Quyết định 07/2008/QĐ-VKSTC

Quyết định 07/2008/QĐ-VKSTC về Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra vụ án hình sự do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành

Quyết định 07/2008/QĐ-VKSTC Quy chế công tác thực hành quyền công tố đã được thay thế bởi Quyết định 03/QĐ-VKSTC 2017 Quy chế tạm thời Công tác thực hành quyền công tố và được áp dụng kể từ ngày 02/01/2018.

Nội dung toàn văn Quyết định 07/2008/QĐ-VKSTC Quy chế công tác thực hành quyền công tố


VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TỐI CAO
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 07/2008/QĐ-VKSTC

Hà Nội, ngày 02 tháng 01 năm 2008

 

QUYẾT ĐỊNH

BAN HÀNH QUY CHẾ CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

- Căn cứ Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002;

- Căn cứ Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, Bộ luật Hình sự năm 1999 và các văn bản pháp luật hiện hành.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự.

Điều 2. Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự được thực hiện thống nhất trong toàn ngành Kiểm sát, có hiệu lực kể từ ngày ký quyết định ban hành.

Quy chế này thay thế Quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự, ban hành theo Quyết định số 120/QĐ-VKSTC ngày 14/9/2004 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Điều 3. Kèm theo Quy chế là 4 Phụ lục về việc Viện trưởng uỷ quyền cho các Kiểm sát viên là Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng, Trưởng phòng và Phó Trưởng phòng ký các văn bản tố tụng; mục lục và 137 mẫu văn bản tố tụng thực hiện trong giai đoạn thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra được đánh số thứ tự từ 01 đến 137.

Điều 4. Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Quyết định này.

 

 

VIỆN TRƯỞNG




Trần Quốc Vượng

 

QUY CHẾ

CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
(Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao)

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Giải thích từ ngữ

1.Viện kiểm sát nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Viện kiểm sát quân sự khu vực hoặc tương đương, gọi chung là Viện kiểm sát cấp huyện.

2. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Viện kiểm sát quân sự quân khu hoặc tương đương, gọi chung là Viện kiểm sát cấp tỉnh.

3. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên các cấp được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự, gọi chung là Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên.

4. Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng, Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng các đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự, gọi chung là Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra.

5. Kiểm sát viên giữ chức vụ Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng, Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng các đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự được Viện trưởng uỷ quyền ký các văn bản pháp lý trong hoạt động tố tụng hình sự, gọi chung là Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền.

Điều 2. Phạm vi công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự

Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự bắt đầu từ khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm xảy ra đến khi kết thúc việc điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định truy tố hoặc đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật.

Điều 3. Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm

1. Mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội;

2. Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật;

3. Việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra phải được phát hiện kịp thời; khắc phục và xử lý nghiêm minh;

4. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can phải có căn cứ và đúng pháp luật.

Điều 4. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự

1. Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn:

a) Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can;

b) Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra; khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật;

c) Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của pháp luật; nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự;

d) Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật. Trường hợp không phê chuẩn thì trong quyết định không phê chuẩn phải nêu rõ lý do;

đ) Huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can;

e) Quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

2. Khi thực hiện công tác kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn:

a) Kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra;

b) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng;

c) Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra;

d) Yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của Điều tra viên; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra;

đ) Kiến nghị với cơ quan, tổ chức và đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.

Điều 5. Trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên

1. Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi, quyết định của mình trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật.

2. Kiểm sát viên có trách nhiệm quản lý hồ sơ vụ án hình sự, hồ sơ kiểm sát điều tra vụ án được phân công thụ lý giải quyết và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Khi báo cáo đề xuất các vấn đề thuộc công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra với Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên phải báo cáo trung thực, chính xác, đầy đủ nội dung vụ việc, tiến độ giải quyết và đề xuất hướng xử lý bằng phiếu đề xuất.

3. Viện trưởng, Phó Viện trưởng được Viện trưởng uỷ quyền có trách nhiệm quản lý, chỉ đạo các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự; xem xét, quyết định các vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự theo các quy định của pháp luật và của Quy chế này.

Sau khi nghe Kiểm sát viên báo cáo đề xuất giải quyết vụ án, Viện trưởng, Phó Viện trưởng phải ghi rõ ý kiến chỉ đạo của mình vào phiếu đề xuất của Kiểm sát viên; nếu thấy cần thiết thì trực tiếp nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra chứng cứ trong hồ sơ vụ án hoặc trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật trước khi cho ý kiến chỉ đạo. Phiếu đề xuất phải ghi rõ ngày tháng năm, ký tên Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên và lưu trong hồ sơ kiểm sát điều tra vụ án (sau đây gọi tắt là hồ sơ kiểm sát).

