Thông tư 16-LB/TT

Thông Tư 16-LB/TT-1976 hướng dẫn thi hành chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ y tế xã do Bộ y Tế và Bộ Tài Chính ban hành

Nội dung toàn văn Thông Tư 16-LB/TT Hướng dẫn chế độ đãi ngộ cán bộ y tế xã


BỘ Y TẾ
BỘ TÀI CHÍNH
******

VIÊT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 16-LB/TT

Hà Nội, ngày 19 tháng 06 năm 1976 

 

THÔNG TƯ LIÊN BỘ

HƯỚNG DẪN THI HÀNH CHÍNH SÁCH, CHẾ ĐỘ ĐÃI NGỘ ĐỐI VỚI CÁN BỘ Y TẾ XÃ.

Ngày 20 tháng 6 năm 1975, Hội đồng Chính phủ ban hành quyết định số 130-CP về việc bộ sung chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ xã.

Sau khi thống nhất ý kiến với Ban tổ chức của Chính phủ, liên Bộ Y tế – Tài chính hướng dẫn thi hành chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ y tế xã như sau:

I. Việc bố trí cán bộ y tế xã:

Nói chung, mỗi trạm y tế xã có từ 4 đến 5 cán bộ gồm y sĩ, y tá, dược tá, nữ hộ sinh và cán bộ đông y; tùy theo dân số và đặc điểm của mỗi xã mà bố trí cho hợp lý.

Cán bộ y tế xã phải thường xuyên có mặt ban ngày ở trạm y tế và luân phiên nhau thường trực ban đêm, ngày chủ nhật, ngày lễ, bảo đảm lúc nào cũng có cán bộ y tế làm việc ở trạm y tế xã, kịp thời khám bệnh, chữa bệnh, cấp cứu, đỡ đẻ và phòng chống dịch.

II. Chế độ phụ cấp hàng tháng:

Cán bộ y tế xã thường xuyên công tác, được hưởng phụ cấp hàng tháng như sau:

1. Những người công tác chưa đủ ba năm, y sĩ: 30 đồng một tháng; y tá, dược tá, hộ sinh: 25 đồng một tháng.

Những người công tác từ 3 năm trở lên, hoàn thành tốt nhiệm vụ, không có sai lầm, khuyết điểm gì lớn, y sĩ: 35 đồng một tháng; y tá, dược tá, hộ sinh: 30 đồng một tháng.

2. Cán bộ đông y được bố trí làm cán bộ y tế xã cũng hưởng phụ cấp như y sĩ hoặc y tá tùy theo trình độ chuyên môn và kết quả công tác. Riêng cán bộ đông y có trình độ chuyên môn cao, chữa bệnh nổi tiếng, được nhân dân tín nhiệm, có thể hưởng mức phụ cấp cao hơn, nhưng nhiều nhất cũng không quá 60 đồng một tháng (bậc lương khởi điểm của bác sĩ). Nếu những cán bộ đông y nói trên đây vừa công tác ở xã vừa kiêm thêm công việc ở các cơ sở y tế tuyến trên (huyện, tỉnh trung ương) thì phụ cấp của những người đó được hưởng ở các cơ sở y tế tuyến trên vẫn tính riêng.

3. Những cán bộ y tế xã (kể cả cán bộ đông y) hiện đang hưởng mức phụ cấp cao hơn mức quy định nói trên thì được bảo lưu mức cũ cho đến khi có quy định mới. Ở những xã có cán bộ y tế được hưởng chế độ bảo lưu mức phụ cấp cũ thì những người mới ra làm công tác y tế cũng chỉ được hưởng phụ cấp theo chế độ chung, không áp dụng mức phụ cấp của những người được bảo lưu mức phụ cấp cũ.

