Thông báo 1589/TB-BNN-VP

Thông báo 1589/TB-BNN-VP về ý kiến kết luận của Bộ trưởng Cao Đức Phát tại hội nghị sơ kết công tác phát triển sản xuất nâng cao thu nhập của người dân tại 11 xã điểm mô hình nông thôn mới do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành

Nội dung toàn văn Thông báo 1589/TB-BNN-VP ý kiến kết luận Bộ trưởng Cao Đức Phát


BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 1589/TB-BNN-VP

Hà Nội, ngày 22 tháng 3 năm 2011

 

THÔNG BÁO

Ý KIẾN KẾT LUẬN CỦA BỘ TRƯỞNG CAO ĐỨC PHÁT TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÂNG CAO THU NHẬP CỦA NGƯỜI DÂN TẠI 11 XÃ ĐIỂM MÔ HÌNH NÔNG THÔN MỚI

Thực hiện ý kiến kết luận của Trưởng ban Chỉ đạo Chương trình thí điểm xây dựng nông thôn mới tại Thông báo số 42-TB/BCĐNTM ngày 26/1/2011 về triển khai kế hoạch năm 2011, ngày 16/3/2011 tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác phát triển sản xuất nâng cao thu nhập của người dân tại 11 xã điểm mô hình nông thôn mới dưới sự chủ trì của Bộ trưởng Cao Đức Phát. Tham dự Hội nghị, có Thứ trưởng Hồ Xuân Hùng, đồng chí Nguyễn Đăng Khoa - Phó trưởng ban Chỉ đạo Chương trình NTM của Chính phủ, các thành viên của Tổ công tác giúp việc, đại diện của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Dạy nghề; về phía địa phương, có lãnh đạo của 11 Sở Nông nghiệp và PTNT và 11 Ban Quản lý xây dựng NTM của các xã điểm. Về phía Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, có lãnh đạo các đơn vị: Tổng cục Thủy sản, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, Cục Chăn nuôi, Cục Trồng Trọt, các đơn vị tư vấn được phân công giúp các xã điểm, Văn phòng Bộ.

Sau khi nghe Tổ công tác giúp việc báo cáo kết quả công tác phát triển sản xuất nâng cao thu nhập của người dân tại 11 xã điểm và đề xuất phương hướng nhiệm vụ trong năm 2011; nghe ý kiến của các đại biểu dự họp, Bộ trưởng Cao Đức Phát đã kết luận như sau:

1. Trong một thời gian ngắn, các địa phương, các đơn vị tư vấn của Bộ Nông nghiệp và PTNT cùng với các cơ quan có liên quan của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Dạy nghề đã có nhiều cố gắng để hỗ trợ các xã thúc đẩy phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập hướng tới đạt được tiêu chí số 10, đây chính là tiêu chí xương sống của Chương trình xây dựng NTM. Do vậy, đã tạo ra những chuyển biển rõ nét ở tất cả các xã điểm, điển hình là 04 xã về cơ bản đã đạt được tiêu chí về thu nhập (Tân Hội – Thành phố Hồ Chí Minh, Tân Thịnh – Bắc Giang, Gia Phố - Hà Tĩnh, Mỹ Long Nam – Trà Vinh).

Tuy nhiên, một số địa phương vẫn còn lúng túng khi xác định phương hướng và cách làm có hiệu quả về phát triển sản xuất; nhiều xã vẫn dừng ở mô hình sản xuất với số hộ dân tham gia còn hạn chế, chưa nhân rộng lên qui mô toàn xã; ngay cả ở những xã đã tương đối thành công trên qui mô lớn thì còn phải làm nhiều việc để đảm bảo phát triển sản xuất bền vững.

2. Để phấn đấu đạt được số 10 và 12 của bộ tiêu chí quốc gia tại tất cả 11 xã điểm mô hình nông thôn mới trong năm 2011, cần tập trung vào một số nhiệm vụ sau:

- Các địa phương cần tiếp tục chỉ đạo quyết liệt về phát triển sản xuất để nâng cao thu nhập cho tất cả mọi người dân trên địa bàn các xã điểm. Trước tiên, mỗi xã phải xác định được hướng đi lâu dài, phù hợp về phát triển sản xuất. Để hỗ trợ các xã điểm, Sở Nông nghiệp và PTNT phải cử Tổ công tác xuống xã rà soát lại quy hoạch và định hướng phát triển sản xuất để tìm ra hướng đi cụ thể cho tất cả các hộ dân trên địa bàn (đối với những cây con hiện có thì phát hiện ra những khâu, những công đoạn có thể nâng cao hiệu quả hơn nữa; đồng thời, chủ động tìm tòi, đề xuất một số ngành hàng mới nhưng phải dựa trên thế mạnh của xã và đảm bảo có thị trường rõ ràng, ổn định). Đề nghị các Sở Nông nghiệp và PTNT của 11 địa phương tăng cường và phân công cụ thể cán bộ chuyên môn đến hỗ trợ các xã điểm.

