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với quốc phòng, an ninh; đầu tư xây dựng khu vực phòng thủ; thực hiện tốt công tác giáo dục quốc phòng, công tác quốc phòng toàn dân. Thực hiện tốt công tác diễn tập, luyện tập và phòng chống thiên tai.

- Nâng cao chất lượng và trách nhiệm các cấp, các ngành và các cơ quan thi hành pháp luật trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; tập trung giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại tồn đọng, phức tạp, kéo dài, kịp thời giải quyết các vụ việc khiếu nại mới phát sinh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo an ninh nông thôn, không để xảy ra điểm nóng.

- Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính, tập trung trước hết là việc áp dụng cơ chế “một cửa” liên thông tại các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, những nơi, những việc đang gây vướng mắc, phiền hà cho người dân và doanh nghiệp. Thực hiện công khai, minh bạch trong những quy định về thủ tục và giấy tờ cần thiết đối với từng thủ tục hành chính tại các công sở để tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân thực hiện và giám sát. Tiến hành sắp xếp ổn định bộ máy các ngành, các cấp theo tinh thần nghị quyết Trung ương 5 khoá X.

- Kết hợp chặt chẽ giữa việc thực hiện chương trình hành động phòng chống tham nhũng với chương trình hoạt động thực hành tiết kiệm chống lãng phí, gắn cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm với cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự, nhất là các vụ việc có liên quan đến tham nhũng theo quy định của pháp luật.

IV - TỔ CHỨC THỰC HIỆN

- HĐND tỉnh giao UBND tỉnh tổ chức thực hiện Nghị quyết này;

- HĐND tỉnh kêu gọi các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đoàn kết, phấn đấu thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra.

- Thường trực HĐND, các Ban và đại biểu HĐND các cấp có trách nhiệm giám sát việc thực hiện nghị Quyết.

Nghị quyết này đ­ược HĐND tỉnh Vĩnh Phúc khoá XIV, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 14 tháng 12 năm 2007./.

 

 

CHỦ TỊCH




Trịnh Đình Dũng

 

Đã xem:

Đánh giá:  
 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 17/2007/NQ-HĐND

Loại văn bảnNghị quyết
Số hiệu17/2007/NQ-HĐND
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành19/12/2007
Ngày hiệu lực24/12/2007
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcBộ máy hành chính
Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
Cập nhật13 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 17/2007/NQ-HĐND

Lược đồ Nghị quyết số: 17/2007/NQ-HĐND nhiệm vụ năm 2008 Tỉnh Vĩnh Phúc


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản bị đính chính

        Văn bản được hướng dẫn

          Văn bản đính chính

            Văn bản bị thay thế

              Văn bản hiện thời

              Nghị quyết số: 17/2007/NQ-HĐND nhiệm vụ năm 2008 Tỉnh Vĩnh Phúc
              Loại văn bảnNghị quyết
              Số hiệu17/2007/NQ-HĐND
              Cơ quan ban hànhTỉnh Vĩnh Phúc
              Người kýTrịnh Đình Dũng
              Ngày ban hành19/12/2007
              Ngày hiệu lực24/12/2007
              Ngày công báo...
              Số công báo
              Lĩnh vựcBộ máy hành chính
              Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
              Cập nhật13 năm trước

              Văn bản thay thế

                Văn bản được dẫn chiếu

                Văn bản hướng dẫn

                  Văn bản được hợp nhất

                    Văn bản gốc Nghị quyết số: 17/2007/NQ-HĐND nhiệm vụ năm 2008 Tỉnh Vĩnh Phúc

                    Lịch sử hiệu lực Nghị quyết số: 17/2007/NQ-HĐND nhiệm vụ năm 2008 Tỉnh Vĩnh Phúc