4. Ngoài chế độ phụ cấp hàng tháng được hưởng chế độ phụ cấp truyền nhiễm và thường trực như sau:

a) Phụ cấp truyền nhiễm: (áp dụng theo nghị định số 59-CP ngày 26-10-1960 của Hội đồng Chính phủ và thông tư của Bộ Y tế số 23-BYT/TT ngày 30-11-1960), cụ thể là:

- Những cán bộ y tế thường xuyên trực tiếp khám, chữa bệnh, phát thuốc và quản lý các bệnh nhân lao, hủi, lây và tinh thần, được phụ cấp 5 đồng một tháng;

- Những cán bộ y tế thường xuyên trực tiếp phục vụ bệnh nhân tại các trại lao động tập trung của huyện hoặc của liên xã, được phụ cấp 12 đồng một tháng.

b) Phụ cấp thường trực: (áp dụng theo thông tư số 15-BYT/TT ngày 12-5-1966 của Bộ Y tế) cụ thể là:

Mỗi trạm y tế xã được bố trí một suất thường trực, nếu trong phiên trực thực sự có làm việc như: khám, chữa bệnh, săn sóc bệnh nhân, đỡ đẻ, cấp cứu, được phụ cấp: y sĩ: 0,80 đồng; y tá, hộ sinh, dược tá: 0,60 đồng.

5. Cách trả phụ cấp:

Kinh phí trả phụ cấp cho cán bộ y tế xã do ngân sách xã đài thọ. Các nguồn thu hiện nay như: hoa hồng bán thuốc, tiền tích lũy phúc lợi của hợp tác xã nông nghiệp, tiền do nhân dân đóng góp... đều nộp vào ngân sách xã để dùng chi cho cán bộ y tế xã; nếu ngân sách xã thiếu thì ngân sách tỉnh, thành phố trợ cấp.

6. Ngoài các khoản chi về phụ cấp cho cán bộ y tế xã hàng tháng theo quy định nói trên đây, mỗi trạm y tế xã còn được dự trù một số tiền để mua bông băng, cồn, gạc, thuốc sát trùng, dầu đèn... ấn định như sau:

- xã loại 1: từ 40 đến 50 đồng một tháng;

- xã loại 2: từ 30 đến 40 đồng một tháng.

Số tiền này cũng do ngân sách xã đài thọ, nếu thiếu thì ngân sách tỉnh, thành phố trợ cấp.

III. Chế độ đãi ngộ đối với cán bộ y tế xã đi học

Cán bộ y tế xã có đủ 3 năm liên tục công tác ở trạm y tế xã, có đủ tiêu chuẩn được cử đi học, sau này lại về phục vụ cho xã, hợp tác xã thì trong thời gian học được hưởng chế độ đãi ngộ như quy định tại mục II của quyết định số 130-CP ngày 30-6-1975 của Hội đồng Chính phủ và điểm 2 của thông tư số 45-BT ngày 24-3-1976 của Phủ Thủ tướng, cụ thể là:

- Học lớp dài hạn từ 6 tháng trở lên, được trợ cấp 30 đồng một tháng;

- Học lớp ngắn hạn từ 6 tháng trở xuống, được trợ cấp 26 đồng một tháng

- Nếu chưa đủ 3 năm công tác liên tục ở trạm y tế xã, thì được trợ cấp 22 đồng một tháng;

- Cán bộ dân tộc ít người được phụ cấp thêm 3 đồng một tháng.

Trong thời gian đi học, được cấp lương thực như cán bộ trong biên chế Nhà nước làm công tác hành chính (phần lương thực ở nhà và phụ cấp hàng tháng ở xã sẽ không được hưởng). Về thực phẩm, được cấp như cán bộ thoát ly loại có phiếu E. Được cấp tiền tàu xe đi về theo thực chi; nếu lớp học từ một năm trở lên thì được cấp tiền tàu xe cho một lần đi, một lần về. Cán bộ thuộc dân tộc ít người có người nhà đến thăm, nếu người nhà không phải lài cán bộ, công nhân viên chức Nhà nước, được cấp tiền ăn mỗi năm một lần cho nhiều nhất là 3 người, không quá 3 ngày, mỗi người một ngày 0,60 đồng (lớp dưới 1 năm cũng được cấp một lần).

