Quyết định 5512/QĐ-UBND

Quyết định 5512/QĐ-UBND năm 2013 về Kế hoạch Đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020

Nội dung toàn văn Quyết định 5512/QĐ-UBND 2013 Đổi mới hiệu quả kinh tế tập thể thành phố Hồ Chí Minh


ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 5512/QĐ-UBND

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 10  năm 2013

 

QUYẾT ĐỊNH

BAN HÀNH KẾ HOẠCH ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ TẬP THỂ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2020

CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Chỉ thị số 16-CT/TU ngày 05 tháng 6 năm 2013 của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Kết luận số 56-KL/TW ngày 21 tháng 2 năm 2013 của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế tập thể của thành phố đến năm 2020”;

Xét đề nghị của Sở Kế hoạch và Đầu tư tại Văn bản số 8452/SKHĐT-KT ngày 01 tháng 10 năm 2013 của Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Kế hoạch “Đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020”.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố, Trưởng ban Chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể thành phố, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã thành phố, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Giám đốc Sở Công thương, Giám đốc Sở Giao thông vận tải, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giám đốc Sở Nội vụ, Giám đốc Sở Tài chính, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, Giám đốc Sở Xây dựng, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh thành phố, Cục trưởng Cục Thống kê thành phố, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển thành phố, Hiệu trưởng Trường cán bộ thành phố, Thủ trưởng các sở, ngành và Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận - huyện chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

 

 

Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
- Thường trực Thành ủy;
- Thường trực HĐND. TP;
- TTUB: CT, các PCT;
- VPTU và các Ban Đảng;
- Thành viên BCĐ Phát triển KTTT;
- Các Sở ngành, Đoàn thể TP;
- BCĐ PT KTTT các quận huyện;
- VPUB: CVP, các PVP;
- Phòng CNN (2), các phòng CV:
- Lưu: VT, (CNN/KH)

KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH



Lê Mạnh Hà

 

KẾ HOẠCH

ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ TẬP THỂ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2020
(Ban hành kèm theo Quyết định số: 5512/QĐ-UBND, ngày 07 tháng 10 năm 2013 của Ủy ban nhân dân thành phố)

Triển khai Chỉ thị số 16-CT/TU ngày 05 tháng 6 năm 2013 của Ban Thường vụ Thành ủy “Về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể” nhằm thực hiện Kết luận số 56-KL/TW ngày 21 tháng 02 năm 2013 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể. Ủy ban nhân dân thành phố xây dựng Kế hoạch đẩy mạnh thực hiện đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 như sau:

I. ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG KINH TẾ TẬP THỂ THÀNH PHỐ GIAI ĐOẠN 2002-2012

Sau 10 năm (2002-2012) thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX), Chương trình hành động số 07-NQ/TU của Thành ủy “về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể”, kinh tế tập thể thành phố đã có bước phát triển tích cực cả về số lượng, chất lượng, quy mô và phạm vi hoạt động.

Số tổ hợp tác tăng từ 1.109 lên 4.277 tổ. Số hợp tác xã tăng từ 341 lên 530 đơn vị. Tỷ lệ hợp tác xã (HTX) hoạt động có hiệu quả tăng từ gần 40% (năm 2001) lên gần 70% (năm 2012). Số HTX yếu kém, thua lỗ từ 37% giảm còn trên 12%. Quy mô, phạm vi hoạt động của HTX được mở rộng. Nhiều HTX đã liên doanh, liên kết với nhau và với các doanh nghiệp khác để phát triển sản xuất - kinh doanh, mở rộng thị trường, tăng quy mô nguồn vốn. Một số HTX hoạt động trong lĩnh vực thương mại, nông nghiệp đã có đủ điều kiện, khả năng tài chính, mạng lưới phân phối, chất lượng sản phẩm hàng hóa để tham gia và hoạt động có hiệu quả trong Chương trình Bình ổn thị trường của thành phố. Hàng trăm thành viên HTX đã bỏ vốn từ 1 đến 2 tỷ đồng đầu tư mới xe chở khách; nhiều thành viên góp vốn điều lệ có quy mô lớn đến hàng tỷ đồng. Các HTX vận tải chiếm trên 70% đầu xe vận chuyển hành khách công cộng trong toàn thành phố.

Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố luôn quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện phát triển kinh tế tập thể. Các chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển hợp tác xã ngày càng hoàn thiện, đi vào cuộc sống. Nhận thức của cán bộ, đảng viên, các cấp, các ngành về vị trí, vai trò của kinh tế tập thể, về hợp tác xã kiểu mới đã có bước chuyển biến căn bản.

Tuy nhiên, kinh tế tập thể thành phố vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Phần lớn các hợp tác xã vẫn có quy mô nhỏ, ít vốn kinh doanh, khả năng tích lũy tái đầu tư còn thấp. Các chính sách hỗ trợ hợp tác xã triển khai còn chậm, hiệu quả chưa cao. Lực lượng cán bộ quản lý nhà nước chuyên trách về kinh tế tập thể còn khá mỏng, chưa sâu sát các tổ hợp tác, hợp tác xã. Liên minh HTX thành phố chưa mạnh, chưa đủ sức đáp ứng các nhu cầu tư vấn, hỗ trợ của các HTX.

II. MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2013-2020

1. Mục tiêu chung

Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể. Thu hút ngày càng nhiều cá nhân, hộ gia đình, tổ chức tham gia kinh tế hợp tác, hợp tác xã. Đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng GDP của thành phố; bảo vệ môi trường. Góp phần giảm nghèo bền vững, cải thiện đời sống nhân dân.

2. Mục tiêu cụ thể

a) Giai đoạn 2013 đến 2015

- Phát triển mới 600 tổ hợp tác, 75 hợp tác xã, 3 liên hiệp hợp tác xã.

- Tốc độ tăng trưởng khu vực kinh tế tập thể đạt 10%/năm.

- Tỷ trọng đóng góp vào GDP thành phố 1%.

- Thu hút 18.000 lao động làm việc trong khu vực kinh tế tập thể.

- Tỷ lệ cán bộ quản lý hợp tác xã đã qua đào tạo có trình độ đại học 20%; trình độ cao đẳng và trung cấp 40%.

b) Giai đoạn 2015 đến 2020

- Phát triển mới 1.500 tổ hợp tác, 175 hợp tác xã, 10 liên hiệp hợp tác xã.

- Tốc độ tăng trưởng khu vực kinh tế tập thể đạt 10%/năm.

- Tỷ trọng đóng góp vào GDP thành phố 1,2%.

- Thu hút 50.000 lao động làm việc trong khu vực kinh tế tập thể.

- Tỷ lệ cán bộ quản lý hợp tác xã đã qua đào tạo có trình độ đại học 40%; còn lại đạt trình độ cao đẳng và trung cấp.

Củng cố, sáp nhập, hợp nhất các HTX có quy mô nhỏ, vốn điều lệ thấp, ít xã viên, hoạt động chưa hiệu quả; giải thể các hợp tác xã không tập trung phục vụ lợi ích xã viên, không đúng với nguyên tắc, bản chất HTX và các hợp tác xã yếu kém kéo dài.

Phấn đấu đến năm 2020, trên 70% hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sản xuất kinh doanh có hiệu quả, có chia lãi cho thành viên, có tích lũy tái đầu tư mở rộng sản xuất; đưa tỷ lệ hợp tác xã hoạt động thiếu hiệu quả xuống dưới 10%. Đến năm 2017, toàn bộ các xã nông thôn mới trên địa bàn có cơ sở kinh tế hợp tác sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ THEO NGÀNH, LĨNH VỰC.

1. Đối với Tổ hợp tác

- Rà soát, đánh giá số lượng, chất lượng hoạt động của tổ hợp tác theo từng ngành, từng địa bàn quận, huyện. Trên cơ sở kết quả rà soát, đánh giá, Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể quận, huyện phối hợp với Liên minh Hợp tác xã thành phố xây dựng kế hoạch củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ hợp tác; kế hoạch phát triển các tổ hợp tác mới phù hợp với nhu cầu và điều kiện của từng địa phương, từng lĩnh vực.

