Thông báo 436/TB-BGTVT

Thông báo 436/TB-BGTVT kết luận của Bộ trưởng Đinh La Thăng tại cuộc họp về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Nam Triệu thuộc Tập đoàn Vinashin do Bộ Giao thông Vận tải ban hành

Nội dung toàn văn Thông báo 436/TB-BGTVT kết luận của Bộ trưởng Đinh La Thăng tại cuộc họp


BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------

Số: 436/TB-BGTVT

Hà Nội, ngày 03 tháng 08 năm 2012

 

THÔNG BÁO

KẾT LUẬN CỦA BỘ TRƯỞNG ĐINH LA THĂNG TẠI CUỘC HỌP VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA TỔNG CÔNG TY CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY NAM TRIỆU THUỘC TẬP ĐOÀN VINASHIN

Ngày 01 tháng 8 năm 2012, tại Văn phòng Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Nam Triệu, Bộ trưởng Đinh La Thăng đã chủ trì cuộc họp về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Nam Triệu thuộc Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Tập đoàn Vinashin). Tham dự buổi làm việc có đại diện các Bộ: Tài chính, Lao động - Thương binh và Xã hội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, UBND thành phố Hải Phòng, về phía Bộ Giao thông vận tải có Thứ trưởng Nguyễn Văn Công, Phó Chủ tịch Công đoàn Giao thông vận tải Việt Nam Phạm Chí Dân; đại diện các Vụ: Tổ chức cán bộ, Tài chính, Kế hoạch - Đầu tư, Vận tải, Văn phòng Bộ, Ban Đổi mới và Quản lý doanh nghiệp GTVT, Cục Hàng hải Việt Nam, Hội đồng thành viên Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam và tập thể lãnh đạo Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Nam Triệu.

Sau khi nghe Tổng giám đốc Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Nam Triệu báo cáo tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty, ý kiến tham gia của các thành viên dự họp, Bộ trưởng Đinh La Thăng kết luận như sau:

Việt Nam là một quốc gia biển, chúng ta phải mạnh lên về biển và giàu lên từ biển, vừa phát triển kinh tế xã hội đồng thời đảm bảo quốc phòng an ninh. Đảng và Chính phủ quyết tâm phát triển kinh tế hàng hải, phát triển ngành công nghiệp cơ khí chế tạo là ngành trọng điểm trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; ngành công nghiệp tàu thủy là ngành mũi nhọn để phát triển kinh tế hàng hải và thực hiện chiến lược biển đến năm 2020 và những năm tiếp theo, phấn đấu đến năm 2021 kinh tế hàng hải chiếm vị trí số 1 trong nền kinh tế. Kết luận số 81-KL/TW ngày 06/8/2010 của Bộ Chính trị về Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam đến nay đã thực hiện được 2 năm, việc tiếp tục tái cơ cấu để tháo gỡ những khó khăn, tồn tại, từng bước xây dựng một Vinashin mới trong giai đoạn hiện nay là cần thiết theo đúng định hướng, chủ trương của Bộ Chính trị và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Những năm trước đây ngành hàng hải đã có những phát triển rất mạnh, các doanh nghiệp trong lĩnh vực này đã có những đóng góp nhất định cho ngân sách nhà nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động thành phố Hải Phòng nói riêng và nền kinh tế nói chung. Tuy nhiên, những năm gần đây do tác động của suy thoái kinh tế thế giới, kinh tế trong nước gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt lĩnh vực đóng tàu và vận tải biển chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, hàng loạt những dự báo về kinh tế thế giới, tình hình thị trường trong và ngoài nước đều khác xa với thực tế, hàng loạt doanh nghiệp bị rơi vào khủng hoảng, sản xuất đình đốn, tài chính khó khăn. Chính vì vậy chúng ta phải nhìn thẳng vào thực trạng, đánh giá đúng tình hình thực tế, những khó khăn đang và tiếp tục phải đối đầu để tìm ra giải pháp mang tính đột phá, quyết liệt, vận dụng tối đa các cơ chế, có chính sách đặc biệt để tháo gỡ khó khăn cho Tổng công ty và Tập đoàn Vinashin.

