Thông tư liên tịch 82-LB/TT

Thông Tư Liên Bộ 82-LB/TT năm 1976 về việc chuyển mạng lưới nhà trẻ ngành giao thông vận tải cho Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em địa phương quản lý do Bộ Giao thông vận tải- Ủy ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em ban hành

Nội dung toàn văn Thông Tư Liên Bộ 82-LB/TT chuyển mạng lưới nhà trẻ ngành giao thông vận tải Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em địa phương quản lý


UỶ BAN BẢO VỆ BÀ MẸ VÀ TRẺ EM
BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 82-LB/TT

Hà Nội, ngày 28 tháng 04 năm 1976 

 

THÔNG TƯ LIÊN BỘ

VỀ VIỆC CHUYỂN MẠNG LƯỚI NHÀ TRẺ NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI CHO UỶ BAN BẢO VỆ BÀ MẸ VÀ TRẺ EM ĐỊA PHƯƠNG QUẢN LÝ

Từ khi Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương chịu trách nhiệm trước Hội đồng Chính phủ về công tác bảo vệ bà mẹ và trẻ em đã tiếp tục tạo điều kiện cho mạng lưới nhà trẻ ngành giao thông vận tải hoạt động tiến lên một bước.

Sau bốn năm  không ngừng phát triển và củng cố, công tác nhà trẻ trong ngành giao thông vận tải đã phát huy tác dụng giúp cho đội ngũ nữ công nhân, viên chức trong ngành an tâm lao động, sản xuất góp phần hoàn thiện nhiệm vụ của ngành trong những năm chiến tranh và hoà bình.

Đến nay, đất nước ta đã hoàn toàn độc lập và thống nhất. Hoàn cảnh hoà bình đòi hỏi các ngành, các cấp phải quan tâm đến việc phát triển và củng cố mạng lưới nhà trẻ, chú trọng tạo điều kiện tốt cho việc nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ hơn nữa mới phục vụ kịp thời cho yêu cầu lao động, sản xuất trong ngành.

Thực tế 3 năm qua, Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương phân cấp cho địa phương quản lý mạng lưới nhà trẻ của các Bộ, ngành trung ương nằm trên lãnh thổ đã có những tiến bộ mới.

Sự chỉ đạo tập trung về mặt chuyên môn nghiệp vụ của Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em các cấp có tác động rõ rệt đến chất lượng nhà trẻ và đỡ cồng kềnh về tổ chức cho các Bộ, ngành ở trung ương.

Căn cứ vào kinh nghiệm rút ra các năm trước và dựa theo nguyên tắc kết hợp quản lý, theo ngành với quản lý theo lãnh thổ; sau khi bàn bạc thống nhất với giữa Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương với Bộ Giao thông vận tải về chủ trương, kế hoạch chuyển mạng lưới nhà trẻ ngành giao thông  vận tải cho Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em địa phương quản lý, hai ngành thống nhất quy định môt số điểm như sau.

I. TRÁCH NHIỆM CỦA HAI NGÀNH ĐỐI VỚI NHÀ TRẺ

 Căn cứ vào điều lệ tổ chức của Hội đồng Chính phủ ngày 1-11-1973 quy định nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ... thực hiện Nghị định số 24-CP ngày 2-2-1976 của Hội đồng Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền Nhà nước cấp tỉnh trong lĩnh vực kinh tế và Thông tư số 100-BT ngày 27-11-1971 của Phủ Thủ tướng hướng dẫn cụ thể về tổ chức và biên chế của hệ thống tổ chức bảo vệ bà mẹ và trẻ em ở địa phương.

A. Trách nhiệm của Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em các cấp.

1. Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương giao cho Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em các tỉnh, thành phố tiếp nhận và quản lý về mặt chuyên môn, nghiệp vụ mạng lưới nhà trẻ thuộc ngành giao thông  vận tải đóng trên địa phương.

2. Tuỳ theo tình hình cụ thể, Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em tỉnh, thành phố có thể phân cấp cho phòng bảo vệ bà mẹ và trẻ em khu phố,huyện, thị xã, khu phố đó.