- Tập trung phát triển các tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt, ngành nghề nông thôn); lĩnh vực dịch vụ (thu gom rác thải, vệ sinh môi trường, thủy lợi, cung cấp cây, con giống, vay vốn tín dụng...)

- Thực hiện chính sách cho vay vốn ưu đãi, ưu tiên, giao, thuê đất, nhà xưởng, bồi dưỡng cán bộ quản lý để khuyến khích các tổ hợp tác chuyển thành hợp tác xã.

2. Đối với hợp tác xã

a) Lĩnh vực nông nghiệp

- Phát triển các hợp tác xã nông nghiệp-dịch vụ đa ngành, kinh doanh tổng hợp (hoạt động cả trong lĩnh vực thương mại, vệ sinh môi trường). Trong đó, tập trung vào hoạt động cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đầu vào (cây, con giống, vật tư, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chăm sóc thú y, thức ăn chăn nuôi, chuyển giao khoa học-kỹ thuật nuôi trồng...), bao tiêu sản phẩm đầu ra cho các xã viên, hộ gia đình, tham gia các hoạt động dịch vụ vệ sinh trên địa bàn, góp phần bảo vệ môi trường.

- Xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp-làng nghề trồng hoa lan, cây cảnh, nuôi cá cảnh...có giá trị kinh tế cao, có khả năng xuất khẩu, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi ở nông thôn.

- Đẩy mạnh củng cố các hợp tác xã yếu kém, giải thể các hợp tác xã hoạt động không hiệu quả, sáp nhập các hợp tác xã quy mô nhỏ thành các hợp tác xã có quy mô lớn. Hình thành các hợp tác xã lớn có quy mô cấp huyện và các Liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp-sản xuất-thương mại-dịch vụ trên địa bàn trọng điểm nông nghiệp nhằm tăng cường liên kết hợp tác. Hỗ trợ các hợp tác xã, thành viên, hộ gia đình trong hoạt động sản xuất, cung ứng sản phẩm-dịch vụ đầu vào và bao tiêu, chế biến, tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho thành viên, hợp tác xã thành viên.

- Phấn đấu bình quân mỗi năm thành lập mới từ 4 đến 6 hợp tác xã nông nghiệp-dịch vụ. Đến năm 2017 56/58 xã của thành phố có tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp, thương mại, dịch vụ vệ sinh môi trường, quỹ tín dụng nhân dân hoạt động hiệu quả và hình thành được chuỗi liên kết giữa các hợp tác xã nông nghiệp với hệ thống hợp tác xã thương mại, siêu thị để tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp cho thành viên.

b) Lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng

- Tập trung duy trì, củng cố và phát triển các hợp tác xã hiện có, hoạt động trong các ngành nghề: thêu đan, đồ gỗ mỹ nghệ, sơn mài, gốm sứ, mây tre lá...và các sản phẩm làng nghề truyền thống. Phát triển mới các hợp tác xã làng nghề tại các địa bàn có làng nghề truyền thống; hợp nhất, sáp nhập các hợp tác xã quy mô nhỏ thành hợp tác xã có qui mô lớn, đủ sức cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường hội nhập;

- Gắn kết các HTX với chương trình khuyến công để hỗ trợ các HTX cùng với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác thúc đẩy phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tại các cụm công nghiệp, tạo tiền đề cho việc hình thành các làng nghề công nghiệp mới, bảo tồn các làng nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp truyền thống.

- Tập trung phát triển hợp tác xã mới từ các hộ gia đình sản xuất tiểu thủ công nghiệp, hỗ trợ hộ sản xuất gia đình nguồn vật tư, nguyên liệu đầu vào cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Hỗ trợ các hợp tác xã thay đổi máy móc, phương tiện, công cụ, khoa học-công nghệ sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm và các hoạt động xúc tiến thương mại, xử lý chất thải, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

- Phát triển các hợp tác xã nhà ở (xây dựng nhà ở và cung cấp dịch vụ cho các khu nhà ở), góp phần giải quyết vấn đề nhà ở cho thành viên, người lao động có thu nhập thấp.

c) Lĩnh vực Thương mại-dịch vụ

- Tiếp tục củng cố, hợp nhất, sáp nhập các hợp tác xã có quy mô nhỏ, nhằm phát triển hệ thống cửa hàng hợp tác xã bán lẻ hàng tiêu dùng theo phương thức bán hàng văn minh, hiện đại, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và chất lượng hàng hóa.

