Nghị quyết 79/2007/NQ-HĐND

Nghị quyết 79/2007/NQ-HĐND về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2008 do tỉnh Lâm Đồng ban hành

Nghị quyết 79/2007/NQ-HĐND phát triển kinh tế xã hội 2008 Lâm Đồng đã được thay thế bởi Quyết định 483/QĐ-UBND năm 2010 công bố danh mục văn bản hết hiệu lực Lâm Đồng và được áp dụng kể từ ngày 04/03/2010.

Nội dung toàn văn Nghị quyết 79/2007/NQ-HĐND phát triển kinh tế xã hội 2008 Lâm Đồng


HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
TỈNH LÂM Đ
ỒNG
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 79/2007/NQ-HĐND

Đà Lạt, ngày 05 tháng 12 năm 2007

 

NGHỊ QUYẾT

VỀ NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2008

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
KHÓA VII KỲ HỌP THỨ 10

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26/11/2003;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 03/12/2004;

Sau khi xem xét các báo cáo của UBND tỉnh về đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2007 và phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2008; báo cáo thẩm tra của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh và ý kiến của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Nhất trí tán thành báo cáo của UBND tỉnh Lâm Đồng về đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2007 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2008.

Với mục tiêu “Đoàn kết, đổi mới, đột phá, tăng tốc, đưa Lâm Đồng thoát khỏi tình trạng chậm phát triển”, chủ đề của năm 2008 được xác định là: "Tiếp tục cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, tập trung phát triển kinh tế - xã hội”.

I. Các chỉ tiêu cần đạt được trong năm 2008

1. Các chỉ tiêu về kinh tế:

- Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 14% - 14,5%; trong đó: ngành nông lâm nghiệp 9% - 10%, ngành công nghiệp - xây dựng 23% - 24%, ngành dịch vụ 21% - 22%.

- Cơ cấu kinh tế: ngành nông lâm thủy sản 48%, ngành công nghiệp - xây dựng 21% và ngành dịch vụ 31%.

- GDP bình quân đầu người 11,8 triệu đồng, tăng 20% (~ 728USD).

- Tổng kim ngạch xuất khẩu 235 triệu USD, tăng 20%.

- Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn 1.900 tỷ đồng, tăng 12,5%.

- Tổng chi ngân sách địa phương 2.875,258 tỷ đồng, tăng 11,4% (so dự toán năm 2007).

- Thu hút khoảng 2,5 triệu khách du lịch, tăng 6,4%.

- Tổng đầu tư xã hội 6.500 tỷ đồng, tăng 24,3%.

2. Các chỉ tiêu xã hội:

- Giải quyết việc làm 28.000 lao động, tăng 7,7%; trong đó xuất khẩu 400 lao động, tăng 60%.

- Giảm tỷ lệ sinh trong năm 0,6%o.

- Tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm 2008 còn dưới 13%, trong đó vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn dưới 37%.

- Phấn đấu đến cuối năm 2008 có 100% số huyện đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở.

- Tỷ lệ số hộ được nghe đài tiếng nói Việt Nam đạt 98%; tỷ lệ số hộ được xem đài truyền hình đạt 92%.

- Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng dưới 20%.

3. Các chỉ tiêu về môi trường:

- Tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 62%.

- Cung cấp nước sạch cho 61% - 65% dân số ở nông thôn; hoàn thành 3 nhà máy nước ở các trung tâm thị trấn.

- Số hộ được sử dụng điện ở nông thôn 80% - 85%.

II. Nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội

1. Chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ trọng tâm năm 2008

Tập trung chỉ đạo đẩy mạnh cải cách hành chính trên các mặt: kịp thời cụ thể hóa những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để bổ sung, xây dựng và hoàn chỉnh các cơ chế chính sách của tỉnh; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, tăng cường kiểm tra giải quyết những vướng mắc từ cơ sở và khắc phục những tồn tại. Đáp ứng mục tiêu cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh thu hút đầu tư, huy động mọi nguồn lực nhằm tạo bước đột phá, tăng tốc mới về phát triển kinh tế - xã hội.

Xác định năm lĩnh vực trọng tâm để tập trung chỉ đạo, đầu tư trong năm 2008 đó là:

- Phát triển mạnh công nghiệp với nhiều qui mô, ở mọi ngành, lĩnh vực; đặc biệt là hạ tầng các khu, cụm công nghiệp.

- Tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng chủ yếu như: điện, nước sinh hoạt, đường giao thông, thủy lợi, chợ nông thôn; đầu tư phát triển ngành y tế, giáo dục.

- Thực hiện tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cư, tái định canh gắn với tăng cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; tuyệt đối không để xảy ra điểm nóng, khiếu nại kéo dài.

- Đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo gắn với nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa.

- Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính gắn với sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính nhà nước, giải quyết nhanh các thủ tục để thu hút đầu tư

Tập trung phát triển các vùng kinh tế trọng điểm để tạo bước đột phá, làm tiền đề đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế trong năm 2008 và những năm tiếp theo. Cùng với thành phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc và huyện Đức Trọng, bổ sung huyện Bảo Lâm là địa bàn trọng điểm để tập trung chỉ đạo phát triển công nghiệp, phát triển đô thị gắn với phát triển dịch vụ để tạo bước chuyển dịch kinh tế ổn định, bền vững. Xác định thêm dự án Khu du lịch hồ Đại Ninh là dự án trọng điểm để tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện.

Từng ngành, từng địa phương rà soát các lĩnh vực, địa bàn đột phá để kịp thời có các giải pháp thực hiện cụ thể, phù hợp.

2. Phát triển kinh tế

a) Lĩnh vực Nông lâm nghiệp và Nông thôn

- Tiếp tục chỉ đạo phát triển nông nghiệp công nghệ cao theo hướng đẩy mạnh thu hút đầu tư để tạo tiền đề và điều kiện giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống của nhân dân vùng nông thôn. Hình thành các vùng quy hoạch nông nghiệp công nghệ cao; có cơ chế hỗ trợ về giống, chuyển giao công nghệ cho nông dân phát triển trà ô long, rau, hoa chất lượng cao, thâm canh cây cà phê, dâu tằm; phát triển một số cây trồng mới như cao su, trồng rừng kinh tế; từng bước chuyển đổi cây ăn quả giá trị thu nhập thấp sang cây trồng khác. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, nhất là bò sữa, bò thịt chất lượng cao; từng bước thực hiện chăn nuôi tập trung theo quy hoạch; phát triển rộng rãi mô hình nuôi cá nước lạnh; chủ động phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi, trồng trọt ngay từ tháng đầu năm.

- Tăng cường quản lý nhà nước về giống cây trồng, vật nuôi và về sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; hạn chế tối đa việc sử dụng hóa chất trên sản phẩm quá mức quy định.

- Tiếp tục thực hiện xã hội hóa nghề rừng, khuyến khích, huy động các thành phần kinh tế tham gia việc trồng rừng kinh tế và quản lý, bảo vệ rừng; tiếp tục giao khoán quản lý bảo vệ rừng theo Quyết định 304. Thực hiện thí điểm giao rừng cho cộng đồng; thu hồi một phần diện tích rừng, đất rừng của lâm trường, Ban quản lý rừng để giao cho nhân dân. Tăng cường quản lý nhà nước, kiên quyết xử lý các trường hợp lấn chiếm đất rừng, phá rừng, gây cháy rừng.

- Chăm lo và tổ chức thực hiện tốt các chương trình, dự án đầu tư trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm và thực hiện có hiệu quả các chương trình đầu tư đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các địa bàn đặc biệt khó khăn; tập trung phát triển thủy lợi vừa và nhỏ, đồng thời triển khai có hiệu quả dự án đưa điện về vùng sâu, vùng xa.

b) Lĩnh vực công nghiệp

- Tiếp tục đẩy mạnh công tác xúc tiến, kêu gọi vốn đầu tư hạ tầng các khu, cụm, điểm công nghiệp. UBND cấp huyện chủ động mời gọi đầu tư vào khu, cụm công nghiệp tại địa phương.

- Phát triển công nghiệp chế biến nông lâm sản, chế biến khoáng sản, phát triển làng nghề gắn với vùng nguyên liệu.

- Tạo điều kiện thuận lợi đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình thủy điện lớn; chú trọng phát triển các công trình thủy điện vừa và nhỏ theo quy hoạch.

- Tích cực hỗ trợ nhà đầu tư về công tác bồi thường, giải tỏa, chuẩn bị đầu tư để khởi công xây dựng 2 dự án lớn: khai thác bauxít - sản xuất alumin ở Bảo Lâm và sản xuất hydroxyt nhôm, oxyt nhôm ở Bảo Lộc.