3. Nội dung quản lý:

a) Chỉ đạo kế hoạch phát triển và củng cố nhà trẻ ngành giao thông  vận tải hàng năm theo kế hoạch thống nhất của địa phương. Tham gia với đơn vị chủ quản duyệt thiết kế thiết kê xây dựng nhà trẻ mới và đề nghị  với Ủy ban hành chính địa phương hỗ trợ cho việc xây dựng nhà trẻ đồng thời thống nhất kế hoạch xây dựng nhà trẻ ngành giao thông  vận tải cũng như nhà trẻ các Bộ, ngành khác vào kế hoạch xây dựng nhà trẻ chung của địa phương, với nhà trẻ đã có thì bổ sung trang bị bằng kinh phí trợ cấp nhà trẻ hoặc trang bị vật tư nếu có.

b) Đôn đốc thực hiện điều lệ, nội quy nhà trẻ.

c) Hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc việc nuôi dạy  trẻ trong nhà trẻ, giải quyết việc cung cấp thực phẩm theo chế độ hiện hành như các nhà trẻ của địa phươn.

d) Quản lý đội ngũ cô nuôi dạy trẻ về mặt chuyên môn, quy định chỉ tiêu lao động  và quỹ lương. Hướng dẫn tiêu chuẩn tuyển chọn cô, cũng như các tiêu chuẩn khác đã quy định trong Thông tư số 44-UB/CBĐT ngày 23-11-1972 của Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương, chăm lo đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ. Thực hiện các chế độ, chính sách đối với cô nuôi dạy trẻ và nhà trẻ.

B. Trách nhiệm các cấp trong ngành giao thông  vận tải.

Mạng lưới nhà trẻ ngành giao thông  vận tải chuyển sang Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em địa phương quản lý về chuyên môn nghiệp vụ, song ngành giao thông  vận tải vẫn có trách nhiệm đối với các cháu trong ngành theo Nghị định số 140-CP ngày 15-7-1971 của Hội đồng Chính phủ. Do đó, Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm chỉ đạo các cục, tổng cục, xí nghiệp liên hợp và đơn vị trực thuộc thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

1. Nghiên cứu phát triển nhà trẻ phù hợp với kế hoạch phát triển sản xuất;

2. Khi xây dựng xí nghiệp, cơ quan; công trường mới phải xây dựng nhà trẻ kèm theo kể cả trang bị ban đầu đầy đủ;

3.Trích kinh phí Nhà nước và quỹ phúc lợi hàng năm xây dựng, sửa chữa lớn; nhỏ hoặc bổ sung trang bị cho nhà trẻ;

4. Phối hợp theo dõi, đôn đốc thủ trưởng các đơn vị của cục, tổng cục, xí nghiệp liên hợp thực hiện các chủ trương, biện pháp của Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em địa phương hướng dẫn.

Quan hệ chặt chẽ với Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em địa phương nhằm tăng cường chỉ đạo công tác nhà trẻ của các đơn vị ở tại địa phương.

Bộ chủ trương bố trí thích đáng số cán bộ chuyên trách theo dõi công tác nhà trẻ ở Bộ; tổng cục, cục và xí nghiệp liên hợp. Các cục, tổng cục, xí nghiệp liên hợp và các đơn vị trực thuộc Bộ có trách nhiệm thống kê báo cáo công tác nhà trẻ lên Bộ 3 tháng một lần.

C. Trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị.

Thủ trưởng các xí nghiệp, công trường, cơ quan, trường học có trách nhiệm như cũ, cụ thể là chỉ đạo công tác nhà trẻ và chấp hành các chế độ, chính sách về công tác nhà trẻ trong đơn vị theo Nghị quyết số 140-CP ngày 15-7-1971 của Thường vụ Hội đồng Chính phủ quy định và sự hướng dẫn của Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em các cấp;

1. Thống nhất với Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em tỉnh, thành phố (hoặc phòng bảo vệ bà mẹ và trẻ em huyện, thị, khu phố) về kế hoạch xây dựng, củng cố nhà trẻ và chỉ tiêu tuyển dụng cô nuôi dạy trẻ hàng năm.

Trực tiếp chịu trách nhiệm xây dựng nhà trẻ mới, mở rộng sửa chữa lớn nhỏ, trang bị nhà trẻ hiện có.

2. Quản lý đội ngũ cô nuôi dạy trẻ về mặt chính trị tư tưởng, công tác và phối hợp với Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em địa phương trong việc thực hiện chế độ, chính sách với cô nuôi dạy trẻ như nâng bậc, phụ cấp khó khăn gia đình, v.v...