- Phát triển các hợp tác xã thương mại bán lẻ mới, phấn đấu đến năm 2020 tất cả các xã, phường, khu dân cư tập trung, khu công nghiệp đều có các cửa hàng bán lẻ của hợp tác xã góp phần bình ổn giá thị trường, phục vụ tốt nhu cầu hàng hóa tiêu dùng thiết yếu cho xã viên, người lao động trên địa bàn phường, xã. Phát triển các hợp tác xã làm tổng đại lý phân phối cho các nhà sản xuất  trong và ngoài nước, hình thành các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động theo phương thức mua chung, bán riêng.

- Xây dựng chuỗi liên kết giữa các hợp tác xã thương mại với hợp tác xã nông nghiệp-dịch vụ nông nghiệp, góp phần giải quyết khâu tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và cung cấp hàng hóa công nghệ phẩm, vật tư nông nghiệp cho hộ xã viên nông nghiệp.

- Phát triển các HTX quản lý kinh doanh chợ, thu hút đông đảo tiểu thương tham gia HTX, nhất là tại các chợ đầu mối để mở thêm các hoạt động xếp dỡ, vận chuyển hàng hóa; vệ sinh môi trường; bảo vệ; tham gia phân phối hàng hóa cho các điểm bán lẻ...

- Phát triển mô hình HTX dịch vụ trong các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề.

d) Lĩnh vực giao thông vận tải, bốc xếp

- Tiếp tục kiện toàn, củng cố và tổ chức tái cấu trúc các hợp tác xã vận tải, tập trung chủ yếu vào các hợp tác xã vận tải xe buýt, vận tải hành khách bằng ô tô theo tuyến cố định và xe taxi nhằm tăng quy mô, nâng cao năng lực quản lý và điều hành hoạt động đáp ứng yêu cầu thị trường.

- Phát triển các HTX vận tải hành khách xe buýt, hỗ trợ vốn để các HTX tăng số lượng phương tiện mới đạt tiêu chuẩn ngành (kể cả việc tham gia đầu tư phương tiện mới thông qua đề án đầu tư mới phương tiện giai đoạn 2013-2015). Ưu tiên phát triển phương tiện mới sử dụng nhiên liệu sạch thân thiện với môi trường; nâng cao chất lượng phục vụ hành khách. Đẩy mạnh việc đào tạo nghiệp vụ quản lý, điều hành cho cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ, lái xe, nhân viên phục vụ trên xe.

- Tạo điều kiện cho các hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt được ưu tiên về bến bãi, nhằm phù hợp với quy định và đáp ứng nhu cầu phát triển số lượng phương tiện đến năm 2020; phát triển thêm các hoạt động dịch vụ của HTX như sửa chữa phương tiện; cung ứng vật tư, xăng dầu; kho hàng, bến bãi...nhằm phục vụ hoạt động của thành viên tốt hơn.

- Phát triển các hợp tác xã bốc xếp, đóng gói, vận chuyển và các dịch vụ khác tại các cảng, kho bãi, các chợ đầu mối, các khu công nghiệp; hỗ trợ các hợp tác xã bốc xếp đầu tư các phương tiện, thiết bị bốc xếp, vận chuyển chuyên dùng, thay bốc xếp thủ công.

đ) Lĩnh vực dịch vụ môi trường

- Chuyển đổi các nghiệp đoàn, tổ thu gom rác dân lập đăng ký thành lập tổ hợp tác thu gom rác hoạt động theo Nghị định số 151/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ và Thông tư số 151/2007/NĐ-CP">04/2008/TT-BKH ngày 09 tháng 7 năm 2008 của Bộ Kế hoạch Đầu tư. Thực hiện các chính sách hỗ trợ về thuế, vay vốn ưu đãi, hỗ trợ đầu tư trang bị phương tiện thu gom vận chuyển rác, giao địa bàn hoạt động...để chuyển đổi các nghiệp đoàn, tổ thu gom rác dân lập thành các hợp tác xã vệ sinh môi trường.

