Thông báo 53-TB/TW

Thông báo 53-TB/TW năm 2019 kết luận của Bộ Chính trị về tình hình thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TW về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 do Ban Chấp hành Trung ương ban hành

Nội dung toàn văn Thông báo 53-TB/TW 2019 xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ đưa nước ta thành nước công nghiệp


BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
-------

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
---------------

Số: 53-TB/TW

Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 2019

 

THÔNG BÁO

KẾT LUẬN CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 13-NQ/TW, NGÀY 16/01/2012 CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG KHÓA XI VỀ XÂY DỰNG KẾT CẤU HẠ TẦNG ĐỒNG BỘ NHẰM ĐƯA NƯỚC TA CƠ BẢN TRỞ THÀNH NƯỚC CÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI VÀO NĂM 2020

Tại phiên họp ngày 21/02/2019, sau khi nghe Ban cán sự đảng Bộ Kế hoạch và Đầu tư báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 (Tờ trình số 624-TTr/BCSĐ, ngày 24/12/2018 kèm Báo cáo sơ kết), ý kiến các cơ quan, Bộ Chính trị đã thảo luận và kết luận:

1. Về kết quả triển khai thực hiện

- Ngay sau khi Nghị quyết số 13 được ban hành, Chính phủ, các bộ, ngành, các cấp ủy đảng và chính quyền đã tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết. Chính phủ đã tập trung chỉ đạo ban hành, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện một bước thể chế, luật pháp, cơ chế, chính sách, biện pháp phát triển kết cấu hạ tầng.

- Kết cấu hạ tầng đã có những bước tiến rõ rệt, góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế - xã hội nước ta phát triển, củng cố quốc phòng, an ninh. Nhiều dự án, công trình kết cấu hạ tầng được tập trung đầu tư, nhất là trong lĩnh vực giao thông đường bộ, hàng không, cấp điện, hạ tầng thông tin và truyền thông, một số công trình mới xây dựng đã tiếp cận được trình độ công nghệ tiên tiến của khu vực và thế giới. Bước đầu đã huy động được nguồn lực xã hội ngoài ngân sách nhà nước để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.

2. Về hạn chế và nguyên nhân

- Một số văn bản quy phạm pháp luật còn ban hành chậm, thiếu đồng bộ, chồng chéo, mâu thuẫn, chưa xử lý được những vấn đề bức xúc mà thực tiễn đặt ra, nhất là trong lĩnh vực đất đai, giải phóng mặt bằng, đầu tư, đấu thầu, huy động nguồn lực...

- Công tác quy hoạch còn thiếu tầm nhìn, thiếu tính đồng bộ, tính liên kết, chưa tuân theo nguyên tắc thị trường trong tổ chức thực hiện..., dẫn đến việc phân bổ không gian kinh tế - xã hội chưa phát huy hết thế mạnh đặc trưng của vùng, tiểu vùng.

- Huy động và sử dụng nguồn lực mới chủ yếu tập trung vào nguồn lực công, vẫn còn tình trạng phân tán, dàn trải trong phân bổ ngân sách; luật pháp và chính sách thu hút những nguồn lực khác chưa đủ sức hấp dẫn, thiếu minh bạch, chứa đựng nhiều rủi ro; chưa có giải pháp thích hợp, hiệu quả để khai thác nguồn lực từ đất đai theo nguyên tắc của kinh tế thị trường.

- Việc chỉ đạo điều hành còn nhiều bất cập, chưa quyết liệt trong việc giải quyết nhũng vướng mắc trong quá trình thực hiện dẫn đến một số công trình chậm tiến độ, kéo dài thời gian.

- Việc tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết ở một số nơi còn chưa cụ thể, công tác phối hợp, theo dõi, giám sát và đánh giá thực hiện còn chưa thật tốt để có biện pháp xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh. Những năm đầu triển khai Nghị quyết số 13-NQ/TW, nền kinh tế tăng trưởng thấp, khả năng tích lũy cho đầu tư hạn chế, nợ công ở mức cao, cơ cấu lại ngân sách chưa bảo đảm nên nguồn lực dành cho đầu tư phát triển còn hạn chế. Chúng ta còn thiếu kinh nghiệm trong tìm, chọn các cơ chế, giải pháp thu hút nguồn lực đầu tư xã hội, nhất là nguồn vốn đầu tư nước ngoài để phát triển kết cấu hạ tầng.

