Thông tư 77-CP

Thông tư 77-CP-1973 về việc xử lý thiết bị, vật tư ứ đọng ở các Xí nghiệp quốc doanh sau cuộc kiểm kê Tài sản 0 giờ ngày 01/01/1973 do Hội đồng Chính phủ ban hành

Nội dung toàn văn Thông tư 77-CP xử lý thiết bị vật tư ứ đọng xí nghiệp quốc doanh sau kiểm kê tài sản 01/01/1973


HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA 
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 77-CP

Hà Nội, ngày 18 tháng 04 năm 1973 

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC XỬ LÝ THIẾT BỊ, VẬT TƯ Ứ ĐỌNG Ở CÁC XÍ NGHIỆP QUỐC DOANH SAU CUỘC KIỂM KÊ TÀI SẢN 0 GIỜ NGÀY 01 THÁNG 01 NĂM 1973

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

Để có thể huy động sử dụng nhanh chóng số thiết bị, vật tư ứ đọng ở các xí nghiệp quốc doanh sau cuộc kiểm kê tài sản lúc 0 giờ ngày 01 tháng 01 năm 1973.
Căn cứ vào nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trong phiên họp ngày 27 và 28 tháng 03 năm 1973.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. – Giám đốc các xí nghiệp quốc doanh trung ương, bao gồm các xí nghiệp sản xuất, xây dựng, vận tải và các công ty vật tư (dưới đây gọi tắt là xí nghiệp) phải dựa vào tài liệu kiểm kê tài sản lúc 0 giờ ngày 01 tháng 01 năm 1973, làm báo cáo thiết bị, vật tư ứ đọng, xác định cụ thể danh mục, số lượng, giá trị thiết bị, vật tư ứ đọng, và đề ra phương án xử lý nhằm huy động nhanh chóng thiết bị, vật tư ứ đọng ở xí nghiệp ra sử dụng một cách có lợi nhất cho nền kinh tế, giảm bớt thiệt hại cho Nhà nước, tạo điều kiện ổn định tình hình xí nghiệp, đưa việc quản lý tài sản ở xí nghiệp vào nền nếp.

Thiết bị, vật tư ứ đọng nói trong quyết định này bao gồm mọi thiết bị, vật tư còn mới hoặc đã kém, mất phẩm chất mà xí nghiệp không cần dùng để hoàn thành kế hoạch sản xuất: kinh doanh doanh năm 1973 và chuẩn bị kế hoạch sản xuất, kinh doanh năm 1974.

Điều 2. - Tuỳ theo tình hình cụ thể, phương án xử lý thiết bị, vật tư ứ đọng của xí nghiệp phải giải quyết theo các hướng sau đây:

- Dự trữ vượt định mức ở xí nghiệp để dùng ở xí nghiệp

- Điều trả lại hệ thống cung ứng vật tư Nhà nước.

- Giao dịch với các cơ sở kinh tế quốc doanh trung ương, địa phương hoặc hợp tác xã để tiêu thụ.

- Chuyển cho các cơ sở nghiên cứu (để làm phương tiện nghiên cứu), các trường học (để làm phương tiện, đồ dùng học tập, xưởng trường), các bệnh viện (để nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh).

- Huỷ bỏ để thu hồi nguyên liệu, phụ tùng.

- v. v…

Kèm theo phương án xử lý thiết bị, vật tư ứ đọng, xí nghiệp phải xác định các phí tổn về tài chính của phương án xử lý,bao gồm: chi phí sữa chữa, chi phí vượt định mức do bảo quản lâu ngày gây ra, thiệt hại về giảm giá, thiệt hại về huỷ bỏ thiết bị, vật tư ứ đọng, v. v…

Điều 3. – Giám đốc xí nghiệp phải trực tiếp chỉ đạo phối hợp với các bộ phận kế hoạch, kỹ thuật, vật tư, tài vụ ở xí nghiệp để làm báo cáo và phương án xử lý thiết bị, vật tư ứ đọng như đã nói ở điều 1 và điều 2; chậm nhất đến ngày 30 tháng 6 năm 1973, phải làm xong và gửi cho các cơ quan sau đây:

- Bộ, Tổng cục chủ quản xí nghiệp.

- Ban chỉ đạo thanh lý tài sản của Chính phủ.

- Bộ vật tư

- Bộ Tài chính.

Nếu giám đốc xí nghiệp báo cáo không đầy đủ, đề nghị phương án xử lý không rõ ràng để thiệt hại thiết bị, vật tư của Nhà nước thì sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Nhà nước.