- Củng cố, phát triển các hợp tác xã vệ sinh môi trường, phấn đấu đến năm 2015 mỗi quận trong thành phố đều có hợp tác xã vệ sinh môi trường hoạt động trong phạm vi quận hoặc liên phường; Xây dựng hợp tác xã nông nghiệp-dịch vụ ở các quận ven, huyện ngoại thành có hoạt động trong lĩnh vực vệ sinh môi trường; Hình thành Liên hiệp hợp tác xã vệ sinh môi trường nhằm liên kết khép kín hoạt động các khâu thu gom, vận chuyển, phân loại, tái chế... chất thải rắn thông thường trên địa bàn thành phố.

e) Quỹ tín dụng nhân dân

- Củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân hiện có trên địa bàn. Tập trung vào việc tăng nguồn vốn hoạt động (cả vốn góp của thành viên và vốn huy động), phát triển thành viên, tăng dư nợ tín dụng. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh thành phố phối hợp với Ủy ban nhân dân các quận, huyện kịp thời củng cố nhân sự, củng cố hoạt động đối với các quỹ tín dụng nhân dân yếu kém, thua lỗ.

- Giai đoạn 2013-2020, tiếp tục mở rộng địa bàn hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân đang hoạt động đạt hiệu quả cao; phát triển các quỹ tín dụng nhân dân mới ở những nơi có nhu cầu tại các quận ven, huyện ngoại thành, địa bàn nông nghiệp, nông thôn theo định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

IV. GIẢI PHÁP KHUYẾN KHÍCH, HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ GIAI ĐOẠN 2012-2020

Ủy ban nhân dân thành phố xây dựng các giải pháp cụ thể, gồm

1. Xây dựng, triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn

a) Về nhà, đất các hợp tác xã đang thuê của nhà nước:

Tổ chức khảo sát lại 237 địa chỉ nhà đất thuộc sở hữu nhà nước hiện nay do 122 hợp tác xã đang quản lý, sử dụng. Ban chỉ đạo 09 (Sở Tài chính) phối hợp với Liên minh Hợp tác xã thành phố và Ủy ban nhân các quận, huyện trình Ủy ban nhân dân thành phố xem xét, quyết định.

b) Về vốn

- Liên minh Hợp tác xã thành phố xây dựng đề án tăng nguồn vốn của Quỹ Trợ vốn xã viên hợp tác xã thành phố (được thành lập theo quyết định 2539/QĐ-UB ngày 13 tháng 6 năm 2002 của Ủy ban nhân dân thành phố). Phấn đấu đến năm 2015, quỹ có nguồn vốn hoạt động 500 tỷ đồng (gồm vốn vay, vốn huy động của các hợp tác xã, vốn tích lũy), đến năm 2020, quỹ có nguồn vốn hoạt động 1.000 tỷ đồng.

- Đẩy mạnh hoạt động tín dụng nội bộ hợp tác xã theo thông tư 04/2004/TT-NHNN ngày 13 tháng 6 năm 2007 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tiếp tục phát triển các Quỹ Tín dụng nhân dân mới tại các địa bàn có nhu cầu. Phấn đấu đến năm 2020, số thành viên quỹ tín dụng nhân dân tăng gấp 2 lần, tổng nguồn vốn tăng gấp 3 lần, vốn điều lệ tăng 15% mỗi năm, vốn huy động tăng 4 lần, nợ quá hạn dưới 1% so với tổng dư nợ (so với năm 2012).

- Tiếp tục hỗ trợ cho Liên hiệp HTX thương mại thành phố (Saigon Coop) vay vốn ưu đãi ngắn hạn hàng năm để mua hàng hóa dự trữ phục vụ trong các dịp lễ, tết và tham gia Chương trình Bình ổn thị trường các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu;

