Quyết định 306-TC

Quyết định 306-TC năm 1962 về chế độ kiểm tra kỹ thuật các loại máy do Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp ban hành

Nội dung toàn văn Quyết định 306-TC chế độ kiểm tra kỹ thuật các loại máy


TỔNG CỤC LÂM NGHIỆP
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 306-TC

Hà Nội, ngày 27 tháng 06 năm 1962 

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ CHẾ ĐỘ KIỂM TRA KỸ THUẬT CÁC LOẠI MÁY

TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC LÂM NGHIỆP

Căn cứ Nghị định số 140-CP ngày 29-9-1961 quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Tổng cục Lâm nghiệp;
Căn cứ đề nghị của ông Cục trưởng Cục khai thác,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. – Để đảm bảo việc thực hiện nghiêm chỉnh chế độ an toàn kỹ thuật và các quy tắc kỹ thuật trong việc sử dụng, bảo dưỡng các loại máy nhằm ngăn ngừa những hư hỏng do việc không chấp hành đầy đủ các chế độ và quy tắc kỹ thuật các loại máy, nay quy định chế độ kiểm tra kỹ thuật các loại máy như sau.

Điều 2. – Chế độ kiểm tra kỹ thuật các loại máy bao gồm:

1. Việc kiểm tra hàng ngày

2. Việc kiểm tra thường kỳ

3. Việc kiểm tra bất thường

I. KIỂM TRA HÀNG NGÀY

Điều 3. – Mỗi ngày, trước khi cho máy hoạt động hay khi bàn giao máy từ ca này sang ca khác, người công nhân phụ trách từng máy (như lái chính đối với ô-tô, máy kéo; người đứng máy đối với máy phát lực, máy cưa, v.v... ) phải kiểm tra máy theo đúng chế độ sử dụng và chăm sóc của từng loại máy, và phải cùng với người phụ máy làm đầy đủ công việc chăm sóc hàng ngày đã quy định cho từng loại máy.

Điều 4. – Nếu trong khi kiểm tra, phát hiện có hiện tượng khác thường có thể làm hư hỏng máy, người công nhân phụ trách từng máy phải báo cáo với kỹ thuật viên của đơn vị hoặc với thủ trưởng đơn vị. Chỉ được cho máy hoạt động khi đã sửa chữa hoặc đã xác nhận hiện tượng phát hiện không có trở ngại gì cho việc hoạt động của máy.

II. KIỂM TRA THƯỜNG KỲ

Điều 5. – Ngoài việc kiểm tra thường kỳ của cơ quan giao thông đối với ô-tô, hàng tháng phải tiến hành kiểm tra kỹ thuật các loại máy một lần.

Điều 6. – Việc kiểm tra thường kỳ hàng tháng là trách nhiệm của những cán bộ sau đây:

- Kỹ thuật viên của đơn vị như kỹ thuật viên của đội ô tô, đội máy kéo, kỹ thuật viên của xưởng cưa v.v... có trách nhiệm kiểm tra thường kỳ các loại máy thuộc đơn vị mình.

- Cán bộ kiểm tra máy của lâm trường hay của ty có trách nhiệm kiểm tra thường kỳ các loại máy không thuộc các đơn vị có kỹ thuật viên.

Điều 7. – Sau khi kiểm tra, kỹ thuật viên của đơn vị hay cán bộ kiểm tra của ty, lâm trường sẽ làm những việc sau đây:

1. Ghi nhận xét về công việc chăm sóc, sử dụng máy của người phụ trách máy vào sổ nhật ký công tác của người đó.

2. Đối với những máy xét ra không đảm bảo an toàn kỹ thuật, nếu để hoạt động có thể gây ra hư hỏng hoặc có thể xảy ra tai nạn lao động, kỹ thuật viên của đơn vị hoặc cán bộ kiểm tra của ty, lâm trường có quyền yêu cầu cho máy đó tạm ngừng hoạt động và báo cáo với thủ trưởng đơn vị.

3. Làm biên bản kiểm tra trong đó ghi rõ ưu khuyết điểm của từng máy, những đề nghị để bổ khuyết và đề nghị với thủ trưởng đơn vị khen thưởng những công nhân có nhiều ưu điểm trong việc chăm sóc, sử dụng máy và có kỷ luật thích hợp đối với những công nhân thiếu trách nhiệm.

III. KIỂM TRA BẤT THƯỜNG

Điều 8. – Mục đích của việc kiểm tra bất thường là:

1. Kiểm tra tình hình chăm sóc, sử dụng máy.

2. Kiểm tra xem chế độ kiểm tra hàng ngày, chế độ kiểm tra thường kỳ có được chấp hành nghiêm chỉnh hay không.

Điều 9. – Những cán bộ sau đây có thẩm quyền tiến hành kiểm tra bất thường:

1. Cán bộ kiểm tra máy của Tổng cục có giấy ủy nhiệm do Giám đốc hoặc Phó Giám đốc các Cục Khai thác, Vận chuyển phân phối và Trồng rừng ký thừa lệnh Tổng Cục trưởng.