3. Định hướng triển khai thực hiện Nghị quyết trong thời gian tới

- Phát triển đồng bộ và hiện đại kết cấu hạ tầng là nhiệm vụ lâu dài, cần phải có lộ trình phù hợp với sự phát triển chung của toàn nền kinh tế. Trong thời gian tới, tiếp tục xác định phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ là một trong những đột phá chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước giai đoạn 2021 - 2030, nhằm hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng, khắc phục điểm nghẽn, để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.

- Tập trung hoàn thiện thể chế, luật pháp, chính sách huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, đầu tư, đấu thầu, bảo đảm sự hài hòa lợi ích giữa nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng kết cấu hạ tầng.

- Tăng cường huy động nguồn lực đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước cho phát triển kết cấu hạ tầng. Tiếp tục triển khai thu hút đầu tư theo hình thức đối tác công - tư đối với các dự án, công trình kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở bảo đảm hiệu quả đầu tư, cân bằng lợi ích của các chủ thể.

- Chỉ đạo quyết liệt, sớm hoàn thành các công trình dự án quan trọng quốc gia, các dự án có sức lan tỏa, tạo sự đột phá, như đường bộ cao tốc, đường sắt tốc độ cao, cảng hàng không quốc tế Long Thành, các dự án tạo nền tảng tiếp cận và nắm bắt cơ hội Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hạ tầng kinh tế số.

- Cấp ủy đảng, chính quyền các cấp tiếp tục chỉ đạo quán triệt và tăng cường lãnh đạo, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động triển khai thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW.

- Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các luật liên quan, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện và giám sát thực hiện trên phạm vi cả nước.

- Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo sửa đổi, bổ sung các văn bản dưới luật; chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tích cực triển khai thực hiện theo mục tiêu Nghị quyết số 13-NQ/TW đề ra. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện và kịp thời điều chỉnh các chương trình, kế hoạch, giải pháp cụ thể phù hợp với yêu cầu thực tế, bảo đảm thực hiện có hiệu quả cao nhất Nghị quyết số 13-NQ/TW. Chỉ đạo các bộ, ngành và các địa phương tập trung rà soát, lập quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực kết cấu hạ tầng và xây dựng danh mục các công trình dự án kết cấu hạ tầng để tập trung ưu tiên đầu tư, bao gồm cả các dự án thu hút đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước.

- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể đẩy mạnh vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia thực hiện và giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW.

 

 

T/M BỘ CHÍNH TRỊ




Trần Quốc Vượng

 

Đã xem:

Đánh giá:  
 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 53-TB/TW

Loại văn bảnThông báo
Số hiệu53-TB/TW
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành30/03/2019
Ngày hiệu lực30/03/2019
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcXây dựng - Đô thị
Tình trạng hiệu lựcKhông xác định
Cập nhật10 tháng trước
(08/01/2020)
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Lược đồ Thông báo 53-TB/TW 2019 xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ đưa nước ta thành nước công nghiệp


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Thông báo 53-TB/TW 2019 xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ đưa nước ta thành nước công nghiệp
                Loại văn bảnThông báo
                Số hiệu53-TB/TW
                Cơ quan ban hànhBan Chấp hành Trung ương
                Người kýTrần Quốc Vượng
                Ngày ban hành30/03/2019
                Ngày hiệu lực30/03/2019
                Ngày công báo...
                Số công báo
                Lĩnh vựcXây dựng - Đô thị
                Tình trạng hiệu lựcKhông xác định
                Cập nhật10 tháng trước
                (08/01/2020)

                Văn bản thay thế

                  Văn bản hướng dẫn

                    Văn bản được hợp nhất

                      Văn bản được căn cứ

                        Văn bản hợp nhất

                          Văn bản gốc Thông báo 53-TB/TW 2019 xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ đưa nước ta thành nước công nghiệp

                          Lịch sử hiệu lực Thông báo 53-TB/TW 2019 xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ đưa nước ta thành nước công nghiệp

                          • 30/03/2019

                            Văn bản được ban hành

                            Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                          • 30/03/2019

                            Văn bản có hiệu lực

                            Trạng thái: Có hiệu lực