Quyết định 392-CT

Quyết định 392-CT năm 1990 về chấn chỉnh và tổ chức lại sản xuất và lưu thông thuốc lá điếu do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành

Nội dung toàn văn Quyết định 392-CT chấn chỉnh tổ chức lại sản xuất và lưu thông thuốc lá điếu


CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 392-CT

Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 1990

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC CHẤN CHỈNH VÀ TỔ CHỨC LẠI SẢN XUẤT VÀ LƯU THÔNG THUỐC LÁ ĐIẾU

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG

Để đảm bảo việc sản xuất và lưu thông thuốc lá điếu đi vào quy hoạch, kế hoạch khắc phục tình trạng lộn xộn như hiện nay, Nhà nước quản lý được sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường; đảm bảo nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Tập trung đầu tư chiều sâu cho các cơ sở sản xuất thuốc lá hiện có để cải tiến mặt hàng, nâng cao sản lượng, chất lượng thuốc lá điếu. Tạm thời đình chỉ xây dựng mới các cơ sở sản xuất thuốc lá điếu, bất kể từ nguồn vốn nào.

Các quận, huyện, thị xã, phường, xã không được tổ chức sản xuất thuốc lá điếu.

Toàn bộ các cơ sở sản xuất thuốc lá điếu quốc doanh hiện do các quận, huyện, thị xã, phường, xã quản lý phải chuyển giao cho tỉnh, thành phố, đặc khu trực tiếp quản lý. Việc chuyển giao phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12 năm 1990. Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm hướng dẫn cụ thể việc bàn giao này.

Điều 2. Giao Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm cùng Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương xem xét, đánh giá và quy hoạch lại các cơ sở sản xuất thuốc lá của địa phương, xây dựng đề án chấn chỉnh và tổ chức lại sản xuất các cơ sở sản xuất thuốc lá điếu hiện có, báo cáo Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Trước mắt, cần có phương án cải tiến, đổi mới kỹ thuật, công nghệ sản xuất, cải tiến mặt hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm thuốc lá điếu của các cơ sở sản xuất thuốc lá hiện có. Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm và Uỷ ban nhân dân các tỉnh tập trung chỉ đạo cân đối đủ nguyên liệu, phụ liệu cho các nhà máy, cải tiến, đổi mới kỹ thuật, công nghệ, tận dụng công suất thiết bị của các nhà máy, đảm bảo đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, kể cả thuốc lá điếu chất lượng cao.

Từ nay việc nhập khẩu các loại thiết bị chế biến thuốc lá điếu nhằm đổi mới các thiết bị và dây chuyền thiết bị cũ, mở rộng công suất các nhà máy hiện có phải được sự đồng ý của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm thì Bộ Thương nghiệp mới cấp giấy phép nhập khẩu. Trường hợp nhà máy sản xuất thuốc lá hiện có muốn mở rộng công suất lên quy mô lớn (từ 50 triệu bao/năm trở lên) phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xem xét, quyết định.

Điều 3. Tất cả các nhà máy sản xuất thuốc lá điếu phải đăng ký nhãn hiệu, chất lượng sản phẩm với cơ quan quản lý đo lường và tiêu chuẩn, chất lượng của Nhà nước theo quy định hiện hành.

Các loại thuốc lá tiêu thụ trên thị trường không có giấy phép, không đăng ký nhãn hiệu và chất lượng sản phẩm đều coi là sản xuất lậu và bị tịch thu. Nghiêm cấm sản xuất và buôn bán thuốc giả hoặc thuốc lá mất phẩm chất.

Các loại thuốc lá mang nhãn hiệu nước ngoài được phép sản xuất để bán ra nước ngoài, nếu tiêu thụ trong nước thì phải được phép và in rõ ở ngoài bao "sản xuất tại Việt Nam", nếu không sẽ bị xử lý như thuốc lá nhập lậu.

Các cơ quan quản lý đo lường và tiêu chuẩn chất lượng và cơ quan y tế phải thường xuyên tổ chức kiểm tra chất lượng sản phẩm và vệ sinh công nghiệp tại các cơ sở sản xuất, đồng thời cùng với cơ quan quản lý thị trường thường xuyên kiểm tra nhãn hiệu và chất lượng thuốc lá điếu bán trên thị trường.