Trong quá trình xem xét, giải quyết vụ án, nếu có ý kiến khác nhau giữa Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án với Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra hoặc giữa các đơn vị nghiệp vụ cùng cấp, thì Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra báo cáo Phó Viện trưởng xem xét, quyết định. Nếu có ý kiến khác nhau giữa Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra với Phó Viện trưởng thì Phó Viện trưởng báo cáo Viện trưởng xem xét, quyết định. Kết luận của Viện trưởng, Phó Viện trưởng được ghi vào báo cáo của đơn vị nghiệp vụ và lưu trong hồ sơ kiểm sát.

Đối với những vụ án nghiêm trọng, phức tạp, án trọng điểm, nếu thấy cần thiết, Viện trưởng có thể đưa ra tập thể Lãnh đạo Viện hoặc Uỷ ban kiểm sát thảo luận trước khi kết luận. Đối với những vụ việc Viện kiểm sát cấp dưới phải báo cáo thỉnh thị hoặc thấy cần thiết phải thỉnh thị Viện kiểm sát cấp trên thì báo cáo thỉnh thị của Viện kiểm sát cấp dưới và trả lời thỉnh thị của Viện kiểm sát cấp trên thực hiện theo quy định tại Điều 64 của Quy chế này.

4. Khi phát hiện có sai sót về nghiệp vụ hoặc vi phạm pháp luật cần khắc phục thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra phải có biện pháp khắc phục ngay và tổ chức kiểm điểm, rút kinh nghiệm, xử lý người để xảy ra oan, sai theo quy định của pháp luật.

Điều 6. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng

1. Viện trưởng có nhiệm vụ, quyền hạn:

a) Tổ chức và chỉ đạo các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự;

b) Phân công Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án;

b) Kiểm tra các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên;

c) Quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên;

d) Quyết định rút, đình chỉ hoặc huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Viện kiểm sát cấp dưới;

đ) Quyết định thay đổi Kiểm sát viên;

e) Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát.

Khi Viện trưởng vắng mặt, một Phó Viện trưởng được Viện trưởng uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng. Phó Viện trưởng chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về nhiệm vụ được giao và khi ký văn bản tố tụng được Viện trưởng uỷ nhiệm phải ghi là ký thay (viết tắt là KT.) Viện trưởng; cụ thể như sau:

 

KT. VIỆN TRƯỞNG
PHÓ VIỆN TRƯỞNG
Chữ ký
(Họ tên)

2. Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự, Viện trưởng có nhiệm vụ, quyền hạn:

a) Quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

b) Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên;

c) Quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn, quyết định gia hạn điều tra, quyết định gia hạn tạm giam; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can;

d) Quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra;

đ) Quyết định huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra;

e) Quyết định chuyển vụ án;

g) Quyết định việc truy tố, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định trưng cầu giám định;

h) Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án; quyết định phục hồi điều tra, quyết định xử lý vật chứng;

i) Cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa; ra các quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát.

Điều 7. Nhiệm vụ, quyền hạn của Phó Viện trưởng

Viện trưởng phân công Phó Viện trưởng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra vụ án hình sự. Việc phân công phải được thể hiện bằng văn bản.

Khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, Phó Viện trưởng có những nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại khoản 2 Điều 6 của Quy chế này; tuy nhiên, khi ký văn bản vẫn phải là ký thay; cụ thể như sau:

 

KT. VIỆN TRƯỞNG
PHÓ VIỆN TRƯỞNG
Chữ ký
(Họ tên)

Điều 8. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên

1. Việc phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với từng vụ án cụ thể phải thể hiện bằng văn bản; văn bản này phải lưu vào hồ sơ vụ án và hồ sơ kiểm sát.

Khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự Kiểm sát viên có nhiệm vụ, quyền hạn:

a) Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

b) Đề ra yêu cầu điều tra;

c) Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; đối chất, thực nghiệm điều tra;

d) Kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam (trừ những hoạt động thuộc thẩm quyền của công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam);

đ) Lập hồ sơ kiểm sát điều tra vụ án hình sự; báo cáo đề xuất với Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra, xem xét, quyết định đối với những vấn đề liên quan đến thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự thuộc thẩm quyền quyết định của những người này.

2. Thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo sự phân công của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra.

Điều 9. Thẩm quyền ký các văn bản tố tụng do Viện trưởng uỷ quyền

1. Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh uỷ quyền cho Kiểm sát viên Viện kiểm sát cấp tỉnh giữ chức vụ Trưởng phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự ký các văn bản pháp lý trong hoạt động tố tụng hình sự thuộc thẩm quyền tại Phụ lục A; uỷ quyền cho Kiểm sát viên Viện kiểm sát cấp tỉnh giữ chức vụ Phó Trưởng phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự ký các văn bản pháp lý trong hoạt động tố tụng hình sự thuộc thẩm quyền tại Phụ lục B kèm theo Quy chế này.

2. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao uỷ quyền cho Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao giữ chức vụ Vụ trưởng các Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự ký các văn bản pháp lý trong hoạt động tố tụng hình sự thuộc thẩm quyền tại Phụ lục C; uỷ quyền cho Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao giữ chức vụ Phó Vụ trưởng các vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự ký các văn bản pháp lý trong hoạt động tố tụng hình sự thuộc thẩm quyền tại Phụ lục D kèm theo Quy chế này.

3. Kiểm sát viên được uỷ quyền nêu tại khoản 1 và 2 Điều này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Viện trưởng cấp mình về việc ký các văn bản được uỷ quyền; khi ký văn bản tố tụng được uỷ quyền phải ghi là thừa uỷ quyền Viện trưởng (viết tắt là TUQ. Viện trưởng); cụ thể như sau:

 

TUQ. VIỆN TRƯỞNG
KIỂM SÁT VIÊN
Chữ ký
(Họ tên)

Các văn bản pháp lý trong hoạt động tố tụng hình sự do Kiểm sát viên được uỷ quyền ký phải được gửi cho Viện trưởng, Phó Viện trưởng phụ trách cùng cấp để theo dõi, chỉ đạo.

Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng yêu cầu Kiểm sát viên được uỷ quyền báo cáo nội dung vụ việc trước khi ký.

Chương II

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ, KHỞI TỐ BỊ CAN

Điều 10. Tiếp nhận, xử lý và kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

1. Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra phân công Kiểm sát viên tiếp nhận, quản lý đầy đủ tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan Nhà nước chuyển đến. Kiểm sát viên phải vào sổ thụ lý; ghi rõ ngày, tháng, năm tiếp nhận; nội dung tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tên, tuổi và địa chỉ của người hoặc cơ quan, tổ chức cung cấp; chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết.

2. Kiểm sát viên được phân công phải kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận và giải quyết của Cơ quan điều tra cùng cấp đối với các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Hàng tuần, Kiểm sát viên yêu cầu Cơ quan điều tra cùng cấp thông báo đầy đủ cho Viện kiểm sát các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố mà Cơ quan điều tra đã tiếp nhận được; đồng thời phối hợp để phân loại, xử lý kịp thời. Hàng tháng, Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp huyện, Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Cơ quan điều tra cùng cấp nắm số lượng, kết quả giải quyết các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã tiếp nhận; nếu phát hiện có tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố chưa được giải quyết theo thời hạn luật định thì yêu cầu Cơ quan điều tra nêu rõ lý do, hướng giải quyết và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 103 Bộ Luật Tố tụng Hình sự.

Điều 11. Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, việc thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự

1. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ khi nhận được quyết định khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra hoặc cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra cử Kiểm sát viên tiến hành kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án để xem xét, xử lý như sau:

a) Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án có căn cứ và hợp pháp thì ra quyết định phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án và thông báo bằng văn bản cho cơ quan đã khởi tố biết; nếu chưa rõ căn cứ thì yêu cầu cơ quan đã khởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ làm rõ căn cứ khởi tố.

b) Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án rõ ràng là không có căn cứ thì ra văn bản yêu cầu cơ quan đã khởi tố ra quyết định huỷ bỏ; nếu cơ quan đã khởi tố không nhất trí thì báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 109 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm 7.1 mục 7 Thông tư liên ngành số 05/2005/TTLN-VKSTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005.

