Pháp lệnh 15/1999/PL-UBTVQH10

Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích năm 1999

Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích 1999 15/1999/PL-UBTVQH10 đã được thay thế bởi Nghị quyết 1014/2006/NQ-UBTVQH11 chấm dứt hiệu lực của pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích và được áp dụng kể từ ngày 18/04/2006.

Nội dung toàn văn Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích 1999 15/1999/PL-UBTVQH10


UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 15/1999/PL-UBTVQH10">15/1999/PL-UBTVQH10

Hà Nội, ngày 03 tháng 9 năm 1999

 

PHÁP LỆNH

CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI SỐ 15/1999/PL-UBTVQH10">15/1999/PL-UBTVQH10 NGÀY 03 THÁNG 9 NĂM 1999 VỀ NGHĨA VỤ LAO ĐỘNG CÔNG ÍCH

Để huy động một phần sức lao động của công dân tham gia xây dựng, tu bổ các công trình vì lợi ích chung của cộng đồng; kịp thời phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh;
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ tư về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khoá X và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 1999;
Pháp lệnh này quy định nghĩa vụ lao động công ích của công dân.

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1

Nghĩa vụ lao động công ích là nghĩa vụ của công dân đóng góp một số ngày công lao động để làm những công việc vì lợi ích chung của cộng đồng.

Điều 2

Nghĩa vụ lao động công ích quy định trong Pháp lệnh này bao gồm nghĩa vụ lao động công ích hằng năm và nghĩa vụ lao động công ích trong trường hợp cấp thiết khi xảy ra thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh.

Điều 3

Việc huy động công dân thực hiện nghĩa vụ lao động công ích do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định theo kế hoạch, đúng mục đích, bảo đảm công bằng, tiết kiệm và đạt hiệu quả thiết thực.

Điều 4

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định bằng văn bản để huy động công dân thực hiện nghĩa vụ lao động công ích. Trong trường hợp cấp thiết khi xảy ra thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, người có thẩm quyền được huy động trực tiếp bằng lời nói, nhưng chậm nhất sau 24 giờ, kể từ khi huy động phải có quyết định huy động bằng văn bản.

Điều 5

Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để công dân tham gia lao động công ích.

Điều 6

Nghiêm cấm việc huy động và sử dụng lao động nghĩa vụ công ích trái với quy định của Pháp lệnh này.

Chương 2:

NGHĨA VỤ LAO ĐỘNG CÔNG ÍCH HẰNG NĂM

Điều 7

Công dân Việt Nam, nam từ đủ 18 tuổi đến hết 45 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi đến hết 35 tuổi, có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hằng năm.

Điều 8

Số ngày công nghĩa vụ lao động công ích hằng năm của mỗi công dân là 10 ngày.

Điều 9

Lao động công ích hằng năm được sử dụng để góp phần làm các công việc sau đây của địa phương :

1- Xây dựng, tu bổ đường giao thông;

2- Xây dựng, tu bổ các công trình thuỷ lợi; đối với việc xây dựng, tu bổ đê, kè thì thực hiện theo quy định của pháp luật về phòng, chống lụt, bão;

3- Xây dựng, tu bổ trạm y tế, nhà trẻ, trường, lớp mẫu giáo, trường phổ thông và công trình vui chơi, giải trí không vì mục đích kinh doanh;

4- Xây dựng, tu bổ nghĩa trang liệt sĩ, đài tưởng niệm liệt sĩ, nhà bia ghi tên liệt sĩ;

5- Xây dựng, tu bổ các công trình công ích có tính chất xã hội khác.

Điều 10

Những người sau đây được miễn thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hằng năm :

1- Cán bộ, chiến sĩ thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân;

2- Công nhân, công chức quốc phòng và công an nhân dân làm việc ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, biên giới, hải đảo; công nhân, công chức quốc phòng thuộc các đội sửa chữa lưu động chuyên nghiệp;

3- Quân nhân xuất ngũ đang đăng ký ở ngạch dự bị hạng một;

4- Thương binh, bệnh binh và những người hưởng chính sách như thương binh;

5- Cha, mẹ, vợ hoặc chồng của liệt sĩ, người có công nuôi liệt sĩ;

6- Người giữ chức sắc tôn giáo chuyên nghiệp;

7- Người mắc bệnh tâm thần, động kinh hoặc có nhược điểm về thể chất mà không còn khả năng lao động;

8- Người bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên.