- Tiếp tục khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nhiều quy mô trong tất cả các lĩnh vực; trong đó ưu tiên cho đầu tư công nghiệp chế biến các sản phẩm có ưu thế tại địa phương.

c) Lĩnh vực dịch vụ, du lịch

- Đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án du lịch - dịch vụ; đầu tư mới, đầu tư mở rộng và nâng chất lượng các khu vui chơi giải trí, nâng cao chất lượng và có thêm sản phẩm mới phục vụ du khách. Đa dạng hóa các sản phẩm về du lịch - dịch vụ để thu hút, tăng ngày lưu giữ khách; giữ gìn và tôn tạo các khu di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh.

- Tiếp tục đầu tư phát triển hạ tầng du lịch, dịch vụ. Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng Khu du lịch Đan Kia - Suối Vàng, Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm, Khu du lịch Hồ Đại Ninh, Đạ Ròn, các dự án đầu tư xây dựng sân golf và các dự án quan trọng khác.

- Tăng cường quản lý nhà nước về du lịch, dịch vụ; quảng bá xúc tiến du lịch và thương mại trong và ngoài nước trước hết là các nước Asean, Châu á.

- Năm 2008 sớm đưa Siêu thị Phan Đình Phùng, Trung tâm Thương mại Phan Chu Trinh, Chợ Bảo Lộc, Chợ đầu mối Đức Trọng, Chợ Di Linh... đi vào hoạt động; tạo điều kiện để tiếp tục phát triển các siêu thị, các nhà hàng cao cấp, khu vui chơi giải trí.

- Xây dựng đề án phát triển chợ nông thôn, kêu gọi các thành phần kinh tế đầu tư phát triển chợ gắn với cơ chế Nhà nước hỗ trợ đầu tư về hạ tầng chợ một cách phù hợp.

d) Lĩnh vực quy hoạch và xây dựng cơ bản

- Rà soát các quy hoạch, để đẩy nhanh tiến độ triển khai, kiên quyết hủy bỏ các quy hoạch không có điều kiện thực hiện; không để quy hoạch treo, dự án treo. Tất cả các quy hoạch, nếu chưa có quyết định thu hồi đất thì phải tiếp tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân sửa chữa nhà ở. Rà soát quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, quy hoạch ngành và quy hoạch ở các địa phương, nhất là ở các địa bàn trọng điểm. Đẩy nhanh tiến độ lập quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2.000 ở thành phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc, huyện Đức Trọng và các khu đô thị mới ở các địa phương.

- Xây dựng đề án phát triển giao thông nông thôn; đẩy mạnh thi công các công trình xây dựng cơ bản, đường giao thông nông thôn trong mùa khô để tạo điều kiện cải thiện đời sống và sản xuất của nhân dân, thay đổi cơ bản bộ mặt giao thông nông thôn.

- Tập trung chỉ đạo phát triển mạnh các khu đô thị mới, khu dân cư tại Đà Lạt, Bảo Lộc, Đức Trọng và các huyện theo hướng nhà đầu tư ứng tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng từ 300 - 500 triệu đồng/ha, dành 20% quỹ đất ở trong dự án để tỉnh bố trí tái định cư cho các dự án khác; đối với dự án khu dân cư, nhà đầu tư chịu trách nhiệm bố trí tái định cư cho số dân cư trong dự án. Tiếp tục thực hiện đề án sử dụng hợp lý quỹ biệt thự tại Đà Lạt theo hướng nhà đầu tư chịu kinh phí bồi thường, giải tỏa, tái định cư; thực hiện cho thuê biệt thự, đồng thời làm tốt việc xây dựng chung cư, cho các hộ bị giải tỏa thuê nhà ở.

- Chỉ đạo quyết liệt để hoàn thành các công trình trọng điểm như đường 723, đường cao tốc Liên Khương - Prenn... Tiếp tục cùng nhà đầu tư làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư để sớm khởi công đường cao tốc Dầu Giây - Liên Khương.

- Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách Nhà nước năm 2008 do địa phương quản lý trước mắt xác định 983,729 tỷ đồng, gồm:

+ Vốn cân đối địa phương: 486,840 tỷ đồng;

+ Vốn nước ngoài: 20,000 tỷ đồng;

+ Vốn bổ sung có mục tiêu: 230,140 tỷ đồng;

+ Chương trình mục tiêu quốc gia: 48,930 tỷ đồng;

+ Nguồn vốn xổ số kiến thiết: 130,000 tỷ đồng;

+ Các nguồn khác: 67,819 tỷ đồng.