2. Cán bộ kiểm tra máy của Sở Lâm nghiệp các khu Tự trị Việt bắc, Thái Mèo, có giấy ủy nhiệm do Giám đốc hoặc Phó Giám đốc Sở Lâm nghiệp ký.

3. Cán bộ kiểm tra máy của Ty Lâm nghiệp có giấy ủy nhiệm do Trưởng hoặc Phó ty ký.

4. Trưởng ban kỹ thuật đã có văn bản chỉ định, hoặc cán bộ kiểm tra máy của các lâm trường trực thuộc. Cán bộ kiểm tra, nếu không phải là Trưởng ban kỹ thuật, phải có giấy ủy nhiệm do Giám đốc hoặc Phó Giám đốc lâm trường ký.

Điều 10. – Cán bộ kiểm tra nói ở điều 9 trên đây có thể tiến hành kiểm tra bằng những hình thức sau đây:

1. Kiểm tra toàn bộ hoặc một phần các loại máy của đơn vị theo một kế hoạch thống nhất với đơn vị đó.

2. Kiểm tra đột xuất và bất ngờ. Trong trường hợp này, cán bộ kiểm tra không bắt buộc phải báo trước cho thủ trưởng đơn vị có loại máy được kiểm tra, nhưng sau khi kiểm tra, nhất thiết cán bộ kiểm tra phải báo cáo kết quả kiểm tra cho thủ trưởng đơn vị đó biết.

Điều 11. – Sau khi cán bộ kiểm tra đã xuất trình giấy ủy nhiệm và đề ra yêu cầu kiểm tra, thủ trưởng đơn vị có nhiệm vụ:

1. Sắp xếp công việc của các loại máy để có thể tiến hành kiểm tra được nhanh chóng.

2. Chỉ định cán bộ chứng kiến và theo dõi việc kiểm tra.

a) Nếu là cán bộ kiểm tra của Tổng Cục hoặc của Sở Lâm nghiệp, thì ty hoặc lâm trường trực thuộc phải cử cán bộ kiểm tra của ty hoặc lâm trường tham gia việc kiểm tra.

b) Tại đơn vị sản xuất (đội ô-tô, máy kéo, xưởng cưa, v.v...) thủ trưởng đơn vị hoặc kỹ thuật viên của đơn vị có trách nhiệm cùng tham gia kiểm tra

3. Xuất trình các sổ sách, bảng thống kê về tình hình hoạt động của các loại máy ấy, bản lý lịch của từng máy.

Điều 12. – Công nhân phụ trách từng máy, khi được kiểm tra có nhiệm vụ:

1. Đưa máy vào nơi thuận tiện cho việc kiểm tra (nếu là máy di động) và làm mọi công việc cần thiết để có thể kiểm tra máy được chu đáo như: kích máy, phát động thử, chạy thử v.v...

2. Báo cáo đầy đủ về tình hình hoạt động, chăm sóc, bảo dưỡng, sửa chữa của máy, xuất trình các sổ sách theo dõi: lý lịch, sổ nhật ký, v.v...

Điều 13. – Sau khi kiểm tra máy của một đơn vị, cán bộ kiểm tra bất thường sẽ làm 1 biên bản trong đó ghi rõ:

1. Tình hình chăm sóc, sử dụng máy của đơn vị.

2. Nhận xét về việc chấp hành chế độ kiểm tra của đơn vị

3. Đề nghị với thủ trưởng đơn vị khen thưởng những cá nhân có ưu điểm trong việc chăm sóc, sử dụng máy và có kỷ luật đối với những công nhân thiếu trách nhiệm.

Điều 14. – Đối với những máy, xét ra không đảm bảo an toàn kỹ thuật, nếu để hoạt động có thể gây ra hư hỏng hoặc có thể xảy ra tai nạn lao động, cán bộ kiểm tra bất thường có quyền yêu cầu cho máy đó tạm ngừng hoạt động.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 15. – Để đảm bảo chế độ kiểm tra thường kỳ, các đơn vị máy phải chỉ định kỹ thuật viên của đơn vị. Kỹ thuật viên sẽ chọn trong những người có tiêu chuẩn sau đây:

1. Cán bộ kỹ thuật đã qua thời gian tập sự, có tinh thần trách nhiệm.

2. Công nhân kỹ thuật (lái xe, lái máy kéo, công nhân máy phát lực, công nhân sửa chữa, v.v... ) có tinh thần trách nhiệm, có đạo đức tốt. Kỹ thuật viên phải do một quyết định của Trưởng ty hoặc Giám đốc làm trưởng trực thuộc chỉ định.