Điều 11

Những người thuộc diện thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hằng năm nhưng tại thời điểm huy động thuộc một trong những trường hợp sau đây thì được tạm miễn thực hiện :

1- Người đang điều trị, điều dưỡng; người duy nhất trong gia đình đang trực tiếp chăm sóc thân nhân bị ốm nặng;

2- Cha, mẹ, vợ hoặc chồng của quân nhân tại ngũ có hoàn cảnh gia đình thực sự khó khăn được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đâu gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) chứng nhận;

3- Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng;

4- Người chồng mà vợ chết hoặc đã ly hôn đang trực tiếp nuôi con nhỏ dưới 36 tháng;

5- Người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc phục vụ thương binh nặng, bệnh binh nặng, người tàn tật bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

6- Người thuộc lực lượng nòng cốt của dân quân tự vệ;

7- Cán bộ, công chức nhà nước được điều động đến làm việc có thời hạn ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, biên giới, hải đảo;

8- Thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện đang làm nhiệm vụ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao;

9- Người là lao động duy nhất trong gia đình đang trực tiếp nuôi người khác không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động;

10- Người trong hộ gia đình được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận thuộc diện hộ đói theo chuẩn mực do Chính phủ quy định;

11- Trưởng, phó công an xã, công an viên; trưởng thôn, xóm hoặc tương đương;

12- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, thực tập sinh, sinh viên, học sinh học tập trung dài hạn tại các trường đại học, học viện, trường cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp và trường dạy nghề thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, trường đào tạo của các tôn giáo; học sinh phổ thông; người đang dạy và người đang học để xoá mù chữ;

13- Người đang công tác, học tập, lao động ở nước ngoài.

Điều 12

Thời gian quân nhân dự bị hạng hai và dân quân tự vệ thuộc lực lượng rộng rãi tập trung huấn luyện, hội thao, thao diễn, kiểm tra sẵn sàng chiến đấu, phục vụ chiến đấu được trừ vào thời gian thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hằng năm.

Điều 13

Uỷ ban nhân dân cấp xã lập sổ theo dõi việc thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hằng năm của công dân cư trú trên địa bàn theo mẫu thống nhất do Bộ lao động, thương binh và xã hội quy định và báo cáo Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp huyện). Uỷ ban nhân dân cấp huyện kiểm tra, tổng hợp, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) để tổng hợp trong toàn tỉnh, làm cơ sở cho việc chỉ đạo, kiểm tra và lập kế hoạch sử dụng quỹ ngày công lao động công ích của địa phương.

Thời hạn báo cáo do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định.

Điều 14

Người trực tiếp lao động thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hằng năm phải hoàn thành định mức lao động hoặc khối lượng công việc do đơn vị sử dụng lao động công ích giao, nếu hoàn thành sớm thì được nghỉ trước thời gian quy định.

Điều 15

Người được huy động thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hằng năm, nếu không trực tiếp đi lao động thì phải có người làm thay hoặc đóng tiền.

Người làm thay phải từ đủ 18 tuổi đến hết 60 tuổi đối với nam, từ đủ 18 tuổi đến hết 55 tuổi đối với nữ và đủ sức khoẻ hoàn thành định mức lao động hoặc khối lượng công việc được giao.

Mức tiền đóng thay cho mỗi ngày công do Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định phù hợp với thực tế của từng khu vực tại địa phương, nhưng mức cao nhất không được vượt quá 120% tiền lương một ngày của mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định.

Điều 16

Người thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hằng năm nếu không trực tiếp đi lao động được mà đóng tiền thì phải nộp tiền cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú. Khi nhận tiền, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải giao biên lai cho người nộp tiền.

Điều 17

Nguồn lực từ nghĩa vụ lao động công ích hằng năm được phân bổ cho cấp tỉnh tối đa 10%, cho cấp huyện tối đa 20%, phần còn lại dành cho cấp xã.

Điều 18

1- Uỷ ban nhân dân các cấp được lập quỹ ngày công lao động công ích của cấp mình từ nguồn nghĩa vụ lao động công ích hằng năm.

2- Toàn bộ quỹ ngày công lao động công ích phải được phản ánh vào ngân sách địa phương các cấp.

Số tiền thu được từ việc thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hằng năm bằng hình thức đóng tiền của cấp nào phải được nộp vào tài khoản riêng của cấp đó mở tại Kho bạc nhà nước.