Bố trí vốn theo hướng ưu tiên xử lý nợ còn tồn đọng của các năm trước; hoàn trả nợ Kho bạc và một số địa phương; đối ứng các dự án ODA, hoàn thành các công trình chuyển tiếp; những dự án bức xúc có liên quan đến đời sống và sản xuất của nhân dân, đầu tư các công trình thủy lợi, giao thông, trường học, bệnh viện.

Tập trung chỉ đạo ngay từ đầu năm công tác chuẩn bị đầu tư, thi công công trình; kịp thời giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện. Cương quyết không cho khởi công đối với dự án hoặc hạng mục công trình chưa thực hiện xong công tác giải phóng mặt bằng. Những dự án đến 30/6/2008 mà chưa khởi công thì cương quyết điều chuyển vốn. Thực hiện khen thưởng thỏa đáng các ngành, địa phương làm tốt; khắc phục tình trạng không giải ngân được vốn xây dựng cơ bản và xử lý nghiêm người đứng đầu ngành, địa phương không thực hiện được giải ngân vốn xây dựng cơ bản. Chú trọng công tác quản lý chất lượng công trình, dự án, chuẩn bị tốt danh mục các dự án đầu tư cho năm 2009.

- Bên cạnh nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản do địa phương quản lý nêu trên, trong năm cố gắng tạo các nguồn vốn khác như đề nghị Trung ương hỗ trợ vốn trái phiếu Chính phủ, tạm ứng vốn kho bạc nhà nước, tạm ứng nguồn ứng trước của các doanh nghiệp, đấu thầu có điều kiện..., để đảm bảo tổng nguồn vốn xây dựng cơ bản được khoảng 1.100 - 1.200 tỷ đồng.

3. Về thu hút đầu tư

- Đẩy mạnh hợp tác phát triển kinh tế - xã hội với thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội và tỉnh Đồng Nai; Mở rộng giao lưu quan hệ với các tỉnh trong trục phát triển du lịch.

- Rà soát, điều chỉnh chính sách thu hút đầu tư phù hợp với quy định của Trung ương và tình hình thực tế tại địa phương, xác định cụ thể các ưu đãi cho từng chương trình, từng khu quy hoạch để tiến hành kêu gọi đầu tư theo hướng áp dụng các quy định ưu đãi của Trung ương ở mức cao nhất gắn với một số ưu đãi khác của tỉnh.

- Tập trung giải quyết nhanh các thủ tục từ cấp giấy chứng nhận đầu tư cho tới kiểm kê rừng, bồi thường giải phóng mặt bằng, quy hoạch chi tiết, giao đất, cho thuê đất, thẩm định thiết kế cơ sở, cấp giấy phép xây dựng, thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường ... trên cơ sở xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, cán bộ công chức nhà nước, đổi mới tư duy, phong cách, thái độ làm việc, tăng cường hướng dẫn, giúp đỡ nhà đầu tư, việc nào nhà đầu tư gặp khó khăn, không tự giải quyết được thì cơ quan, cán bộ công chức Nhà nước phải làm nhằm tạo điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp, nhà đầu tư; chấm dứt tình trạng gây khó, nhũng nhiễu đối với nhà đầu tư; xử lý nghiêm khắc tổ chức, cá nhân vi phạm.

- Thu hút đầu tư có chọn lọc; rà soát lại toàn bộ các dự án đã có chủ trương, thỏa thuận đầu tư của những năm trước để có biện pháp tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn cho nhà đầu tư nhằm thực hiện đúng tiến độ; đồng thời kiên quyết thu hồi những dự án chậm, không triển khai đúng cam kết.

4. Điều hành ngân sách

Rà soát tất cả các nguồn thu, các cơ sở sản xuất kinh doanh để lập kế hoạch thu ngân sách đúng với thực tế và phù hợp với khả năng, quy mô của nền kinh tế. Thu đủ các khoản thu, nuôi dưỡng các nguồn thu; xây dựng lộ trình cụ thể thu ngân sách từng tháng, quý. Tiếp tục phân cấp mạnh về thu thuế trên địa bàn cho cấp huyện, thực hiện cơ chế khen thưởng, khuyến khích thỏa đáng đối với những địa phương tăng thu, vượt thu để tạo nguồn chi đầu tư phát triển.