Cán bộ y tế nữ có con nhỏ dưới 3 tuổi mang theo khi đi học, thì trong thời gian học, được gửi con vào nhà trẻ của trường hoặc nhóm trẻ dân lập gần trường, và được hưởng khoản trợ cấp gửi trẻ như cán bộ thoát ly. Các khoản chi trên đây do quỹ nhà trường đài thọ.

IV. Chế độ đãi ngộ đối với cán bộ y tế xã công tác lâu năm nay già yếu, nghỉ việc.

Trạm trưởng, trạm phó trạm y tế xã có 15 năm công tác liên tục ở trạm y tế xã, nay già, yếu (nam 55 tuổi, nữ 50 tuổi) được cấp trên quyết định cho nghỉ việc thì được hưởng trợ cấp thường xuyên hàng tháng là 12 đồng.

Khoản trợ cấp này do quỹ xác định thuộc ngân sách tỉnh, thành phố đài thọ.

V. Các chế độ khác

Về các chế độ khác như chế độ đãi ngộ khi đi dự hội nghị, khi ốm đau phải nằm bệnh viện, sinh đẻ hoặc chết, chế độ công tác phí, v.v... thì áp dụng các quy định hiện hành của Nhà nước đối với các loại cán bộ ở xã.

VI. Điều khoản thi hành

Thông tư này thi hành kể từ ngày ban hành,

Thông tư này thay thế các thông tư trước đây nói về chính sách, chế độ đối với cán bộ y tế xã. Về việc cung cấp lương thực cho cán bộ y tế xã và chế độ đãi ngộ đối với cán bộ y tế hợp tác xã thì tạm thời áp dụng các quy định hiện hành của Nhà nước, sau này sẽ có văn bản hướng dẫn tiếp.

Đối với cán bộ y tế xã vùng cao, vẫn áp dụng chế độ đãi ngộ theo quyết định số 156-CP ngày 6-10-1968 của Hội đồng Chính phủ.

 

K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH

THỨ TRƯỞNG

 

 

 

 

Trịnh Văn Bính

K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ

THỨ TRƯỞNG

 

 

 

 

Bác sĩ Nguyễn Văn Tín

 

 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 16-LB/TT

Loại văn bảnThông tư
Số hiệu16-LB/TT
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành19/06/1976
Ngày hiệu lực19/06/1976
Ngày công báo01/07/1976
Số công báoSố 13
Lĩnh vựcLao động - Tiền lương, Thể thao - Y tế
Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
Cập nhật10 năm trước

Lược đồ Thông Tư 16-LB/TT Hướng dẫn chế độ đãi ngộ cán bộ y tế xã


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Thông Tư 16-LB/TT Hướng dẫn chế độ đãi ngộ cán bộ y tế xã
                Loại văn bảnThông tư
                Số hiệu16-LB/TT
                Cơ quan ban hànhBộ Y tế, Bộ Tài chính
                Người kýTrịnh Văn Bính, Nguyễn Văn Tín
                Ngày ban hành19/06/1976
                Ngày hiệu lực19/06/1976
                Ngày công báo01/07/1976
                Số công báoSố 13
                Lĩnh vựcLao động - Tiền lương, Thể thao - Y tế
                Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
                Cập nhật10 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản được dẫn chiếu

                    Văn bản hướng dẫn

                      Văn bản được hợp nhất

                        Văn bản được căn cứ

                          Văn bản hợp nhất

                            Văn bản gốc Thông Tư 16-LB/TT Hướng dẫn chế độ đãi ngộ cán bộ y tế xã

                            Lịch sử hiệu lực Thông Tư 16-LB/TT Hướng dẫn chế độ đãi ngộ cán bộ y tế xã

                            • 19/06/1976

                              Văn bản được ban hành

                              Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                            • 01/07/1976

                              Văn bản được đăng công báo

                              Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                            • 19/06/1976

                              Văn bản có hiệu lực

                              Trạng thái: Có hiệu lực