3- Việc quản lý và sử dụng quỹ ngày công lao động công ích phải bảo đảm đúng mục đích, dân chủ và công khai.

Chính phủ quy định cụ thể việc quản lý và sử dụng quỹ ngày công lao động công ích.

Điều 19

Nguồn lực từ nghĩa vụ lao động công ích hằng năm của cấp xã được sử dụng để làm các công việc công ích của xã, phường, thị trấn.

Nguồn lực từ nghĩa vụ lao động công ích hằng năm của cấp tỉnh, cấp huyện được sử dụng để hỗ trợ cho các công trình công ích do cấp dưới quản lý hoặc sử dụng vào công trình công ích do cấp mình quản lý.

Điều 20

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã) căn cứ vào kế hoạch sử dụng lao động công ích hằng năm đã được Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định hoặc căn cứ vào yêu cầu của Uỷ ban nhân dân cấp trên để ra quyết định huy động đối với công dân cư trú trên địa bàn.

Quyết định huy động của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã phải được thông báo cho người được huy động hoặc gia đình họ biết chậm nhất là 7 ngày trước ngày thực hiện nghĩa vụ lao động công ích.

Điều 21

Việc huy động lao động nghĩa vụ công ích hằng năm phải trên cơ sở xác định rõ khối lượng công việc, nhu cầu lao động, tiến độ thi công và các yếu tố liên quan, đồng thời phải hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng của việc huy động đó đến sản xuất, công tác, học tập của cơ quan, tổ chức, đơn vị và của công dân.

Điều 22

Kinh phí phục vụ việc tổ chức huy động và quản lý quỹ ngày công lao động công ích hằng năm do ngân sách địa phương cấp theo quy định của pháp luật.

Chương 3:

NGHĨA VỤ LAO ĐỘNG CÔNG ÍCH TRONG TRƯỜNG HỢP CẤP THIẾT KHI XẢY RA THIÊN TAI, HOẢ HOẠN, DỊCH BỆNH

Điều 23

Trong trường hợp cấp thiết khi xảy ra thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh (sau đây gọi là trường hợp cấp thiết), mọi công dân có sức lao động có nghĩa vụ tham gia lao động để kịp thời phòng, chống hoặc khắc phục hậu quả nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra.

Điều 24

Thẩm quyền quyết định huy động nghĩa vụ lao động công ích trong trường hợp cấp thiết được quy định như sau:

1- Thủ tướng Chính phủ quyết định huy động khi trường hợp cấp thiết đặc biệt nghiêm trọng xảy ra có ảnh hưởng lớn đến kinh tế - xã hội hoặc tác động nguy hiểm đến môi trường sinh thái thuộc phạm vi nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hoặc trong một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nhưng vượt quá khả năng giải quyết của cấp tỉnh;

2- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định huy động khi trường hợp cấp thiết xảy ra thuộc phạm vi nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, hoặc trong một huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, nhưng vượt quá khả năng giải quyết của cấp huyện;

3- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định huy động khi trường hợp cấp thiết xảy ra thuộc phạm vi nhiều xã, phường, thị trấn, hoặc trong một xã, phường, thị trấn, nhưng vượt quá khả năng giải quyết của cấp xã;

4- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định huy động khi trường hợp cấp thiết xảy ra thuộc phạm vi xã, phường, thị trấn.

Trong trường hợp không tự giải quyết được thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phải báo cáo ngay với cấp trên trực tiếp giải quyết.

Điều 25

Thời gian huy động lao động công ích trong trường hợp cấp thiết mỗi đợt không quá 5 ngày công, kể cả thời gian đi, về.

Chương 4:

CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI NGƯỜI TRỰC TIẾP LAO ĐỘNG THỰC HIỆN NGHĨA VỤ LAO ĐỘNG CÔNG ÍCH

Điều 26

Người trực tiếp lao động thực hiện nghĩa vụ lao động công ích cách xa nơi cư trú, nếu không có điều kiện đi, về hàng ngày, thì đơn vị sử dụng (đối với lao động công ích hằng năm) hoặc cơ quan quyết định huy động (đối với trường hợp cấp thiết) bố trí nơi nghỉ, hỗ trợ việc đi lại hoặc thanh toán tiền tàu xe một lần đi, về.