Tăng cường công tác quản lý, điều hành chi ngân sách, hạn chế việc giải quyết các khoản chi ngoài kế hoạch. Chú trọng chi cho đầu tư phát triển, đảm bảo nguồn chi thường xuyên, bố trí dự phòng ngân sách hợp lý để kịp thời ứng phó, khắc phục thiên tai, dịch bệnh, chi cho những nhiệm vụ phát sinh đột xuất.

5. Củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Tiếp tục rà soát năng lực sản xuất của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, tạo điều kiện, khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, đổi mới thiết bị, công nghệ, tăng năng suất và hạ giá thành sản phẩm tăng sức cạnh tranh. Thực hiện lộ trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo phương án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trong năm 2008 hoàn thành việc chuyển các lâm trường sang các công ty TNHH một thành viên, Cổ phần hóa công ty Dịch vụ nông nghiệp và một số đơn vị trực thuộc Công ty cấp thoát nước, Công ty Quản lý Công trình đô thị Đà Lạt và Công ty Quản lý đô thị Bảo Lộc. Nâng cao hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh, khả năng hội nhập của các doanh nghiệp sau khi sắp xếp và cổ phần hóa.

Tiếp tục phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ theo Quyết định 236/2006/QĐ-TTg ngày 23/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ và chương trình hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hiệp định đã ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Đan Mạch; phấn đấu đến cuối năm 2008 tỉnh Lâm Đồng có trên 2.500 doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Thường xuyên tổ chức, tiếp xúc, làm việc trực tiếp với các doanh nghiệp để tăng cường sự hiểu biết, tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp.

6. Về công tác bồi thường, giải tỏa, tái định cư, tái định canh

- Thực hiện công khai, dân chủ về dự án đầu tư, về phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư, tái định canh; về quy trình thu hồi đất, về chính sách chế độ, về giá đền bù và mức bồi thường cụ thể cho từng hộ gia đình, cá nhân.

- Tạo điều kiện về kinh phí để UBND cấp huyện xây dựng các khu tái định cư, các chung cư để tái định cư các hộ bị giải tỏa, các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước. Đối với các chủ đầu tư dự án ngoài ngân sách Nhà nước phải chủ động phối hợp với UBND cấp huyện để xây dựng các khu tái định cư, bố trí tái định canh; cố gắng đảm bảo các khu tái định cư, tái định canh đi trước một bước so với dự án đầu tư.

- Tăng cường đối thoại với nhân dân, đặc biệt các hộ có khiếu nại để kịp thời sửa chữa sai sót, đồng thời để tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành chủ trương bồi thường, giải tỏa.

- Về giá bồi thường, nếu không sát với thực tế, phải kịp thời cập nhật, điều chỉnh bổ sung cho phù hợp.

- Đối với các trường hợp đã thực hiện đúng các quy định mà cố tình chống đối, không hợp tác, đã vận động, thuyết phục nhiều lần vẫn không chấp hành thì cương quyết cưỡng chế.

- Thực hiện sơ kết rút kinh nghiệm; điều chỉnh, sửa đổi kịp thời các qui định về bồi thường, giải tỏa, tái định cư, tái định canh phù hợp với các chủ trương của Chính phủ và sát tình hình thực tiễn. Thực hiện phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành với các địa phương; giữa các cấp chính quyền, cơ quan chuyên môn với Mặt trận, các đoàn thể.

7. Về lĩnh vực văn hóa xã hội

Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa theo tinh thần Nghị quyết 05 của Chính phủ và chủ trương của tỉnh, khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế văn hóa, thể dục thể thao và lao động. Vấn đề gì, lĩnh vực nào mà các thành phần kinh tế làm tốt, có chất lượng, có hiệu quả thì phải tạo điều kiện tối đa để phát triển. Tiếp tục chỉ đạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong các ngành thuộc lĩnh vực văn hóa, xã hội; đặc biệt là nâng chất lượng dạy và học, chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân. Tập trung đầu tư xây dựng trường lớp, nhất là hệ thống vệ sinh ở các điểm trường, xóa các phòng học ca ba, phòng học tạm, phòng học mượn; tiếp tục đầu tư nâng cấp, phát triển bệnh viện, trạm xá, các thiết chế văn hóa, thể dục thể thao.