Điều 4. - Đối với các loại thiết bị, vật tư ứ đọng thuộc diện thống nhất quản của Nhà nước thì xử lý như sau:

a) Bộ Vật tư phải thu hồi về các kho các loại kim loại mầu, thép hợp kim, thép chế tạo quý, thiết bị còn tốt có thể đưa vào kế hoạch phân phối của Nhà nước.

b) Đối với các loại trên, nếu vì bất cứ lý do gì chưa thể thu hồi về kho. Bộ Vật tư vẫn phải tiến hành nhận bản giao, thanh toán tiền cho xí nghiệp và đài thọ cho xí nghiệp mọi phí tổn bảo quản cần thiết kể từ khi nhận bàn giao.

c) Trường hợp số lượng ứ đọng ít, hoặc xét thu hồi không có lợi, Bộ Vật tư có thể ra văn bản uỷ quyền xử lý cho Bộ, Tổng cục chủ quản xí nghiệp hoặc cho xí nghiệp.

d) Bộ Vật tư phải thi hành xong các khoản a, b, c trong điều 4 này, chậm nhất hai tháng sau khi nhận được báo cáo và phương án xử lý của xí nghiệp.

đ) Bộ, Tổng cục chủ quản xí nghiệp hoặc xí nghiệp, nếu được uỷ quyền, phải xử lý xong số thiết bị, vật tư ứ đọng thuộc diện thống nhất quản lý của Nhà nước, chậm nhất hai tháng sau khi nhận được văn bản ủy quyền của Bộ Vật tư.

Điều 5. - Đối với các loại thiết bị, vật tư ứ đọng không thuộc diện thống nhất quản lý của Nhà nước  thì chậm nhất hai tháng sau khi nhận được báo cáo và phương án xử lý của xí nghiệp, Bộ, Tổng cục chủ quản xí nghiệp phải ra văn bản duyệt phương án xử lý cho xí nghiệp. Trong đó ghi rõ:

- Các biện pháp xử lý (kèm theo danh mục, số lượng, giá trị thiết bị, vật tư ứ đọng theo từng biện pháp xử lý).

- Ước tính các phí tổn về tài chính để thực hiện các biện pháp xử lý.

Nếu xét cần thiết, Bộ, Tổng cục chủ quản xí nghiệp tham khảo ý kiến các cơ quan tổng hợp của Nhà nước có liên quan trước khi duyệt phương án xử lý: ngược lại các cơ quan tổng hợp của Nhà nước có liên quan, trước hết là Ban lãnh đạo thanh lý tài sản của Chính phủ và Bộ Tài chính, cần chủ động góp ý kiến trước khi Bộ, Tổng cục chủ quản xí nghiệp duyệt phương án xử lý cho xí nghiệp.

Bộ, Tổng cục chủ quản xí nghiệp phải gửi văn bản duyệt phương án xử lý đến Ban chỉ đạo thanh lý tài sản của Chính phủ và Bộ Tài chính để theo dõi.

Điều 6. – Căn cứ vào phương án xử lý đã được Bộ, Tổng cục chủ quản duyệt. Giám đốc xí nghiệp có trách nhiệm thi hành một cách khẩn trương, có quyền tổ chức giới thiệu hàng, giao dịch với khách hàng để tiêu thụ các loại thiết bị, vật tư ứ đọng.

Trường hợp cần giảm giá thiết bị, vật tư ứ đọng để tiêu thụ trong nội bộ khu vực kinh tế quốc doanh thì hai bên xí nghiệp mua và bán bàn bạc thỏa thuận với nhau và ghi vào hợp đồng theo nguyên tắc là: phải dựa vào giá chỉ đạo của Nhà nước, đồng thời tuỳ theo phẩm chất và giá trị sử dụng thực tế còn lại mà điều chỉnh giảm giá cho thích hợp.

Việc định giá bán thiết bị, vật tư ứ đọng cho khu vực kinh tế tập thể do Giám đốc xí nghiệp đề nghị và Bộ, Tổng cục chủ quản xí nghiệp quyết định; nếu khối lượng tiêu thụ không lớn thì Bộ, Tổng cục chủ quản có thể ra văn bản ủy quyền cho Giám đốc xí nghiệp định giá.

Điều 7. - Bộ Vật tư cũng như Bộ, Tổng cục chủ quản xí nghiệp phải làm đầy đủ trách nhiệm của mình trong phạm vi thời hạn đã nói ở các điều 4 và 5. Nếu để chậm Giám đốc xí nghiệp được quyền chủ động xử lý thiết bị, vật tư ứ đọng ở xí nghiệp theo đúng phương án xử lý của xí nghiệp đề nghị.