Điều 27

1- Người thực hiện nghĩa vụ lao động công ích trong trường hợp cấp thiết được bồi dưỡng. Mức bồi dưỡng một ngày làm việc bằng tiền lương một ngày của mức lương tối thiểu chung. Trường hợp làm việc vào ban đêm (từ 22 giờ đến 6 giờ sáng) được bồi dưỡng gấp đôi. Nếu làm việc ở nơi có yếu tố độc hại, nguy hiểm thì được trang bị các phương tiện bảo hộ lao động và được bồi dưỡng như đối với người lao động làm việc cùng môi trường thuộc khu vực sản xuất, kinh doanh.

2- Các chế độ bồi dưỡng quy định tại khoản 1 Điều này được tính theo số giờ thực tế làm việc hàng ngày. Làm việc từ 2 giờ đến 4 giờ được tính nửa ngày, làm việc từ trên 4 giờ đến 8 giờ được tính cả ngày; trường hợp phải làm thêm giờ thì số giờ làm thêm được tính gấp đôi.

3- Ngoài chế độ bồi dưỡng quy định tại Điều này, người thực hiện nghĩa vụ lao động công ích trong trường hợp cấp thiết cách xa nơi cư trú, không có điều kiện đi, về hàng ngày được hỗ trợ tiền ăn. Mức hỗ trợ do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra tình trạng cấp thiết quy định.

Điều 28

Người trực tiếp lao động thực hiện nghĩa vụ lao động công ích nếu bị tai nạn lao động thì được thanh toán chi phí y tế trong quá trình sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định thương tật. Trường hợp người bị tai nạn làm suy giảm khả năng lao động thì được xét trợ cấp tuỳ theo mức độ suy giảm khả năng lao động. Nếu người bị tai nạn chết, kể cả chết trong thời gian điều trị lần đầu, thì người trực tiếp lo mai táng được nhận tiền mai táng; gia đình hoặc thân nhân của người đó được trợ cấp một lần.

Chính phủ quy định cụ thể chi phí y tế, tiền mai táng và các chế độ trợ cấp.

Điều 29

Người bị ốm đau trong khi trực tiếp lao động thực hiện nghĩa vụ lao động công ích, nếu có thẻ bảo hiểm y tế thì được cơ quan bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám, chữa bệnh theo quy định của Điều lệ bảo hiểm y tế; người chưa tham gia bảo hiểm y tế được hưởng quyền lợi như người có bảo hiểm y tế, trừ trường hợp ốm đau khi thực hiện nghĩa vụ lao động công ích hằng năm tại công trình của xã, phường, thị trấn.

Điều 30

Kinh phí chi trả các chế độ và chi phí khám, chữa bệnh đối với người chưa tham gia bảo hiểm y tế quy định tại các điều 26, 27, 28 và 29 của Pháp lệnh này được quy định như sau:

1- Các khoản chi thuộc nghĩa vụ lao động công ích hằng năm được trích từ nguồn lao động công ích hằng năm bằng tiền của cấp quản lý công trình, nếu nguồn này không đủ thì được bổ sung từ ngân sách địa phương cùng cấp;

2- Các khoản chi thuộc nghĩa vụ lao động công ích trong trường hợp cấp thiết được trích từ ngân sách của cấp ra quyết định huy động, riêng trường hợp cấp thiết do bão, lụt thì sử dụng quỹ phòng, chống bão, lụt.

Điều 31

Người dũng cảm cứu người khác, cứu tài sản của Nhà nước, của nhân dân hoặc đấu tranh chống tội phạm trong khi thực hiện nghĩa vụ lao động công ích, nếu bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên được xét hưởng chính sách như thương binh, nếu hy sinh được xét công nhận là liệt sĩ.

Điều 32

Người đi lao động thay cho người có nghĩa vụ lao động công ích hằng năm quy định tại Điều 15 của Pháp lệnh này có trách nhiệm và được hưởng các quyền lợi như người trực tiếp lao động thực hiện nghĩa vụ lao động công ích.

Chương 5:

TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC, CÁC TỔ CHỨC TRONG VIỆC QUẢN LÝ, SỬ DỤNG NGHĨA VỤ LAO ĐỘNG CÔNG ÍCH

Điều 33

1- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về nghĩa vụ lao động công ích trong phạm vi cả nước.

2- Bộ lao động, thương binh và xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về nghĩa vụ lao động công ích.

3- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Bộ lao động, thương binh và xã hội thực hiện việc quản lý nhà nước về nghĩa vụ lao động công ích.

4- Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện việc quản lý nhà nước về nghĩa vụ lao động công ích ở địa phương.