- Trong Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể hàng năm, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước thành phố Hồ Chí Minh, Sở Tài chính, Liên minh Hợp tác xã và các sở, ngành có liên quan triển khai các biện pháp hỗ trợ, tạo điều kiện để các HTX được hưởng chính sách tín dụng theo Quyết định số 13/2013/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố về việc ban hành Quy định về khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đô thị trên địa bàn thành phố giai đoạn 2013 - 2015 và các phụ lục đính kèm; chính sách vay tín chấp theo thông tư 44/TT-BTC của Bộ Tài chính và tiếp cận các khoản vốn ưu đãi theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

c) Về chính sách cán bộ và nguồn nhân lực cho khu vực kinh tế tập thể

- Hàng năm, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ cho các chức danh Hội đồng Quản trị, Ban Giám đốc, Ban Kiểm soát, Kế toán trưởng, cán bộ quản lý nghiệp vụ hợp tác xã theo chỉ tiêu 1.500 lượt người/năm (500 thành viên Ban quản trị, Chủ nhiệm HTX; 250 Kiểm soát viên; 250 kế toán trưởng; 500 cán bộ nghiệp vụ HTX); kế hoạch đào tạo đại học, cao đẳng, trung cấp cho bộ quản lý, nghiệp vụ hợp tác xã theo chỉ tiêu như sau: trung học: 40 người; cao đẳng: 30 người; đại học: 30 người. Kinh phí bồi dưỡng, đào tạo cán bộ quản lý, nghiệp vụ hợp tác xã được ngân sách thành phố hỗ trợ theo quy định.

- Hàng năm, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng về kiến thức pháp luật, kiến thức quản lý hợp tác xã, các chính sách của nhà nước đối với kinh tế tập thể cho 100 cán bộ tư vấn, cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế tập thể tại các sở, ngành, quận, huyện, phường, xã. Kinh phí tập huấn do ngân sách thành phố, quận, huyện hỗ trợ theo quy định.

- Xây dựng đề án phát triển nguồn nhân lực cho khu vực kinh tế tập thể đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030. Trong đó, triển khai các chính sách đãi ngộ (về lương, phụ cấp, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế...) để thu hút sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, cán bộ trẻ có năng lực, trình độ về làm việc tại các hợp tác xã. Xây dựng Trung tâm giới thiệu việc làm và tư vấn nhân lực cho kinh tế tập thể.

- Tiếp tục thực hiện đến năm 2020 chính sách hỗ trợ cán bộ quản lý có trình độ đại học, cao đẳng làm việc tại các hợp tác xã nông nghiệp theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố và Quyết định số 3749/QĐ-UBND ngày 24 tháng 8 năm 2010 của Ủy ban nhân dân thành phố.

- Liên minh Hợp tác xã thành phố xây dựng Đề án thành lập Trường cán bộ quản lý hợp tác xã và dạy nghề, là đơn vị sự nghiệp của thành phố, hoạt động theo các quy định tại Nghị định 43/NĐ-CP của Chính phủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, trình Ủy ban nhân dân thành phố xem xét, quyết định chủ trương đầu tư.

2. Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ, thúc đẩy phát triển kinh tế tập thể thành phố

a) Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, vận động phát triển hợp tác xã

- Chú trọng tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương phát triển kinh tế tập thể của Đảng, Nhà nước và Luật Hợp tác xã, các Nghị định của Chính phủ, các Thông tư của các Bộ, ngành về chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể.

- Liên minh Hợp tác xã thành phố nâng cao chất lượng Bản tin Kinh tế hợp tác, trang thông tin điện tử, phối hợp với cơ quan báo đài tuyên truyền các điển hình tiên tiến trong khu vực kinh tế tập thể. Phối hợp với Đài Truyền hình thành phố xây dựng chương trình, phóng sự chuyên đề về hoạt động của khu vực kinh tế tập thể.

- Tổ chức sâu rộng các đợt thi đua trong khu vực kinh tế tập thể; giới thiệu, nhân rộng các mô hình điển hình tiên tiến. Hai năm một lần tổ chức hội nghị tuyên dương các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã điển hình tiên tiến, các cán bộ quản lý hợp tác xã và các xã viên tiêu biểu nhân dịp ngày Hợp tác xã Việt Nam 11 tháng 4 và Ngày Quốc tế Hợp tác xã.

b) Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các chính sách khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể do Chính phủ và Thành phố ban hành:

- Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Liên minh Hợp tác xã, các sở, ngành liên quan xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể hàng năm, trình Ủy ban nhân dân thành phố ban hành.