2. Nếu thấy tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội hoặc còn có tội phạm khác chưa được khởi tố thì Kiểm sát viên thụ lý vụ án báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền yêu cầu cơ quan đã khởi tố ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu Cơ quan đã khởi tố không nhất trí thì báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi thay đổi hoặc bổ sung, Kiểm sát viên gửi các quyết định này cho cơ quan đã khởi tố để tiến hành điều tra theo quy định tại khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

3. Nếu thấy quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự của cơ quan đã ra quyết định không có căn cứ thì Kiểm sát viên thụ lý vụ án báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền yêu cầu cơ quan đó quyết định hoặc trực tiếp ra quyết định huỷ bỏ quyết định đó.

4. Đối với quyết định khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên thụ lý vụ án phải kiểm tra tính có căn cứ của quyết định khởi tố đó và báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền xử lý như sau:

a) Nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự có căn cứ thì chuyển quyết định khởi tố vụ án hình sự kèm theo các tài liệu có liên quan đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều tra;

b) Nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ thì kháng nghị lên Toà án cấp trên.

Điều 12. Kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự; giải quyết yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử

1. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ khi nhận được quyết định không khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu có liên quan của Cơ quan điều tra hoặc các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra phân công Kiểm sát viên kiểm tra, báo cáo tính có căn cứ và hợp pháp của các quyết định đó và xử lý như sau:

a) Nếu thấy quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan đã khởi tố có căn cứ thì thông báo cho các cơ quan đó biết; nếu chưa rõ căn cứ thì yêu cầu các cơ quan này bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ.

b) Nếu thấy quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra không có căn cứ thì yêu cầu Cơ quan điều tra huỷ bỏ và ra quyết định khởi tố vụ án; hoặc Kiểm sát viên báo cáo người có thẩm quyền ra quyết định huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án và ra quyết định khởi tố vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 109 Bộ luật Tố tụng Hình sự và gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.

c) Nếu thấy quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không có căn cứ thì Kiểm sát viên báo cáo người có thẩm quyền ra quyết định huỷ bỏ quyết định này và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; đồng thời, yêu cầu cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án chuyển toàn bộ tài liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều tra.

2. Khi nhận được yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên thụ lý vụ án tiến hành kiểm tra các tài liệu, chứng cứ và báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền để xử lý như sau:

a) Nếu thấy yêu cầu khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử có căn cứ thì ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và chuyển ngay quyết định đó kèm theo tài liệu có liên quan đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều tra;

b) Nếu thấy yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử không có căn cứ thì ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự và gửi quyết định đó cho Toà án nơi Hội đồng xét xử yêu cầu khởi tố.

Điều 13. Xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can

1. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra hoặc cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên thụ lý vụ án tiến hành kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố bị can để xử lý như sau:

a) Nếu thấy quyết định khởi tố bị can có căn cứ và hợp pháp thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền để quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và gửi ngay cho cơ quan đã khởi tố.

b) Nếu thấy chưa rõ căn cứ xác định bị can phạm tội thì Kiểm sát viên yêu cầu cơ quan đã khởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ làm rõ căn cứ khởi tố. Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án có thể hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại để làm rõ căn cứ khởi tố bị can trước khi báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền xem xét, quyết định việc phê chuẩn hay huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can. Biên bản ghi lời khai những người này do Kiểm sát viên lập được chuyển cho cơ quan đã khởi tố để đưa vào hồ sơ vụ án.

c) Nếu thấy ngoài bị can đã bị khởi tố còn có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố thì Kiểm sát viên thụ lý vụ án báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can đối với người đó; trong trường hợp sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra mà phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án mà chưa bị khởi tố thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng để xem xét, quyết định việc khởi tố bị can theo qui định tại khoản 5 Điều 126 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

d) Nếu hết thời hạn tạm giữ vẫn không đủ căn cứ phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với người đang bị tạm giữ thì Kiểm sát viên thụ lý vụ án báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can và yêu cầu cơ quan đã khởi tố bị can trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

2. Trong quá trình kiểm sát điều tra, nếu thấy hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố mà phạm vào tội khác hoặc còn có hành vi phạm tội khác với tội danh đã khởi tố thì Kiểm sát viên thụ lý vụ án báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can hoặc trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, theo quy định tại khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án kiểm tra tài liệu, chứng cứ, báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra quyết định phê chuẩn hoặc huỷ bỏ quyết định bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố bị can và gửi cho Cơ quan điều tra.