Điều 8. – Căn cứ trách nhiệm và quyền hạn đã nói ở các điều 3,4,5,6 và 7 trên đây, Thủ trưởng các Bộ, Tổng cục chủ quản xí nghiệp và Giám đốc xí nghiệp phải:

a) Trực tiếp xét và xử lý các thiết bị, vật tư ứ đọng ở xí nghiệp, không được ủy quyền cho cán bộ khác.

b) Ký quyết định xử lý các trường hợp phải giảm giá, cho không, hủy bỏ thiết bị, vật tư ứ đọng, quyết định xử lý được coi là chứng từ gốc của kế toán và phải gửi cho Bộ Tài chính một bản.

Điều 9. – Bộ, Tổng cục chủ quản xí nghiệp phải:

a) Xử lý xong các thiết bị, vật tư ứ đọng ở tất cả các xí nghiệp trong ngành trong quý III- 973.

b) Định rõ và chỉ đạo xí nghiệp thi hành các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa và khắc phục các nguyên nhân gây ra ứ đọng, chấm dứt tình trạng ứ đọng mới.

c) Trong quý IV-1973, làm xong và gửi cho Thủ tướng Chính phủ, Ban chỉ đạo thanh lý tài sản của Chính phủ, Bộ Tài chính báo cáo kết thúc đợt xử lý, nêu rõ các kết quả đạt được, những vấn đề cần giải quyết tiếp, tổng hợp toàn bộ số phí tổn về tài chính của Bộ, Tổng cục trong đợt xử lý.

d) Trực tiếp làm việc và giải quyết với Bộ Tài chính các phí tổn về tài chính.

Điều 10. - Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Vật tư, Ngân  hàng Nhà nước phải theo sát tình hình xử lý thiết bị, vật tư ứ đọng ở các xí nghiệp và ở các ngành. Phải nêu cao tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa, kịp thời và chủ động giải quyết mọi việc cần thiết trong phạm vi chức năng của mình để phục vụ, thúc đẩy và kiểm tra việc xử lý thiết bị, vật tư ứ đọng ở các xí nghiệp và ở các ngành.

Điều 11. – Ban chỉ đạo thanh lý tài sản của Chính phủ phải tăng cường hoạt động, giúp Chính phủ chỉ đạo thi hành quyết định này. Phải định chế độ báo cáo cho các ngành và các xí nghiệp, kịp thời nắm tình hình, phát hiện vấn đề để chủ động giải quyết, phải đôn đốc, kiểm tra các ngành và các xí nghiệp thi hành quyết định này.

Điều 12. – Căn cứ vào quyết định này, Ủy ban hành chính các tỉnh, thành phố có trách nhiệm hướng dẫn việc xử lý thiết bị, vật tư ứ đọng ở các xí nghiệp địa phương.

 

 

T.M. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
K.T. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG





Lê Thanh Nghị

 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 77-CP

Loại văn bảnThông tư
Số hiệu77-CP
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành18/04/1973
Ngày hiệu lực03/05/1973
Ngày công báo30/04/1973
Số công báoSố 6
Lĩnh vựcDoanh nghiệp, Kế toán - Kiểm toán
Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
Cập nhật11 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Lược đồ Thông tư 77-CP xử lý thiết bị vật tư ứ đọng xí nghiệp quốc doanh sau kiểm kê tài sản 01/01/1973


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Thông tư 77-CP xử lý thiết bị vật tư ứ đọng xí nghiệp quốc doanh sau kiểm kê tài sản 01/01/1973
                Loại văn bảnThông tư
                Số hiệu77-CP
                Cơ quan ban hànhHội đồng Chính phủ
                Người kýLê Thanh Nghị
                Ngày ban hành18/04/1973
                Ngày hiệu lực03/05/1973
                Ngày công báo30/04/1973
                Số công báoSố 6
                Lĩnh vựcDoanh nghiệp, Kế toán - Kiểm toán
                Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
                Cập nhật11 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản được dẫn chiếu

                    Văn bản hướng dẫn

                      Văn bản được hợp nhất

                        Văn bản được căn cứ

                          Văn bản hợp nhất

                            Văn bản gốc Thông tư 77-CP xử lý thiết bị vật tư ứ đọng xí nghiệp quốc doanh sau kiểm kê tài sản 01/01/1973

                            Lịch sử hiệu lực Thông tư 77-CP xử lý thiết bị vật tư ứ đọng xí nghiệp quốc doanh sau kiểm kê tài sản 01/01/1973

                            • 18/04/1973

                              Văn bản được ban hành

                              Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                            • 30/04/1973

                              Văn bản được đăng công báo

                              Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                            • 03/05/1973

                              Văn bản có hiệu lực

                              Trạng thái: Có hiệu lực