3. Dự trù, thành quyết toán kinh phí nhà trẻ theo chế độ hiện hành với Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em địa phương (Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em địa phương có trách nhiệm cấp phát quỹ nhà trẻ).

4. Chỉ đạo các bộ môn nghiệp vụ trong đơn vị (y tế, quản trị, đời sống, kế hoạch, tài vụ, vật tư, v.v...) phục vụ cho yêu cầu phát triển và củng cố nhà trẻ, chăm sóc sức khoẻ cho các cháu theo Chỉ thị số 21-BYT/CT ngày 8-8-1969 của Bộ Y tế.

Nhà trẻ có trên 50 cháu được bố trí thêm một cô chuyên trách theo Thông tư số 18-TT/LB ngày 18-10-1961 của liên Bộ Lao động- Nội vụ, cô chuyên trách có trách nhiệm phụ trách chung nhà trẻ trong đơn vị vừa làm tham mưu cho Thủ trưởng, cho Ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em cơ sở, vừa là cán bộ trực thuộc ngành bà mẹ và trẻ em.

II. TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG ĐOÀN CÁC CẤP TRONG NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI

 Mạng lưới nhà trẻ ngành giao thông  vận tải chuyển sang Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em địa phương quản lý về mặt chuyên môn nghiệp vụ và kinh phí. Nhưng về cơ sở vật chất và trực tiếp quản lý đội ngũ cô nuôi dạy trẻ về những mặt đã quy định ở trên, v.v... vẫn do ngành giao thông  vận tải phụ trách. Vì vậy, công đoàn các cấp trong ngành giao thông  vận tải có trách nhiệm tham gia ý kiến với Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em các cấp về kế hoạch phát triển, củng cố nhà trẻ. Giám sát việc thi hành đúng đắn các chế độ, chính sách về nhà trẻ đồng thời vận động quần chúng ở cơ sở tham gia xây dựng nhà trẻ.

III. THỜI GIAN TIẾN HÀNH VÀ MỘT SỐ QUY ĐỊNH KHÁC

A. Bắt đầu từ ngày 1 tháng 7 năm 1976, Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em các tỉnh, thành phố quản lý trực tiếp về mặt chuyên môn; nghiệp vụ mạng lưới nhà trẻ ngành giao thông  vận tải như quy định ở phần A, mục I.

B. Việc cấp phát kinh phí nhà trẻ, lương cô và các khoản phụ cấp khác và trợ cấp 5 đồng sẽ do Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em các tỉnh, thành phố hoặc phòng bảo vệ bà mẹ và trẻ em địa phương cấp theo chế độ hiện hành bắt đầu tư ngày  tiếp nhận (ngày 1-7-1976) theo sự hướng dẫn của phòng tài vụ. Riêng một số nhà trẻ mang tính chất đặc biệt dưới đây thì các giải quyết như sau:

1. Ban 64 đóng ở Hà Nội có 4 nhóm trẻ của các đơn vị ở Hà- Sơn- Bình và 2 nhóm ở xã, sẽ do Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em Hà- Sơn- Bình cấp thẳng kinh phí cho Ban 64 và quản lý về chuyên môn.

2. Các đơn vị có một vài nhóm trẻ đóng ở địa phương khác thì Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em nơi đơn vị chủ quản đóng sẽ cấp cả kinh phí cho các nhóm trẻ theo dự toán chung  của đơn vị chủ quản. Nếu cùng một đơn vị nhưng số nhà, nhóm trẻ nhiều và đóng ở hai địa phương số lượng gần bằng nhau thì số nhà, nhóm trẻ ở địa phương nào thì sẽ do Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em địa phương đó cấp kinh phí và quản lý về chuyên môn. Đơn vị có nhà, nhóm trẻ lẻ phải cử đại diện đến Uỷ ban hoặc phòng bảo vệ bà  mẹ và trẻ em địa phương dự toán; và nhận kinh phí chi và thanh quyết toán đúng chế độ quản lý tài chính hiện hành.