Thay mặt Lãnh đạo Bộ, Bộ trưởng đánh giá cao sự cố gắng, tình cảm và trách nhiệm của tập thể lãnh đạo, cán bộ công nhân viên với truyền thống hơn 40 năm hình thành và phát triển của Tổng công ty, trong bối cảnh khó khăn vẫn tiếp tục gắn bó với Tổng công ty. Để thực hiện Tái cơ cấu Tổng công ty, Bộ trưởng đề nghị Tập đoàn Vinashin và Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Nam Triệu khẩn trương thực hiện một số nội dung sau:

1. Tập đoàn Vinashin và Tổng công ty phải thẳng thắn nghiêm túc, đánh giá đúng thực trạng hoạt động sản xuất hiện nay của Tổng công ty, tìm kiếm và đưa ra được những giải pháp mạnh, có sức thuyết phục, khả thi, phải tổ chức lại sản xuất với phương thức quản lý mới, quy trình mới đảm bảo thi công các sản phẩm mới đáp ứng được các yêu cầu về tiến độ, chất lượng và hiệu quả.

2. Tập đoàn phải cập nhật lại Đề án tái cơ cấu của Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Nam Triệu theo tình hình dự báo kinh tế mới, xác định khả năng có thể tồn tại hay không tồn tại đối với từng công ty con và cả công ty mẹ. Nếu công ty con nào đủ điều kiện, khả năng hoạt động độc lập thì lập phương án tách ngay ra khỏi công ty mẹ để hoạt động độc lập. Khẩn trương tiến hành thanh lý các tài sản, vật tư tồn đọng, không có nhu cầu sử dụng để tập trung nguồn lực cho sản xuất, ưu tiên giải quyết chế độ cho người lao động.

3. Tập đoàn chủ trì, chỉ đạo Tổng công ty, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và UBND thành phố Hải Phòng xây dựng Đề án giải quyết chế độ, chính sách cho lao động dôi dư, cụ thể đối với từng nhóm lao động (trình độ, độ tuổi, sức khỏe, nhóm ngành nghề...) theo hướng:

- Trên cơ sở nhu cầu công việc hiện nay, tổ chức lại lực lượng lao động phù hợp với định mức sản xuất của đơn vị, xây dựng các tiêu chí lựa chọn công khai, minh bạch và khoa học.

- Đối vói nhóm lao động có thể chuyển đổi sang làm việc tại các doanh nghiệp, dự án trên địa bàn thành phố Hải Phòng, phối hợp với các doanh nghiệp này, xác định nhu cầu tuyển dụng để đào tạo, đào tạo lại phù hợp với ngành nghề mới.

- Đối với nhóm lao động còn lại chưa xác định nhu cầu sử dụng thì tiến hành các thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định pháp luật.

Đề án phải vận dụng linh hoạt các cơ chế, chính sách, đảm bảo tối đa các quyền lợi của người lao động, tổ chức thực hiện công khai, minh bạch, chủ động giải quyết trong phạm vi nguồn lực của Tổng công ty, Tập đoàn. Trường hợp không đủ kinh phí, lập phương án chi tiết đưa ra các giải pháp, kiến nghị cụ thể báo cáo Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ.

4. Về thị trường: Tập đoàn cần khẩn trương làm việc với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về chương trình tàu cá, tàu kiểm ngư, làm việc với tỉnh Bình Thuận về chương trình đóng tàu khách, đồng thời phải tổ chức lại sản xuất với phương thức quản lý mới, quy trình mới đảm bảo thi công các sản phẩm mới đáp ứng được các yêu cầu về tiến độ, chất lượng và giá thành. Đối với thị trường nước ngoài phải có nghiên cứu cụ thể với từng nhóm khách hàng, sản phẩm, phương thức phù hợp với khả năng đáp ứng của Tập đoàn.