3. Trường hợp phải thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can theo quy định tại khoản 2 Điều này thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Nếu quá trình điều tra xác định được hành vi của bị can phạm vào tội được quy định tại khoản khác với khoản trong cùng một điều luật về cùng một tội danh đã khởi tố đối với bị can thì không phải thay đổi quyết định khởi tố bị can. Nếu thấy cần tạm giam bị can theo thời hạn của tội phạm quy định tại khoản của điều luật có khung hình phạt nặng hơn hoặc chuyển vụ án để điều tra, truy tố theo thẩm quyền thì phải ghi rõ lý do này trong lệnh tạm giam hoặc trong quyết định chuyển vụ án.

Chương III

KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG, THAY ĐỔI, HUỶ BỎ CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN

Điều 14. Xét phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp

1. Ngay sau khi nhận được hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp, Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án kiểm tra các tài liệu, chứng cứ chứng minh tính có căn cứ của việc bắt khẩn cấp đối với từng trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 81 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Nếu qua nghiên cứu hồ sơ thấy có dấu hiệu của việc lạm dụng việc bắt khẩn cấp, tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ chưa thể hiện rõ căn cứ để bắt khẩn cấp hoặc người bị bắt không nhận tội, các chứng cứ trong hồ sơ có mâu thuẫn, người bị bắt là người nước ngoài, người có chức sắc trong tôn giáo, người có uy tín trong đồng bào dân tộc ít người hoặc trong trường hợp cần thiết khác thì Kiểm sát viên trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt trước khi báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền xem xét, quyết định việc phê chuẩn. Khi cần gặp, hỏi người bị bắt khẩn cấp, Kiểm sát viên thông báo trước với Cơ quan điều tra để phối hợp trong quá trình gặp, hỏi người bị bắt. Biên bản ghi lời khai của người bị bắt do Kiểm sát viên lập phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 95 và Điều 125 Bộ luật Tố tụng Hình sự và được lưu vào hồ sơ vụ án và hồ sơ kiểm sát.

2. Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp, Viện kiểm sát phải quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn. Thời hạn này được tính liên tục, kể cả trong và ngoài giờ làm việc.

Điều 15. Kiểm sát việc tạm giữ

1. Khi nhận được quyết định tạm giữ, gia hạn tạm giữ của Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên tiến hành kiểm tra ngay tính có căn cứ và hợp pháp của việc tạm giữ, gia hạn tạm giữ để báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền xử lý như sau:

a) Nếu thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ hoặc trực tiếp ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ và yêu cầu Cơ quan điều tra trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

b) Nếu xét thấy việc gia hạn tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì ra quyết định không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ và yêu cầu người đã ra quyết định tạm giữ trả tự do ngay cho người bị tạm giữ theo quy định tại Điều 87 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

c) Nếu thấy việc gia hạn tạm giữ có căn cứ và cần thiết thì ra quyết định phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ.

2. Hàng tuần, Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra phối hợp với Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra nắm số người bị bắt, bị tạm giữ, gia hạn tạm giữ; số người chuyển sang tạm giam; số người được trả tự do hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác; số người Viện kiểm sát không phê chuẩn việc bắt khẩn cấp, không phê chuẩn gia hạn tạm giữ; số người bị bắt không xử lý được bằng biện pháp hình sự; phát hiện và tổng hợp vi phạm của Cơ quan điều tra và báo cáo bằng văn bản lên Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.

Điều 16. Phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh tạm giam, quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam

1. Trong thời hạn ba ngày, kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh tạm giam kèm theo tài liệu có liên quan của Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên kiểm tra tài liệu, chứng cứ, đối chiếu với quy định tại Điều 80 và Điều 88 Bộ luật Tố tụng Hình sự để làm rõ thẩm quyền, đối tượng, điều kiện tạm giam đối với từng trường hợp và báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền xem xét, quyết định việc phê chuẩn và hoàn trả hồ sơ ngay cho Cơ quan điều tra. Trường hợp chưa rõ căn cứ thì ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung tài liệu chứng cứ làm rõ căn cứ để xem xét, quyết định việc phê chuẩn.

2. Nếu thấy đủ căn cứ để tạm giam bị can theo quy định tại Điều 88 Bộ luật Tố tụng Hình sự và cần thiết phải tạm giam bị can, nhưng Cơ quan điều tra không ra lệnh bắt bị can để tạm giam, thì Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra lệnh bắt bị can để tạm giam.