- Căn cứ Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể hàng năm của Trung ương và Thành phố, các Sở, ngành có liên quan, Ủy ban nhân dân quận, huyện xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể của ngành, địa phương (ban hành trong vòng 30 ngày, kể từ khi Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể hàng năm, 5 năm).

c) Hỗ trợ xúc tiến thương mại

- Liên minh Hợp tác xã thành phố chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công thương, Trung tâm xúc tiến thương mại và Đầu tư thành phố xây dựng chương trình xúc tiến thương mại hàng năm cho các hợp tác xã; xây dựng chương trình quảng bá thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ của các hợp tác xã trên trang thông tin điện tử của Liên minh và các sở, ngành; hỗ trợ các hợp tác xã có sản phẩm xuất khẩu tham gia các hội chợ triển lãm trong và ngoài nước,

- Liên minh Hợp tác xã chủ trì, phối hợp với các sở, ngành có liên quan tổ chức cho các hợp tác xã đi tham quan, học tập kinh nghiệm quản lý, mô hình hợp tác xã tiên tiến, hợp tác xã trong lĩnh vực mới (hợp tác xã y tế, hợp tác xã trường học, hợp tác xã nhà ở, ngân hàng hợp tác xã...) tại các nước và các tỉnh, thành trong nước.

- Liên minh hợp tác xã chủ trì, phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Công thương xây dựng Đề án xây dựng nhà trưng bày, giới thiệu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, làng nghề (mây tre lá, sơn mài, mỹ nghệ, thêu đan...) của thành phố, kết hợp làm điểm tham quan của khách du lịch trong và ngoài nước.

d) Hỗ trợ ứng dụng, đổi mới nâng cao trình độ công nghệ

- Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Liên minh Hợp tác xã thành phố xây dựng kế hoạch và triển khai hỗ trợ các hợp tác xã áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới trong sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong khâu thu hoạch, chế biến, đóng gói và bảo quản hàng nông sản thực phẩm nhằm phát triển các hợp tác xã sản xuất, chế biến thực phẩm sạch của thành phố theo chương trình khuyến công của Chính phủ.

-  Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan và Liên minh Hợp tác xã thành phố triển khai thực hiện Nghị định 02/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ qui định chính sách về chương trình khuyến nông, khuyến ngư.

- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai các giải pháp hỗ trợ tổ hợp tác, hợp tác xã ứng dụng, đổi mới nâng cao trình độ khoa học công nghệ; ưu tiên cho các hợp tác xã, tổ hợp tác tham gia thực hiện các chương trình, dự án nông nghiệp trọng điểm đã được Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt.

đ) Hỗ trợ hợp tác xã xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm phát triển sản xuất kinh doanh và tham gia các chương trình phát triển kinh tế - xã hội:

Liên minh HTX thành phố chủ trì hỗ trợ triển khai các dự án kinh tế xã hội, cùng các HTX, Liên hiệp HTX tổ chức thực hiện các dự án đã được Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt. Phối hợp với các sở, ngành, quận, huyện đề xuất với Ủy ban nhân dân thành phố hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng (cấp điện, cấp nước, đường giao thông, xử lý nước thải, hệ thống thủy lợi tưới tiêu...) đối với các hợp tác xã có các dự án phát triển sản xuất ở các ngành, lĩnh vực thiết thực phục vụ đời sống, sinh hoạt của cộng đồng dân cư.

e) Nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế tập thể:

- Tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế tập thể tại các sở, ngành, quận, huyện. Phát huy hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể thành phố và các quận, huyện. Định kỳ 6 tháng/lần, Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể thành phố và các quận, huyện gặp gỡ, đối thoại với các hợp tác xã trên địa bàn.

- Tăng cường hoạt động giám sát hợp tác xã trong việc thực hiện Luật Hợp tác xã, điều lệ hợp tác xã, việc tổ chức đại hội thường niên, đại hội nhiệm kỳ theo quy định.

g) Xây dựng, triển khai các đề án phát triển hợp tác xã mô hình mới:

- Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với Liên minh Hợp tác xã thành phố và các sở, ngành liên quan xây dựng Đề án phát triển mô hình hợp tác xã nhà ở (hợp tác xã xây dựng nhà ở cho đối tượng thu nhập thấp và hợp tác xã dịch vụ nhà ở).