3. Do tính chất thường xuyên lưu động coónhiều khó khăn nên các địa phương cần quan tâm giúp đỡ cho các loại nhà, nhóm trẻ này về mặt cấp phát kinh phí khi đơn vị hoặc nhà, nhóm trẻ phải báo cáo với Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em địa phương cũ biết và thanh toán kinh phí đã được cấp, cắt kinh phí tháng sau, mặt khác phải báo cáo và lập dự toán với Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em nơi mới đến để cấp kinh phí và tiếp tục quản lý. Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em trực tiê1p quản lý nhà trẻ nhà trẻ cấp giấy giới thiệu sang địa phương  mới ghi rõ đã cấp  kinh phí đến tháng nào để địa phương mới ghi rõ đã cấp kinh phí đến tháng nào để địa phương mới cấp phát tiếp.

4. Trường hợp đột xuất, đơn vị điều động một bộ phận nữ công nhân đi làm phải có nhóm trẻ phục vụ theo thì Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em nơi cấp kinh phí cũ có thể uỷ quyền cho thủ trưởng đơn vị tạm thời thành lập nhóm trẻ phục vụ cho kế hoạch đột xuất. Sau 15 ngày, đơn vị phải báo cáo cụ thể cho Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em biết kết quả để quản lý. Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em các địa phương phải giải quyết nhanh chóng việc cấp kinh phí cho các nhà, nhóm trẻ khi đủ thủ tục.

C. Để chuẩn bị tốt cho việc chuyển giao, tránh xáo trộn hoặc kéo dài thời gian quá độ làm ảnh hưởng đến công tác nhà trẻ, cần làm một số việc sau đây trong quý II-1976.

1. Các đơn vị trong ngành giao thông vận tải.

a) Hoàn thành việc tổng kết công tác nhà trẻ: tổ chức đại hội nhà trẻ tiên tiến, cô nuôi dạy trẻ giỏi và khen thưởng theo Thông tư số 427-DS ngày 12-10-1975 của Bộ Giao thông vận tải và Công đoàn giao thông vận tải Việt Nam, số 382- UB/TĐ ngày 2-6-1975 của Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương, đồng thời hoàn thành đăng ký phấn đấu xây dựng nhà trẻ tiên tiến tổ lao động xã hội chủ nghĩa.

b) Củng cố các mặt trong nhà trẻ; tiếp tục xây dựng, điều chỉnh mở rộng, tu sử nhà trẻ đảm bảo diện tích tối thiếu mỗi đầu cháu tối thiểu Thông tư liên Bộ Y tế - Tổng công đoàn số 85-TT ngày 7-12-1963.

c) Thống kê tài sản, vật tư và giá trị sử dụngcl trang bị vật tư trong nhà trẻ. Nơi nào thiếu thì có kế hoạch bổ sung đầy đủ.

d) Đối với cô nuôi dạy trẻ nói chung không xáo trộn. Nhưng các đơn vị cần chọn lọc, bổ sung số cô nuôi dạy trẻ đúng tiêu chuẩn chuyên môn và có sự thống nhất với Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em các cấp nhằm nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ.

e) Số cháu lứa tuổi từ 36 tháng đến 48 tháng đang ở trong nhà trẻ, nếu mẫu giáo chưa nhận thì có thể tạm thời để các cháu trong nhà trẻ. Đơn vị nào số cháu quá đông, từ 12 đến 15 cháu thì phải tổ chức riêng lớp mẫu giáo.

g) Trong tháng 5-1976, thủ trưởng các đơn vị có nhà trẻ, có trách nhiệm đến báo cáo cho Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em địa phương (tỉnh, thành phố hoặc huyện, thị, khu phố) về tình hình nhà trẻ của đơn vị và lập kế hoạch dự trù kinh phí 6 tháng cuối năm 1976 theo hướng dẫn của Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em địa phương (không được lấy kinh phí trong quỹ khác của đơn vị để chi cho nhà trẻ hoặc trả lương cô nuôi dạy trẻ). Chậm nhất là tháng 8-1976, các cục phải hoàn thành việc thanh quyết toán kinh phí nhà trẻ quý II-1976 cho Bộ Giao thông vận tải để Vụ tài vụ tổng hợp quyết toán với Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em và trẻ em trung ương trong tháng 9-1976.

h) Để cho việc phối hợp quản lý mạng lưới nhà trẻ cơ sở được tốt, Ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em các đơn vị cần được củng cố và  hoạt động tích cực.

2. Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em các tỉnh, thành phố  nhất là ở Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ Tĩnh, Vĩnh Phú, Hà Bắc, Bắc Thái,  Hà Sơn Bình ( nơi có nhiều nghiên cứu của ngành giao thông vận tải) cần có kế hoạch cụ thể cán bộ nắm tình hình mạng lưới nhà trẻ ngành giao thông vận tải đóng ở địa phương. Hướng dẫn, giúp đỡ các đơn vị đó trước khi chuyển giao chính thức để hạn chế những khó khăn sau khi tiếp nhận quản lý chuyên môn.

D. Từ ngày 1 tháng 7 năm 1976 hai ngành cùng quản quy định ở trên.

Trong khi thi hành thông tư này, thủ trưởng các cấp ở hai bên cần cẩn thận rõ ý nghĩa thuận lợi chỉ đạo làm cho công tác nhà trẻ được tốt hơn trước. Cần đề cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm của các cấp thủ trưởng và công đoàn trong ngành giao thông vận tải, đề phòng tư tưởng cục bộ, khoán trắng, buông lỏng chỉ đạo công tác. Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em các địa phương được phân cấp phải phân công ngay cán bộ để thực hiện tốt việc triển khai.

Để thực hiện tốt thông tư này, Bộ Giao thông vận tải và Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương giao cho Vụ lao động và tiền lương, Vụ cán bộ và đào tạo ; Ban đời sống, Cục quản lý nhà trẻ, Vụ tài vụ Bộ Giao thông vận tải  và Phòng tài vụ Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương theo dõi giúp đỡ các địa phương, các đơn vị thực hiện nhanh gọn thông tư này.

Trong quá trình thực hiện gặp khó khăn trở ngại gì, hai bên cần báo cáo về Bộ Giao thông vận tải và Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương biết và khi hoàn thành việc chuyển giao các tổng, cục, xí nghiệp liên hợp, đơn vị trực thuộc ngành giao thông vận tải và các Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em địa phương cần báo cáo lên cấp trên của mình để theo dõi.

 TM. BAN THƯỜNG VỤ

CÔNG ĐOÀN GIAO THÔNG VẬN TẢI VIỆT NAM

PHÓ THƯ KÝ

 

 

 

 

Phạm Lưu

KT. BỘ TRƯỞNG

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI

THỨ TRƯỞNG

 

 

 

 

Trịnh Ngọc Điệt

KT. CHỦ NHIỆM

UỶ BAN BẢO VỆ BÀ MẸ VÀ TRẺ EM

PHÓ CHỦ NHIỆM

 

 

 

 

Trần Thanh Quang

 

 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 82-LB/TT

Loại văn bảnThông tư liên tịch
Số hiệu82-LB/TT
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành28/04/1976
Ngày hiệu lực13/05/1976
Ngày công báo15/06/1976
Số công báoSố 10
Lĩnh vựcBộ máy hành chính, Văn hóa - Xã hội
Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
Cập nhật11 năm trước

Download Văn bản pháp luật 82-LB/TT

Lược đồ Thông Tư Liên Bộ 82-LB/TT chuyển mạng lưới nhà trẻ ngành giao thông vận tải Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em địa phương quản lý


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Thông Tư Liên Bộ 82-LB/TT chuyển mạng lưới nhà trẻ ngành giao thông vận tải Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em địa phương quản lý
                Loại văn bảnThông tư liên tịch
                Số hiệu82-LB/TT
                Cơ quan ban hànhBộ Giao thông vận tải, Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ trẻ em
                Người kýTrần Thanh Quang, Trịnh Ngọc Điệt
                Ngày ban hành28/04/1976
                Ngày hiệu lực13/05/1976
                Ngày công báo15/06/1976
                Số công báoSố 10
                Lĩnh vựcBộ máy hành chính, Văn hóa - Xã hội
                Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
                Cập nhật11 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản được căn cứ

                    Văn bản hợp nhất

                      Văn bản gốc Thông Tư Liên Bộ 82-LB/TT chuyển mạng lưới nhà trẻ ngành giao thông vận tải Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em địa phương quản lý

                      Lịch sử hiệu lực Thông Tư Liên Bộ 82-LB/TT chuyển mạng lưới nhà trẻ ngành giao thông vận tải Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em địa phương quản lý

                      • 28/04/1976

                        Văn bản được ban hành

                        Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                      • 15/06/1976

                        Văn bản được đăng công báo

                        Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                      • 13/05/1976

                        Văn bản có hiệu lực

                        Trạng thái: Có hiệu lực