5. Giao Thứ trưởng Nguyễn Văn Công chủ trì, chỉ đạo Tập đoàn làm báo cáo chi tiết, cụ thể, đề xuất các giải pháp đối với từng vấn đề để Bộ chủ trì làm việc với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, thành phố Hải Phòng, Vinalines nhằm giải quyết dứt điểm các vấn đề, xác định rõ khả năng tồn tại hay không tồn tại của Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Nam Triệu.

Trong bối cảnh hiện nay, Tập đoàn phải tập trung sức mạnh của Đảng ủy, Hội đồng thành viên, Ban lãnh đạo Tập đoàn để nghiên cứu, đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn để thực hiện tái cơ cấu.

Bộ trưởng trân trọng cảm ơn thành phố Hải Phòng và các Bộ, ngành trong thời gian qua đã quan tâm, giúp đỡ Bộ Giao thông vận tải rất nhiều trong đó có Tập đoàn Vinashin. Thực hiện tái cơ cấu Tập đoàn Vinashin và Tổng công ty Hàng hải Việt Nam là việc rất khó, Bộ trưởng đề nghị thành phố Hải Phòng và các Bộ, ngành tiếp tục quyết liệt tháo gỡ những khó khăn giúp Tập đoàn Vinashin, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam vượt qua khó khăn.

Bộ Giao thông vận tải cam kết phối hợp với thành phố Hải phòng và các Bộ, ngành, tìm ra hướng giải quyết tốt nhất có thể để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tái cơ cấu triệt để Tập đoàn Vinashin, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, để từng bước xây dựng một Tập đoàn Vinashin mới đáp ứng yêu cầu của chiến lược biển Việt Nam theo định hướng của Đảng và Chính phủ.

Thừa lệnh Bộ trưởng, Văn phòng Bộ Giao thông vận tải thông báo tới các cơ quan, đơn vị liên quan thuộc Bộ và Tập đoàn Vinashin để phối hợp, triển khai thực hiện./.

 

 

Nơi nhận:
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- TT Nguyễn Văn Công;
- Văn phòng Chính phủ;
- Bộ Tài chinh, Bộ LĐ - TB&XH;
- Ngân hàng Nhà nước VN;
- UBND thành phố Hải Phòng;
- Các đơn vị dự họp;
- Lưu: VT, TH
.

TL. BỘ TRƯỞNG
CHÁNH VĂN PHÒNG




Nguyễn Văn Lưu

 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 436/TB-BGTVT

Loại văn bảnThông báo
Số hiệu436/TB-BGTVT
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành03/08/2012
Ngày hiệu lực03/08/2012
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcDoanh nghiệp, Giao thông - Vận tải
Tình trạng hiệu lựcKhông xác định
Cập nhật6 năm trước

Download Văn bản pháp luật 436/TB-BGTVT

Lược đồ Thông báo 436/TB-BGTVT kết luận của Bộ trưởng Đinh La Thăng tại cuộc họp


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Thông báo 436/TB-BGTVT kết luận của Bộ trưởng Đinh La Thăng tại cuộc họp
                Loại văn bảnThông báo
                Số hiệu436/TB-BGTVT
                Cơ quan ban hànhBộ Giao thông vận tải
                Người kýNguyễn Văn Lưu
                Ngày ban hành03/08/2012
                Ngày hiệu lực03/08/2012
                Ngày công báo...
                Số công báo
                Lĩnh vựcDoanh nghiệp, Giao thông - Vận tải
                Tình trạng hiệu lựcKhông xác định
                Cập nhật6 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản được dẫn chiếu

                    Văn bản hướng dẫn

                      Văn bản được hợp nhất

                        Văn bản được căn cứ

                          Văn bản hợp nhất

                            Văn bản gốc Thông báo 436/TB-BGTVT kết luận của Bộ trưởng Đinh La Thăng tại cuộc họp

                            Lịch sử hiệu lực Thông báo 436/TB-BGTVT kết luận của Bộ trưởng Đinh La Thăng tại cuộc họp

                            • 03/08/2012

                              Văn bản được ban hành

                              Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                            • 03/08/2012

                              Văn bản có hiệu lực

                              Trạng thái: Có hiệu lực