3. Sau khi phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh tạm giam bị can, Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án phải kiểm sát chặt chẽ việc thi hành lệnh bắt bị can và thời hạn tạm giam bị can để kịp thời báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền xem xét, xử lý như sau:

a) Nếu còn thời hạn tạm giam nhưng thấy biện pháp tạm giam đối với bị can không còn cần thiết thì đề nghị Cơ quan điều tra ra quyết định huỷ bỏ biện pháp tạm giam hoặc thay thế bằng một biện pháp ngăn chặn khác.

b) Nếu thời hạn tạm giam còn không quá 10 ngày mà Cơ quan điều tra chưa có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam bị can, thì Kiểm sát viên trao đổi với Điều tra viên để phối hợp xem xét vấn đề này. Trong thời hạn không quá 5 ngày trước khi hết hạn tạm giam, Kiểm sát viên thụ lý vụ án báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền để xem xét, quyết định một trong các phương án xử lý việc tạm giam bị can như đề nghị Cơ quan điều tra huỷ bỏ; thay thế biện pháp tạm giam; gia hạn tạm giam đối với bị can hoặc Viện kiểm sát trực tiếp huỷ bỏ biện pháp tạm giam đối với bị can.

Điều 17. Gia hạn tạm giam để điều tra

1. Việc gia hạn tạm giam và thẩm quyền gia hạn tạm giam của Viện kiểm sát các cấp được thực hiện theo quy định tại Điều 120 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

2. Đối với các vụ án được thụ lý điều tra ở cấp tỉnh và thuộc trường hợp được quy định tại đoạn 1 khoản 5 Điều 120 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao uỷ quyền cho Kiểm sát viên giữ chức vụ Vụ trưởng đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra xem xét, quyết định việc gia hạn tạm giam lần thứ ba.

3. Trong trường hợp vụ án được thụ lý điều tra ở cấp Trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao uỷ quyền cho Kiểm sát viên giữ chức vụ Vụ trưởng đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra xem xét, quyết định việc gia hạn thời hạn tạm giam lần thứ nhất và lần thứ hai; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao uỷ quyền xem xét, quyết định việc gia hạn tạm giam lần thứ ba.

4. Trong trường hợp cần thiết đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao uỷ quyền xem xét, quyết định gia hạn tạm giam thêm một lần nữa không quá bốn tháng.

5. Những trường hợp gia hạn tạm giam bị can thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp thì Viện kiểm sát cấp dưới phải có văn bản đề nghị gia hạn, trong đó báo cáo rõ các vấn đề như: Nội dung vụ án, hành vi phạm tội của bị can, lý do đề nghị gia hạn và chuyển hồ sơ vụ án lên Viện kiểm sát cấp trên. Chậm nhất năm ngày làm việc trước khi hết hạn tạm giam, hồ sơ vụ án kèm theo văn bản đề nghị gia hạn phải có ở Viện kiểm sát cấp trên để xem xét, quyết định việc gia hạn. Trong thời hạn không quá năm ngày làm việc, kể từ khi nhận được văn bản đề nghị và hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát cấp trên phải ra quyết định gia hạn hoặc không gia hạn tạm giam; nếu không gia hạn tạm giam thì trong quyết định không gia hạn tạm giam phải nêu rõ lý do và được gửi ngay cho Viện kiểm sát cấp dưới.

Điều 18. Kiểm sát việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn khác

Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án phải kiểm sát chặt chẽ việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn khác của Cơ quan điều tra, bảo đảm việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn phải có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Chương IV

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT CÁC HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA

Điều 19. Đề ra yêu cầu điều tra

1. Kiểm sát viên chủ động trao đổi với Điều tra viên được phân công điều tra vụ án về những vấn đề cần điều tra ngay từ khi kiểm sát việc khởi tố vụ án, khám nghiệm hiện trường và trong quá trình điều tra.

Kiểm sát viên có thể đề ra yêu cầu điều tra bằng lời nói hoặc bằng văn bản trong quá trình trực tiếp kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám xét, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, đối chất, thực nghiệm điều tra. Đối với các trường hợp khác, khi đề ra yêu cầu điều tra, Kiểm sát viên phải có văn bản yêu cầu điều tra, nêu rõ những vấn đề cần điều tra để thu thập, củng cố chứng cứ ; hoàn thiện các thủ tục tố tụng hoặc để làm rõ những tình tiết liên quan đến những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự được quy định tại Điều 63 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đối với những vụ án trọng điểm, phức tạp, những vụ án được dư luận đặc biệt quan tâm và những trường hợp thấy có thể phải thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì Kiểm sát viên phải báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền trước khi ký văn bản yêu cầu điều tra. Văn bản yêu cầu điều tra phải được lưu vào hồ sơ kiểm sát một bản.

2. Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ hoạt động điều tra của Điều tra viên, bảo đảm các yêu cầu điều tra được thực hiện đầy đủ. Khi thấy có vấn đề cần phải điều tra thêm, Kiểm sát viên kịp thời bổ sung yêu cầu điều tra; nếu Điều tra viên đề nghị, Kiểm sát viên có trách nhiệm giải thích rõ nội dung những yêu cầu điều tra. Trường hợp Điều tra viên không nhất trí thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền xem xét, kiến nghị với Thủ trưởng Cơ quan điều tra giải quyết. Nếu do điều kiện khách quan mà Cơ quan điều tra không thực hiện được đầy đủ các yêu cầu điều tra thì phải nêu rõ lý do trong Bản kết luận điều tra vụ án.

Điều 20. Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường

1. Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra phân công Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường đối với tất cả các vụ việc mà Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm. Đối với những vụ án gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, những vụ án giết người không quả tang hoặc những vụ án phức tạp thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng trực tiếp hoặc cùng Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường.

2. Trước khi khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên phải chủ động nắm tình hình, yêu cầu Điều tra viên thông báo sự việc xảy ra để tham gia ý kiến vào việc chuẩn bị khám nghiệm, chủ động yêu cầu Điều tra viên tiến hành khám nghiệm hiện trường và lập biên bản khám nghiệm hiện trường theo đúng quy định tại Điều 150 và Điều 154 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Nếu thấy người làm chứng, người bị hại hoặc bị can có thể chết hoặc mất khả năng khai báo, thì Kiểm sát viên phải yêu cầu Điều tra viên lấy lời khai và ghi âm lời khai của họ.

Trong quá trình khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ các hoạt động khám nghiệm. Sau khi khám nghiệm, Kiểm sát viên phải báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra về kết quả khám nghiệm hiện trường để có ý kiến chỉ đạo; trong khi kiểm sát việc khám nghiệm hoặc sau khi kết thúc khám nghiệm, nếu thấy việc khám nghiệm chưa đầy đủ, vi phạm các quy định tại Điều 150 và Điều 154 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì yêu cầu Điều tra viên khắc phục.

Kiểm sát viên có thể chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường, xem xét tại chỗ dấu vết, đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án, lấy lời khai và ghi âm lời khai của người bị hại, người làm chứng... Các tài liệu này được lưu trong hồ sơ kiểm sát.

Điều 21. Kiểm sát việc khám nghiệm tử thi

1. Trong mọi trường hợp khám nghiệm tử thi, Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra phải phân công Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm tử thi. Khi thấy cần thiết, Viện trưởng, Phó Viện trưởng có thể trực tiếp hoặc cùng Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm tử thi. Kiểm sát viên phải chủ động yêu cầu Điều tra viên thực hiện đúng các quy định tại Điều 151 và Điều 154 Bộ luật Tố tụng Hình sự về khám nghiệm tử thi và lập biên bản khám nghiệm tử thi. Trong quá trình khám nghiệm, Kiểm sát viên yêu cầu Hội đồng khám nghiệm xem xét đầy đủ các dấu vết, thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ nguyên nhân chết, tung tích của nạn nhân.

2. Trường hợp phải khai quật tử thi để khám nghiệm thì Kiểm sát viên phải kiểm tra về sự cần thiết khai quật; trình tự, thủ tục tiến hành khai quật theo đúng qui định của pháp luật tố tụng hình sự.

3. Sau khi khám nghiệm, Kiểm sát viên vào sổ thụ lý khám nghiệm; đồng thời báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra về kết quả khám nghiệm tử thi để có ý kiến chỉ đạo; nếu việc khám nghiệm vi phạm các quy định tại Điều 151 và Điều 154 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Kiểm sát viên trao đổi với Điều tra viên khắc phục vi phạm hoặc báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục kịp thời.

Điều 22. Kiểm sát việc khám xét, thu giữ, tạm giữ vật chứng, kê biên tài sản

1. Khi kiểm sát việc khám xét, thu giữ, tạm giữ vật chứng, kê biên tài sản, Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên và những người tham gia khám xét chấp hành đúng các quy định tại các Điều 75, 140, 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 và 148 Bộ luật Tố tụng Hình sự và các quy định pháp luật hiện hành.