- Sở Tài nguyên-Môi trường chủ trì, phối hợp với Liên minh Hợp tác xã thành phố và các sở, ngành liên quan hoàn thiện Đề án phát triển mô hình hợp tác vệ sinh môi trường.

- Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại thành phố (Saigon Coop) chủ trì, phối hợp với Sở Công thương, Liên minh Hợp tác xã thành phố và Ủy ban nhân dân các quận, huyện xây dựng Đề án phát triển hệ thống hợp tác xã, cửa hàng bán lẻ của hợp tác xã hoạt động theo phương thức mua chung bán riêng.

- Liên minh Hợp tác xã thành phố tiếp tục nghiên cứu mô hình hợp tác xã y tế, hợp tác xã trường học của Nhật Bản; hợp tác xã nhà ở của Thụy Điển; Ngân hàng hợp tác xã của Hàn Quốc; Bảo hiểm xã hội đến với hợp tác xã của Singapore xây dựng đề án và thí điểm triển khai.

3. Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Liên minh Hợp tác xã thành phố

Tiếp tục kiện toàn bộ máy của Liên minh Hợp tác xã thành phố để có đủ số lượng cán bộ có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu; có chính sách khuyến khích nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ làm công tác tư vấn, hỗ trợ hợp tác xã.

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

- Giao Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể thành phố làm đầu mối chỉ đạo, tổ chức thực hiện, phối hợp với các sở, ngành, quận huyện triển khai kế hoạch này;

- Các Sở, ngành thành phố; Ủy ban nhân dân các quận, huyện căn cứ chức năng, nhiệm vụ được phân công và hướng dẫn, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể thành phố để xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch này. Định kỳ 6 tháng, một năm báo cáo kết quả thực hiện gửi Thường trực Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể thành phố tổng hợp, trình Ủy ban nhân dân thành phố.

- Định kỳ 6 tháng và một năm, Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể thành phố tiến hành kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, báo cáo, đề xuất với Thường trực Thành ủy, Thường trực Ủy ban nhân dân thành phố; đề xuất khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phát triển kinh tế tập thể thành phố.

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ

Đã xem:

Đánh giá:  
 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 5512/QĐ-UBND

Loại văn bản Quyết định
Số hiệu 5512/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành 07/10/2013
Ngày hiệu lực 07/10/2013
Ngày công báo ...
Số công báo
Lĩnh vực Doanh nghiệp
Tình trạng hiệu lực Còn hiệu lực
Cập nhật 7 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 5512/QĐ-UBND

Lược đồ Quyết định 5512/QĐ-UBND 2013 Đổi mới hiệu quả kinh tế tập thể thành phố Hồ Chí Minh


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

Văn bản liên quan ngôn ngữ

Văn bản sửa đổi, bổ sung

Văn bản bị đính chính

Văn bản được hướng dẫn

Văn bản đính chính

Văn bản bị thay thế

Văn bản hiện thời

Quyết định 5512/QĐ-UBND 2013 Đổi mới hiệu quả kinh tế tập thể thành phố Hồ Chí Minh
Loại văn bản Quyết định
Số hiệu 5512/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành Thành phố Hồ Chí Minh
Người ký Lê Mạnh Hà
Ngày ban hành 07/10/2013
Ngày hiệu lực 07/10/2013
Ngày công báo ...
Số công báo
Lĩnh vực Doanh nghiệp
Tình trạng hiệu lực Còn hiệu lực
Cập nhật 7 năm trước

Văn bản thay thế

Văn bản gốc Quyết định 5512/QĐ-UBND 2013 Đổi mới hiệu quả kinh tế tập thể thành phố Hồ Chí Minh

Lịch sử hiệu lực Quyết định 5512/QĐ-UBND 2013 Đổi mới hiệu quả kinh tế tập thể thành phố Hồ Chí Minh

  • 07/10/2013

    Văn bản được ban hành

    Trạng thái: Chưa có hiệu lực

  • 07/10/2013

    Văn bản có hiệu lực

    Trạng thái: Có hiệu lực