- Đối với những xã đã có mô hình thành công, phải khẩn trương nhân rộng ra trên địa bàn xã với các giải pháp đồng bộ (tuyên truyền, vận động để thay đổi nhận thức của người dân; đào tạo để người dân nắm được kỹ thuật thông qua cầm tay chỉ việc, gắn với mô hình cụ thể; ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng gắn với phát triển sản xuất; đẩy mạnh dồn điển đổi thửa; ưu tiên hỗ trợ vốn vay tín dụng, v.v.). Trong quá trình triển khai, từng địa phương phải chủ động đề xuất những cơ chế, chính sách đủ mạnh trên cơ sở vận dụng cơ chế chính sách hiện hành, đồng thời mạnh dạn đưa ra các chính sách mới dựa trên nền chính sách hiện hành để có những đột phát, sáng tạo hơn nữa. Trong đó, cần ưu tiên gắn với phát triển các hình thức tổ chức sản xuất hiệu quả như các HTX, tổ hợp tác hoạt động thực chất, đủ mạnh để hỗ trợ các hộ dân.

- Các đơn vị của Bộ Nông nghiệp và PTNT (Cục KTHT và PTNT, Viện Qui hoạch và TKNN, các cơ quan tư vấn khác) phải xuống từng xã để hỗ trợ các địa phương trong xác định hướng đi về phát triển sản xuất. Các đơn vị trong Bộ phải thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ được giao (hướng dẫn về quy hoạch, hỗ trợ về kỹ thuật để có mô hình thành công, nhân rộng được mô hình đã thành công, tư vấn về chính sách, tư vấn về tổ chức sản xuất) để đảm bảo đến hết năm 2011, tất cả các cơ quan nghiên cứu đều phải có mô hình thực tiễn thành công ở các xã điểm.

- Về công tác tổ chức, đào tạo: đối với đào tạo cán bộ chỉ đạo ở cấp xã, giao Vụ Tổ chức Cán bộ đi nghiên cứu tại các xã để tìm mô hình tổ chức Ban Nông nghiệp xã phù hợp. Về đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với tổng cục dạy nghề ưu tiên bố trí các lớp đào tạo nghề cho các xã điểm (đảm bảo đào tạo nghề gắn với mô hình khuyến nông, phù hợp với định hướng phát triển sản xuất của từng xã).

Văn phòng Bộ xin thông báo để các cơ quan, đơn vị có liên quan biết và phối hợp chỉ đạo thực hiện./.

 

 

Nơi nhận:
- Thường trực Ban Chỉ đạo Chương trình thí điểm (để b/c);
- Bộ trưởng (để b/c);
- Thứ trưởng Hồ Xuân Hùng (để b/c);
- Đ/c Nguyễn Đăng Khoa - Phó Trưởng ban CĐ của CP;
- Ban Chỉ đạo các tỉnh, thành phố;
- Sở Nông nghiệp và PTNT của 11 địa phương;
- Ban Quản lý nông thôn mới của 11 xã điểm;
- Thành viên Tổ giúp việc của BCĐTƯ;
- Các Cục, Vụ, Viện, Văn phòng Bộ;
- Lưu VT, TH, CVST

TL. BỘ TRƯỞNG
CHÁNH VĂN PHÒNG




Nguyễn Minh Nhạn

 

Đã xem:

Đánh giá:  
 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 1589/TB-BNN-VP

Loại văn bảnThông báo
Số hiệu1589/TB-BNN-VP
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành22/03/2011
Ngày hiệu lực22/03/2011
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcVăn hóa - Xã hội
Tình trạng hiệu lựcKhông xác định
Cập nhật10 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 1589/TB-BNN-VP

Lược đồ Thông báo 1589/TB-BNN-VP ý kiến kết luận Bộ trưởng Cao Đức Phát


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Thông báo 1589/TB-BNN-VP ý kiến kết luận Bộ trưởng Cao Đức Phát
                Loại văn bảnThông báo
                Số hiệu1589/TB-BNN-VP
                Cơ quan ban hànhBộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
                Người kýNguyễn Minh Nhạn
                Ngày ban hành22/03/2011
                Ngày hiệu lực22/03/2011
                Ngày công báo...
                Số công báo
                Lĩnh vựcVăn hóa - Xã hội
                Tình trạng hiệu lựcKhông xác định
                Cập nhật10 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản được dẫn chiếu

                    Văn bản hướng dẫn

                      Văn bản được hợp nhất

                        Văn bản được căn cứ

                          Văn bản hợp nhất

                            Văn bản gốc Thông báo 1589/TB-BNN-VP ý kiến kết luận Bộ trưởng Cao Đức Phát

                            Lịch sử hiệu lực Thông báo 1589/TB-BNN-VP ý kiến kết luận Bộ trưởng Cao Đức Phát

                            • 22/03/2011

                              Văn bản được ban hành

                              Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                            • 22/03/2011

                              Văn bản có hiệu lực

                              Trạng thái: Có hiệu lực