Thông tư 36-LB/TT

Thông tư 36-LB/TT năm 1957 về trợ cấp giữ trẻ do Bộ Nội vụ- Bộ Tài chính ban hành

Nội dung toàn văn Thông tư 36-LB/TT trợ cấp giữ trẻ


BỘ TÀI CHÍNH-BỘ NỘI VỤ
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 36-LB/TT

Hà Nội, ngày 19 tháng 10 năm 1957 

 

THÔNG TƯ

VỀ TRỢ CẤP GIỮ TRẺ

Thông tư số 02-LB/CB ngày 16-5-1954 về vấn đề giữ trẻ ban hành đã giải quyết được nhiều khó khăn cho một số lớn chị em cán bộ, công nhân viên sống tập thể. Nhưng hiện nay còn có những chị em phải công tác lưu động, sống lẻ tẻ không có điều kiện tổ chức vườn trẻ hoặc gửi trẻ vào vườn trẻ của cơ quan nên đã gặp nhiều khó khăn trong công tác.

Để giải quyết những khó khăn của các chị em nói trên, Liên Bộ quy định:

1) Đặt một khoản trợ cấp hàng tháng quy định bằng tiền cho nữ cán bộ, công nhân viên (nói chung) trong biên chế Nhà nước (kể cả các đoàn thể nhân dân) hưởng thụ theo chế độ bán cung cấp (không phân biệt cấp bậc nào, thuộc loại công tác gì), có con nhỏ từ một đến ba tuổi không có điều kiện gửi vào vườn trẻ do cơ quan tổ chức.

Khoản trợ cấp này chỉ áp dụng tạm thời trong khi còn thi hành chế độ lương hiện tại.

2) Mức trợ cấp:

- Đối với các cháu dưới hai năm (24 tháng) trợ cấp này bẩy nghìn (7.000 đồng) một tháng.

- Đối với các cháu trên hai năm, dưới ba năm (từ 25 đến 36 tháng) trợ cấp 3.500 đồng một tháng.

3) Nguyên tắc trợ cấp:

Tất cả những nữ cán bộ, công nhân viên có con nhỏ từ 1 đến 3 tuổi nếu không gửi con vào vườn trẻ cơ quan thì đều được trợ cấp.

Những chị em phải công tác lưu động, ở lẻ tẻ hoặc công tác trong một cơ quan không có điều kiện tổ chức vườn trẻ cũng được trợ cấp.

Các cháu mới sinh chỉ được hưởng trợ cấp từ khi mẹ đi làm việc sau thời kỳ nghỉ đẻ (làm việc trước ngày 15 được trợ cấp cả tháng, làm việc sau ngày 15 thì trợ cấp ½ tháng).

Chú ý: Với cơ quan đã có tổ chức vườn trẻ thì sẽ giải quyết như sau:

Đối với những vườn trẻ sẵn có, khi đặt vấn đề trợ cấp giữ trẻ (phải được cha mẹ đứa bé đảm bảo), biên chế vườn trẻ được thu xếp hợp lý (có người có việc, tránh tình trạng ngồi không ăn lương). Do đó đối với các cháu đã gửi vườn trẻ, khi giải quyết trợ cấp cơ quan phải xét kỹ; không vì quy định trợ cấp trên mà giải tán vườn trẻ đã có, gây khó khăn lúng túng cho cán bộ, công nhân viên. Những cháu bé mà bố mẹ đã đề nghị được hưởng trợ cấp giữ trẻ, nay muốn gửi lại vườn trẻ phải được cơ quan xét, quyết định với khả năng đảm bảo của vườn trẻ. Con mới đẻ của nữ cán bộ, công nhân viên sống tập thể nếu không hưởng trợ cấp thì được gửi vào vườn trẻ sẵn có của cơ quan.

Trong Thông tư số 02-LB/CB ngày 10-5-1954 có nói “cơ quan hay xí nghiệp chỉ có một cháu dưới 2 năm không đủ điều kiện để có một người trông nom nhưng là con nữ cán bộ chỉ đạo tại chức Phó trưởng phòng Ủy Ban tỉnh trở lên, Ủy viên Ủy ban Kháng chiến hành chính huyện trở lên đặc biệt cũng được một người trông nom”. Đó là quy định trong thời kháng chiến, nay có chế độ trợ cấp do thông tư này quy định thì điều nói trên không còn áp dụng nữa.

4) Những quy định nào trong thông tư số 2-LB/CB trái với những nguyên tắc trên đều không còn thi hành nữa.

*****

Việc trợ cấp này là để giải quyết một phần khó khăn cho các chị em cán bộ, công nhân viên có đủ tiêu chuẩn gửi con vào vườn trẻ, để chị em có đủ điều kiện bảo đảm công tác chuyên môn và chỉ là một giải pháp có tính chất tạm thời trong khi  ta còn duy trì chế độ lương hiện hành.

Việc trợ cấp phải xét kỹ và giải quyết cho đúng với tinh thần của Thông tư Liên bộ, tuyệt đối không được vừa có người giữ trẻ, vừa trợ cấp. Các chị em khi được trợ cấp cũng phải tự giải quyết lấy những khó khăn để có điều kiện bảo đảm công tác chuyên môn cũng như học tập sinh hoạt ở cơ quan.

Thông tư này thi hành từ 01-11-1957 và không áp dụng đối với doanh xí nghiệp.

Trong khi thực hiện các cơ quan Hành chính Sự nghiệp từ trung ương đến địa phương có gặp khó khăn trở ngại gì đề nghị cho Liên bộ chúng tôi biết để kip thời nghiên cứu và bổ sung (báo cáo lên Bộ Nội vụ).

KT. BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ
THỨ TRƯỞNG

 
 
 

Tô Quang Đẩu

KT. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
THỨ TRƯỞNG

 

 

Trịnh Văn Bính

 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 36-LB/TT

Loại văn bảnThông tư
Số hiệu36-LB/TT
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành19/10/1957
Ngày hiệu lực01/11/1957
Ngày công báo30/10/1957
Số công báoSố 44
Lĩnh vựcLao động - Tiền lương
Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
Cập nhật11 năm trước

Lược đồ Thông tư 36-LB/TT trợ cấp giữ trẻ


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Thông tư 36-LB/TT trợ cấp giữ trẻ
                Loại văn bảnThông tư
                Số hiệu36-LB/TT
                Cơ quan ban hànhBộ Tài chính, Bộ Nội vụ
                Người kýTrịnh Văn Bính, Tô Quang Đẩu
                Ngày ban hành19/10/1957
                Ngày hiệu lực01/11/1957
                Ngày công báo30/10/1957
                Số công báoSố 44
                Lĩnh vựcLao động - Tiền lương
                Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
                Cập nhật11 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản được dẫn chiếu

                    Văn bản được hợp nhất

                      Văn bản được căn cứ

                        Văn bản hợp nhất

                          Văn bản gốc Thông tư 36-LB/TT trợ cấp giữ trẻ

                          Lịch sử hiệu lực Thông tư 36-LB/TT trợ cấp giữ trẻ

                          • 19/10/1957

                            Văn bản được ban hành

                            Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                          • 30/10/1957

                            Văn bản được đăng công báo

                            Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                          • 01/11/1957

                            Văn bản có hiệu lực

                            Trạng thái: Có hiệu lực