Thông tư 363-TTg

Thông tư 363-TTg năm 1961 về việc sửa chữa nhà ở do Phủ Thủ Tướng ban hành.

Nội dung toàn văn Thông tư 363-TTg sửa chữa nhà ở


PHỦ THỦ TƯỚNG
******

VIỆT DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 363-TTg

Hà Nội, ngày 12 tháng 09 năm 1961 

 

THÔNG TƯ

VỀ VIỆC SỬA CHỮA NHÀ Ở

Ngày 30-8-1961 Hội nghị thường vụ của Hội đồng Chính phủ đã nghe Văn phòng Tài chính – Thương nghiệp Phủ Thủ tướng trình bày về việc sửa chữa nhà ở.

Hội nghị thường vụ của Hội đồng Chính phủ nhận thấy: vấn đề nhà ở hiện nay là một vấn đề có liên quan rất lớn đến đời sống của nhân dân lao động. Về lâu dài, cần phải đặt ra và giải quyết một cách toàn diện. Trước mắt, từ nay cho đến cuối năm, trong tình hình tài chính và nguyên vật liệu có khó khăn, nhưng cần phải sửa chữa gấp một số nhà trong diện nguy hiểm đang hàng ngày đe dọa tính mạng và tài sản của người ở.

Để giải quyết vấn đề này, Hội nghị thường vụ của Hội đồng Chính phủ đã quyết định:

1. Đối vối khu vực nhà ở của nhân dân do Nhà nước quản lý, Bộ Tài chính cần trích trong tổng dự bị phí cấp cho Bộ Nội thương số tiền 500.000 đồng để chi phí cho việc sửa chữa hơn 800 ngôi nhà hư hỏng đến mức độ nguy hiểm đã phát hiện, do Bộ Nội thương đề nghị.

Bộ Tài chính giúp Bộ Nội thương và Ủy ban hành chính các địa phương kiểm tra việc thu chi các khoản tiền thuộc phạm vi quản lý nhà cửa từ trước đến nay, chấn chỉnh đưa việc quản lý thu chi vào kế hoạch và ngay từ bây giờ phải lập dự trù thu chi cho năm 1962.

Để đảm bảo đẩy mạnh tốc độ sửa chữa gấp những nhà nguy hiểm, Bộ Kiến trúc cần tăng thêm ngay một số cán bộ kỹ thuật cho 03 thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng và Nam Định để đảm bảo giải quyết nhanh chóng công tác thiết kế, xét duyệt dự trù, v.v…

Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Tổng cục Lâm nghiệp cần chú ý phân phối một phần nguyên vật liệu cho việc sửa chữa những nhà nguy hiểm theo dự trù của ngành quản lý nhà đất.

Cơ quan quản lý nhà đất và ngành Kiến trúc có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ cùng với Ủy ban hành chính các địa phương, dựa vào nhân dân điều tra phát hiện đúng và kịp thời những ngôi nhà nguy hiểm để có kế hoạch tổ chức sửa chữa, đảm bảo an toàn cho người thuê nhà.

2. Đối với khu vực nhà ở của nhân dân do tư nhân quản lý hư hỏng cần vận động họ bỏ tiền ra sửa chữa. Cần phải dành một phần nguyên vật liệu  bán cho họ để sửa chữa, giúp đỡ họ về kỹ thuật trong việc thiết kế, qua đó mà hướng dẫn họ sửa chữa và cải tạo mà theo đúng quy hoạch thành phố, giúp đỡ họ về nhân công và thợ bằng cách chính quyền địa phương đứng ra vận động tổ chức số thợ và nhân công sửa chữa tự do thành những hợp tác xã sửa chữa nhà cửa, dựa vào đó mà quản lý phân phối, lãnh đạo hướng dẫn về giá cả.

Đối với chủ nhà xét thấy không đủ khả năng sửa chữa thì Nhà nước sẽ bán nguyên vật liệu cho họ theo giá cung cấp và Ngân hàng Nhà nước sẽ căn cứ vào yêu cầu của họ mà xét cho vay một phần tiền để sửa chữa nhà.

3. Bộ Nội thương và Ủy ban hành chính các địa phương cần tăng cường việc lãnh đạo và chỉ đạo công tác quản lý nhà đất, chấn chỉnh và tăng cường bộ máy quản lý nhà đất để đủ sức đảm bảo công tác.

Văn phòng Tài chính – Thương nghiệp cùng Bộ Nội thương nghiên cứu gấp việc chấn chỉnh tổ chức của ngành quản lý nhà đất cho hợp lý.

Về lâu dài, cơ quan quản lý nhà đất cần phối hợp với các ngành có liên quan, với Ủy ban hành chính các địa phương nghiên cứu trình Hội đồng Chính phủ xét duyệt vào khoảng cuối năm 1961 một chính sách toàn diện về vấn đề nhà ở gồm có các vấn đề sau đây:

- Vấn đề xây thêm nhà ở.

- Vấn đề sửa chữa và cải tạo số nhà hiện có của hai khu vực (nhà thuộc Nhà nước quản lý và nhà của tư nhân) gồm có các vấn đề cung cấp nguyên vật liệu, giá cả nguyên vật liệu lưc lượng sửa chữa, tiền để sửa chữa v.v…

- Quy định các nguyên tắc, tiêu chuẩn, chế độ sử dụng nhà cửa.

- Vấn đề thống nhất quản lý nhà cửa và việc tổ chức bộ máy quản lý nhà cửa.

- Chính sách thuế thổ trạch sau cải tạo, v.v…

4. Các cơ quan Nhà nước và đoàn thể hiện nay có sử dụng một số nhà để làm cơ quan và nhà ăn ở cho cán bộ, công nhân cần phải giữ gìn và bảo vệ cho tốt.

Nhận được thông tư này, Bộ Nội thương, Bộ Tài chính, Bộ Kiến trúc, Ủy ban Kế hoạch Ngân hàng, Tổng cục Lâm nghiệp và các ngành có liên quan, Ủy ban hành chính các khu, thành, tỉnh cần hướng dẫn cụ thể để thi hành cho tốt.

 

T.L THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
BỘ TRƯỞNG PHỦ THỦ TƯỚNG





Nguyễn Khang

 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 363-TTg

Loại văn bảnThông tư
Số hiệu363-TTg
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành12/09/1961
Ngày hiệu lực27/09/1961
Ngày công báo27/09/1961
Số công báoSố 38
Lĩnh vựcXây dựng - Đô thị, Bất động sản
Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
Cập nhật12 năm trước

Lược đồ Thông tư 363-TTg sửa chữa nhà ở


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Thông tư 363-TTg sửa chữa nhà ở
                Loại văn bảnThông tư
                Số hiệu363-TTg
                Cơ quan ban hànhPhủ Thủ tướng
                Người kýNguyễn Khang
                Ngày ban hành12/09/1961
                Ngày hiệu lực27/09/1961
                Ngày công báo27/09/1961
                Số công báoSố 38
                Lĩnh vựcXây dựng - Đô thị, Bất động sản
                Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
                Cập nhật12 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản được dẫn chiếu

                    Văn bản được hợp nhất

                      Văn bản được căn cứ

                        Văn bản hợp nhất

                          Văn bản gốc Thông tư 363-TTg sửa chữa nhà ở

                          Lịch sử hiệu lực Thông tư 363-TTg sửa chữa nhà ở

                          • 12/09/1961

                            Văn bản được ban hành

                            Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                          • 27/09/1961

                            Văn bản được đăng công báo

                            Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                          • 27/09/1961

                            Văn bản có hiệu lực

                            Trạng thái: Có hiệu lực