Rà soát, bổ sung và hoàn chỉnh quy hoạch mạng lưới trường lớp, y tế và thiết chế văn hóa. Đẩy nhanh tiến độ quy hoạch, lập dự án đầu tư khu đô thị đại học, các trường đại học.

Hoàn thành công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở trên toàn tỉnh. Huy động trẻ đúng độ tuổi vào mẫu giáo 65%, vào tiểu học 100%. Tập trung xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia, phấn đấu năm 2008 có thêm 20 trường đạt chuẩn quốc gia.

Tiếp tục thực hiện tốt công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; nâng cao y đức trong đội ngũ cán bộ y tế, cải thiện chất lượng khám chữa bệnh các tuyến; củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở; phấn đấu đến cuối năm có ít nhất 90% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Triển khai việc xây dựng bệnh viện đa khoa, trung tâm y tế dự phòng cấp huyện theo đúng chỉ đạo của Chính phủ.

Tăng cường quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm; tích cực và chủ động trong công tác phòng chống dịch bệnh, kiên quyết không để xảy ra dịch lớn, đặc biệt là dịch cúm tuýp A (H­5N1), sốt rét, sốt xuất huyết, dịch tả...

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa; đưa công tác thông tin tuyên truyền về cơ sở, phát huy các truyền thống, giá trị văn hóa tốt đẹp của các dân tộc trong tỉnh; xóa bỏ mê tín dị đoan, hủ tục l¹c hậu, thực hiện nếp sống văn minh trong đời sống nói chung và trong cưới hỏi, ma chay.

Tổ chức thành công lễ hội trà và kỷ niệm 115 Đà Lạt hình thành và phát triển.

Phát triển phong trào toàn dân rèn luyện sức khỏe, đầu tư có hiệu quả cho thể thao thành tích cao gắn với phát triển thể thao phong trào.

Đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất, kinh doanh; đưa các đề tài, công trình nghiên cứu áp dụng vào thực tiễn.

Thực hiện mạnh mẽ và đồng bộ nhiều giải pháp để đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo. Tăng cường giải quyết việc làm, chú trọng đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, tỉnh ngoài. Đẩy nhanh tiến độ xóa nhà tạm cho người nghèo. Vận động khắc phục tư tưởng ỷ lại trong một bộ phận đồng bào nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số, gắn với tăng cường hỗ trợ một cách cụ thể, trực tiếp để nhân dân tự lực thoát nghèo và vươn lên làm giàu.

8. Công tác tổ chức bộ máy và cải cách hành chính

Tiếp tục xây dựng chính quyền các cấp vững mạnh; tăng cường chỉ đạo, giao nhiệm vụ, định hướng hoạt động, phát huy tính chủ động của chính quyền cơ sở; tạo sự phối hợp giữa các cấp chính quyền, đoàn thể chính trị xã hội để làm tốt công tác vận động nhân dân. Kiện toàn hệ thống các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và huyện theo hướng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, thu gọn đầu mối theo chỉ đạo của Chính phủ.

Tăng cường công tác cải cách hành chính; tiếp tục thực hiện và nâng cao chất lượng giải quyết các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, thực hiện đồng bộ cơ chế một cửa liên thông; phân cấp mạnh hơn cho các địa phương, sở, ngành, đặc biệt là trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, phê duyệt dự án đầu tư, phê duyệt phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng ...; rà soát điều chỉnh, bãi bỏ những thủ tục hành chính rườm rà, không hợp lý, gắn với rà soát sắp xếp lại tổ chức bộ máy cho phù hợp hơn với nhiệm vụ được giao; bố trí cán bộ có tinh thần trách nhiệm, có năng lực chuyên môn, có thái độ phục vụ cần mẫn để giải quyết các thủ tục cho tổ chức, công dân; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức. Tạo bước thay đổi căn bản trong tác phong, thái độ làm việc, tinh thần phục vụ của cán bộ, công chức hành chính các cấp; kiên quyết xử lý những cán bộ, công chức, kể cả cán bộ lãnh đạo các cấp thiếu tinh thần trách nhiệm, năng lực tổ chức thực hiện yếu kém, nhằm xây dựng bộ máy hành chính các cấp tinh gọn, hiệu quả, thực sự vì sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thực sự phục vụ doanh nghiệp và nhân dân.

9. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng

Tăng cường công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các cơ quan, tổ chức, các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp Nhà nước; gắn với phòng chống tham nhũng, kịp thời xử lý nghiêm các trường hợp cán bộ, công chức tham nhũng, lãng phí trong thực hiện nhiệm vụ.