Điều 34

Cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, nhà trường và gia đình, trong phạm vi trách nhiệm của mình có nhiệm vụ giám sát, kiểm tra, động viên, giáo dục và tạo điều kiện cho người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ lao động công ích.

Điều 35

Hằng năm, Hội đồng nhân dân các cấp quyết định các công trình công ích và quỹ ngày công lao động công ích sử dụng cho từng công trình thuộc cấp mình; quyết định mức hỗ trợ cho các công trình thuộc Uỷ ban nhân dân cấp dưới quản lý phù hợp với tình hình cụ thể của từng địa phương.

Điều 36

1- Uỷ ban nhân dân các cấp lập kế hoạch sử dụng quỹ ngày công lao động công ích hằng năm trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định; quyết định huy động, quản lý và sử dụng quỹ ngày công lao động công ích; báo cáo kết quả thực hiện với Hội đồng nhân dân cùng cấp và Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp.

2- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp quyết định huy động lao động công ích trong trường hợp cấp thiết theo thẩm quyền quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 24 của Pháp lệnh này và báo cáo kết quả với cấp trên trực tiếp sau mỗi lần huy động.

3- Hằng năm, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Chính phủ về kết quả thực hiện nghĩa vụ lao động công ích tại địa phương.

Điều 37

Cơ quan, tổ chức sử dụng lao động công ích có trách nhiệm chuẩn bị tốt các điều kiện, phương tiện và tổ chức, sử dụng lao động công ích có hiệu quả; có biện pháp phòng ngừa tai nạn xảy ra; nghiệm thu, thanh toán, quyết toán chính xác, kịp thời; chấp hành đầy đủ chế độ, chính sách đối với người thực hiện nghĩa vụ lao động công ích.

Chương 6:

KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 38

Người có thành tích trong việc thực hiện nghĩa vụ lao động công ích được khen thưởng theo quy định của Nhà nước.

Điều 39

Người có thẩm quyền huy động hoặc người có trách nhiệm quản lý, sử dụng lao động công ích có hành vi vi phạm quy định của Pháp lệnh này, thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 40

Người nào có hành vi chống đối, cản trở việc huy động hoặc trốn tránh thực hiện nghĩa vụ lao động công ích; làm hư hỏng, thất thoát vật tư, thiết bị, phương tiện phục vụ lao động công ích hoặc có hành vi khác vi phạm các quy định của Pháp lệnh này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Điều 41

Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo; tổ chức có quyền khiếu nại hành vi vi phạm các quy định của Pháp lệnh này theo quy định của pháp luật.

Chương 7:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 42

Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2000.

Điều 43

Pháp lệnh này thay thế Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích ngày 10 tháng 11 năm 1988.

Các quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bãi bỏ.

Điều 44

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.

 

 

Nông Đức Mạnh

(Đã ký)

 

Đã xem:

Đánh giá:  
 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 15/1999/PL-UBTVQH10

Loại văn bản Pháp lệnh
Số hiệu 15/1999/PL-UBTVQH10
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành 03/09/1999
Ngày hiệu lực 01/01/2000
Ngày công báo 31/10/1999
Số công báo Số 40
Lĩnh vực Lao động - Tiền lương, Lĩnh vực khác
Tình trạng hiệu lực Hết hiệu lực 18/04/2006
Cập nhật 3 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 15/1999/PL-UBTVQH10

Lược đồ Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích 1999 15/1999/PL-UBTVQH10


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

Văn bản sửa đổi, bổ sung

Văn bản bị đính chính

Văn bản được hướng dẫn

Văn bản đính chính

Văn bản hiện thời

Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích 1999 15/1999/PL-UBTVQH10
Loại văn bản Pháp lệnh
Số hiệu 15/1999/PL-UBTVQH10
Cơ quan ban hành Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
Người ký Nông Đức Mạnh
Ngày ban hành 03/09/1999
Ngày hiệu lực 01/01/2000
Ngày công báo 31/10/1999
Số công báo Số 40
Lĩnh vực Lao động - Tiền lương, Lĩnh vực khác
Tình trạng hiệu lực Hết hiệu lực 18/04/2006
Cập nhật 3 năm trước

Văn bản được dẫn chiếu

Văn bản được hợp nhất

Văn bản gốc Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích 1999 15/1999/PL-UBTVQH10

Lịch sử hiệu lực Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích 1999 15/1999/PL-UBTVQH10