Điều 4. Bộ Thương nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu khẩn trương tổ chức lại hệ thống lưu thông thuốc lá điếu trong cả nước và xuất khẩu, không để nhiều tầng nấc trung gian, bảo đảm cho người tiêu dùng mua hàng được thuận tiện, giá cả hợp lý.

Các nhà máy sản xuất thuốc lá thực hiện bán buôn cho thương nghiệp quốc doanh, ở những nơi thương nghiệp chưa làm thì được mở đại lý bán buôn hoặc trực tiếp bán buôn cho các thành phần kinh tế có đang ký kinh doanh bán lẻ thuốc lá.

Tăng cường mạng lưới bán lẻ thuốc lá điếu của thương nghiệp quốc doanh, hợp tác xã mua bán. Mở rộng hệ thống đại lý bán lẻ thuốc lá điếu, chủ yếu thu hút những người về hưu, mất sức, gia đình có khó khăn.

Thương nghiệp quốc doanh thực hiện tốt việc tiêu thụ thuốc lá của các nhà máy sản xuất, thanh toán theo hợp đồng kinh tế.

Nghiêm cấm các hoạt động đầu cơ, tích trữ thuốc lá điếu.

Điều 5. Giá bán thuốc lá điếu được điều chỉnh theo mặt bằng giá nói chung, do cơ sở sản xuất và tổ chức tiêu thụ thoả thuận, không được tuỳ tiện nâng giá.

Các đơn vị sản xuất thuốc lá được bán thuốc lá điếu để thu ngoại tệ nhưng phải đăng ký và được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép. Số ngoại tệ thu được chỉ sử dụng để nhập thiết bị, nguyên liệu, phụ liệu sản xuất thuốc lá. Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm tổng hợp, cân đối nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu, phụ liệu của cả nước để đề nghị Bộ Thương nghiệp cấp giấy phép nhập khẩu. Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm tự cân đối ngoại tệ trong ngành để nhập khẩu các loại vật tư, thiết bị trên.

Điều 6. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Bộ Thương nghiệp, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương và Thủ trưởng các ngành có liên quan cùng với việc thực hiện Chỉ thị 278-CT ngày 3-8-1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, theo trách nhiệm được giao khẩn trương ra các văn bản hướng dẫn và tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh Quyết định này; sớm lập lại trật tự trong sản xuất và tiêu thụ thuốc lá điếu trên phạm vi cả nước. Xử lý nghiêm minh theo pháp luật các trường hợp vi phạm.

Tổ chức tốt việc tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng để nhân dân hiểu rõ và tích cực tham gia thực hiện tốt Quyết định này, đồng thời phê phán những vụ vi phạm.

Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Bộ Thương nghiệp, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương và các ngành có liên quan thường xuyên báo cáo kết quả thực hiện lên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

 

 

Võ Văn Kiệt

(Đã ký)

 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 392-CT

Loại văn bảnQuyết định
Số hiệu392-CT
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành12/11/1990
Ngày hiệu lực27/11/1990
Ngày công báo31/12/1990
Số công báoSố 24
Lĩnh vựcDoanh nghiệp, Thương mại
Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
Cập nhật11 năm trước

Lược đồ Quyết định 392-CT chấn chỉnh tổ chức lại sản xuất và lưu thông thuốc lá điếu


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Quyết định 392-CT chấn chỉnh tổ chức lại sản xuất và lưu thông thuốc lá điếu
                Loại văn bảnQuyết định
                Số hiệu392-CT
                Cơ quan ban hànhChủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
                Người kýVõ Văn Kiệt
                Ngày ban hành12/11/1990
                Ngày hiệu lực27/11/1990
                Ngày công báo31/12/1990
                Số công báoSố 24
                Lĩnh vựcDoanh nghiệp, Thương mại
                Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
                Cập nhật11 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản được dẫn chiếu

                    Văn bản hướng dẫn

                      Văn bản được hợp nhất

                        Văn bản được căn cứ

                          Văn bản hợp nhất

                            Văn bản gốc Quyết định 392-CT chấn chỉnh tổ chức lại sản xuất và lưu thông thuốc lá điếu

                            Lịch sử hiệu lực Quyết định 392-CT chấn chỉnh tổ chức lại sản xuất và lưu thông thuốc lá điếu

                            • 12/11/1990

                              Văn bản được ban hành

                              Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                            • 31/12/1990

                              Văn bản được đăng công báo

                              Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                            • 27/11/1990

                              Văn bản có hiệu lực

                              Trạng thái: Có hiệu lực