10. Lĩnh vực quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội

Chỉ đạo điều hành đảm bảo về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân đề cao cảnh giác không để các tổ chức phản động lợi dụng phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; kiên quyết đấu tranh phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, thực hiện quyết liệt đồng bộ nhiều biện pháp để giảm thiểu tai nạn giao thông.

Tập trung giải quyết dứt điểm các vụ khiếu nại, tố cáo ngay từ nơi phát sinh để hạn chế việc tiếp tục khiếu nại, tố cáo lên cấp trên. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện phải chịu trách nhiệm chính về tình hình và kết quả giải quyết khiếu nại ở địa phương mình; địa phương nào không tập trung giải quyết khiếu nại hoặc giải quyết khiếu nại không đúng pháp luật dẫn đến khiếu nại vượt cấp, tạo điểm nóng về khiếu nại, thì phải bị xử lý nghiêm về trách nhiệm.

11. Công tác thi đua khen thưởng

Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong mọi cấp, mọi ngành, trong các tầng lớp nhân dân dân theo từng chủ đề, lĩnh vực phù hợp. Trong tổ chức thi đua, phải thực chất, có nội dung thi đua, có thang điểm cụ thể để làm cơ sở cho việc đánh giá phong trào. Định kỳ có tổ chức sơ kết, đánh giá cụ thể theo từng cụm, lĩnh vực thi đua để chọn ngọn cờ đầu nhằm tôn vinh, khen thưởng dưới nhiều hình thức, kể cả vật chất lẫn tinh thần, khen thưởng bằng công trình, dự án đối với những đơn vị, địa phương có thành tích nổi trội. Phong trào thi đua phải thực sự trở thành đòn bẩy động viên mọi cấp, mọi ngành, mọi người quyết tâm thực hiện hoàn thành nhiệm vụ của mình, góp phần thiết thực vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Điều 2. Hội đồng nhân dân tỉnh giao UBND tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức chỉ đạo, điều hành các sở, ngành, địa phương trong tỉnh thực hiện Nghị quyết này.

Hội đồng nhân dân tỉnh giao Thường trực HĐND tỉnh xem xét thống nhất với UBND tỉnh để giải quyết những vấn đề phát sinh, quyết định điều chỉnh, bổ sung những biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện Nghị quyết này và báo cáo HĐND tỉnh tại kỳ họp gần nhất.

Thường trực HĐND tỉnh, các Ban của HĐND tỉnh và các đại biểu HĐND tỉnh có trách nhiệm kiểm tra, giám sát, đồng thời gương mẫu chấp hành và vận động cán bộ, nhân dân thực hiện Nghị quyết của HĐND tỉnh.

Nghị quyết này đã được Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Lâm Đồng khoá VII kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 05 tháng 12 năm 2007./.

 

 

KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH




Hoàng Thị Thu Hồng

 

Đã xem:

Đánh giá:  
 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 79/2007/NQ-HĐND

Loại văn bảnNghị quyết
Số hiệu79/2007/NQ-HĐND
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành05/12/2007
Ngày hiệu lực15/12/2007
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcVăn hóa - Xã hội
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực 04/03/2010
Cập nhật3 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 79/2007/NQ-HĐND

Lược đồ Nghị quyết 79/2007/NQ-HĐND phát triển kinh tế xã hội 2008 Lâm Đồng


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Nghị quyết 79/2007/NQ-HĐND phát triển kinh tế xã hội 2008 Lâm Đồng
                Loại văn bảnNghị quyết
                Số hiệu79/2007/NQ-HĐND
                Cơ quan ban hànhTỉnh Lâm Đồng
                Người kýHoàng Thị Thu Hồng
                Ngày ban hành05/12/2007
                Ngày hiệu lực15/12/2007
                Ngày công báo...
                Số công báo
                Lĩnh vựcVăn hóa - Xã hội
                Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực 04/03/2010
                Cập nhật3 năm trước

                Văn bản hướng dẫn

                  Văn bản được hợp nhất

                    Văn bản gốc Nghị quyết 79/2007/NQ-HĐND phát triển kinh tế xã hội 2008 Lâm Đồng

                    Lịch sử hiệu lực Nghị quyết 79/2007/NQ-HĐND phát triển kinh tế xã hội 2008 Lâm Đồng