Điều 16. - Để đảm bảo việc kiểm tra thường kỳ đối với các máy phân tán, không thành đơn vị, và để đảm bảo việc kiểm tra bất thường, các ty Lâm nghiệp và lâm trường trực thuộc phải thành lập một tổ kiểm tra kỹ thuật gồm có:

- Trưởng hoặc Phó Phòng Khai thác hay kho vận của Ty, Trưởng hoặc Phó Ban kỹ thuật của lâm trường trực thuộc làm tổ trưởng.

- Một số cán bộ cơ khí của Ty hoặc lâm trường,

- Một số công nhân kỹ thuật có kinh nghiệm, có tinh thần trách nhiệm, có đạo đức tốt, rút ở các đơn vị để tiến hành kiểm tra từng thời gian.

Điều 17. - Cục Khai thác, Cục Vận chuyển phân phối, Cục Trồng rừng sẽ đề nghị danh sách những cán bộ được giao trách nhiệm kiểm tra kỹ thuật máy để Tổng Cục ra quyết định chỉ định.

Điều 18. – Các tổ kiểm tra kỹ thuật máy của ty và lâm trường, hàng tháng phải báo cáo kết quả kiểm tra thường kỳ lên Tổng Cục (Cục Khai thác, Cục Vận chuyển phân phối hay Trồng rừng tùy theo từng đơn vị).

V. THỜI GIAN VÀ BIỆN PHÁP THI HÀNH

Điều 19. – Các ty, lâm trường, phải tiến hành phổ biến quyết định này đến tận cán bộ và công nhân máy và làm cho mỗi người đều hiểu rõ mục đích ý nghĩa của chế độ kiểm tra kỹ thuật.

Quyết định này phải viết rõ ràng và niêm yết tại những địa điểm tập trung máy như đoạn xe, xưởng máy v.v...

Thời gian phổ biến đến hết tháng 7 phải hoàn thành.

Trong thời gian do, các ty và lâm trường chỉ định các kỹ thuật viên của đơn vị sản xuất, thành lập tổ kiểm tra của ty và lâm trường.

Bắt đầu từ tháng 8 năm 1962, chế độ này phải được triệt để chấp hành.

Điều 20. – Theo quyết định này, hàng tháng cán bộ phụ trách các đơn vị sử dụng máy như xưởng máy, đoàn xe, v.v... phải cùng với công đoàn kiểm điểm việc kiểm tra máy của đơn vị các cấp lãnh đạo.

VI. KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT

Điều 21. – Những đơn vị và cá nhân chấp hành nghiêm chỉnh chế độ này sẽ được khen thưởng thích đáng.

Tổng Cục sẽ cương quyết thi hành kỷ luật đối với những đơn vị và cá nhân không nghiêm chỉnh chấp hành chế độ này, do đó đã để xảy hư hỏng máy, làm tổn hại đến tài sản Nhà nước và trở ngại cho việc hoàn thành kế hoạch.

VII.ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 22. – Các ông Giám đốc các Sở Lâm nghiệp Khu Tự trị Thái Mèo, Việt Bắc, Trưởng ty Lâm nghiệp, Giám đốc Lâm trường trực thuộc, Giám đốc các Cục, Vụ và Ban Thanh tra Tổng Cục có trách nhiệm thi hành quyết định này

 

 

K.T TỔNG CỤC TRƯỞNG
TỔNG CỤC LÂM NGHIỆP
TỔNG CỤC PHÓ
 


 

Nguyễn Văn Phương

 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 306-TC

Loại văn bảnQuyết định
Số hiệu306-TC
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành27/06/1962
Ngày hiệu lực12/07/1962
Ngày công báo11/07/1962
Số công báoSố 25
Lĩnh vựcLĩnh vực khác
Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
Cập nhật12 năm trước

Lược đồ Quyết định 306-TC chế độ kiểm tra kỹ thuật các loại máy


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Quyết định 306-TC chế độ kiểm tra kỹ thuật các loại máy
                Loại văn bảnQuyết định
                Số hiệu306-TC
                Cơ quan ban hànhTổng cục Lâm nghiệp
                Người kýNguyễn Văn Phương
                Ngày ban hành27/06/1962
                Ngày hiệu lực12/07/1962
                Ngày công báo11/07/1962
                Số công báoSố 25
                Lĩnh vựcLĩnh vực khác
                Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
                Cập nhật12 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản được dẫn chiếu

                    Văn bản hướng dẫn

                      Văn bản được hợp nhất

                        Văn bản gốc Quyết định 306-TC chế độ kiểm tra kỹ thuật các loại máy

                        Lịch sử hiệu lực Quyết định 306-TC chế độ kiểm tra kỹ thuật các loại máy

                        • 27/06/1962

                          Văn bản được ban hành

                          Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                        • 11/07/1962

                          Văn bản được đăng công báo

                          Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                        • 12/07/1962

                          Văn bản có hiệu lực

                          Trạng thái: Có hiệu lực