2. Đối với những trường hợp Cơ quan điều tra đề nghị phê chuẩn lệnh khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm; lệnh thu giữ thư tín, bưu kiện, bưu phẩm thì Kiểm sát viên kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của các lệnh này và báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền xử lý như sau:

a) Nếu đề nghị phê chuẩn của Cơ quan điều tra có đủ căn cứ thì ra quyết định phê chuẩn;

b) Nếu đề nghị phê chuẩn của Cơ quan điều tra không có căn cứ thì ra quyết định không phê chuẩn và nêu rõ lý do.

3. Đối với những trường hợp không thể trì hoãn, lệnh khám xét hoặc thu giữ bưu kiện, bưu phẩm không có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, thì ngay sau khi nhận được văn bản thông báo việc khám xét, Kiểm sát viên kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của các lệnh, biên bản khám xét để kịp thời phát hiện vi phạm, báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục; đồng thời, theo dõi và kiểm tra việc bảo quản tài sản, xử lý vật chứng, giải quyết xử lý kịp thời những vấn đề liên quan đến vật chứng, tài sản theo quy định tại Điều 75 và Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Điều 23. Kiểm sát việc lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

1. Kiểm sát viên chủ động yêu cầu Điều tra viên kịp thời lấy lời khai của những người làm chứng và người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; không để sót những người làm chứng quan trọng mà họ trực tiếp nghe được, nhìn thấy hành vi phạm tội, bảo đảm cho họ thực hiện quyền đưa ra tài liệu, đồ vật và những yêu cầu của mình để làm rõ vụ án; nếu thấy cần thiết thì đồng thời với việc ghi lời khai, có thể tiến hành ghi âm, chụp ảnh, ghi hình.

Khi kiểm sát việc lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên thực hiện đúng các quy định tại các Điều 133, 134, 135, 136 và 137 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

2. Trong quá trình điều tra và sau khi kết thúc điều tra vụ án, Kiểm sát viên có thể triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án để kiểm tra chứng cứ trong các trường hợp lời khai của họ có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với những chứng cứ khác đã thu thập hoặc có nghi ngờ về tính trung thực, khách quan trong lời khai của họ. Nếu việc triệu tập để lấy lời khai thực hiện trước khi kết thúc điều tra thì Kiểm sát viên thông báo cho Điều tra viên thụ lý vụ án về thời gian, địa điểm tiến hành việc lấy lời khai của những người này trước khi lấy lời khai để phối hợp thực hiện.

Kiểm sát viên phải thực hiện đúng quy định tại các Điều 133, 135, 136 và 137 Bộ luật Tố tụng Hình sự trong việc triệu tập, lấy lời khai và ghi biên bản lời khai. Biên bản ghi lời khai do Kiểm sát viên tiến hành phải được đưa vào hồ sơ vụ án và sao lưu hồ sơ kiểm sát một bản.

Điều 24. Kiểm sát việc hỏi cung bị can

1. Kiểm sát viên chủ động bàn với Điều tra viên kế hoạch và đề ra yêu cầu hỏi cung bị can ngay sau khi khởi tố bị can để làm rõ những vấn đề liên quan đến tội phạm đã khởi tố. Nếu thấy việc hỏi cung chưa đạt yêu cầu hoặc có vấn đề mới phát sinh thì Kiểm sát viên tiếp tục nêu yêu cầu để Điều tra viên hỏi cung làm rõ. Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ việc hỏi cung bị can và việc lập biên bản hỏi cung bị can của Điều tra viên, bảo đảm việc hỏi cung và lập biên bản hỏi cung bị can thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 131 và Điều 132 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

2. Trong quá trình điều tra vụ án, Kiểm sát viên trực tiếp gặp, hỏi cung bị can khi có đề nghị của Cơ quan điều tra hoặc thấy bị can kêu oan, lời khai của bị can trước sau không thống nhất, lúc nhận tội, lúc chối tội; bị can khiếu nại về việc điều tra; có căn cứ để nghi ngờ về tính xác thực trong lời khai bị can hoặc trường hợp bị can bị khởi tố về tội đặc biệt nghiêm trọng. Trước khi hỏi cung, Kiểm sát viên phải báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra để xin ý kiến chỉ đạo và thông báo trước cho Điều tra viên biết.

3. Sau khi kết thúc điều tra, nhận hồ sơ vụ án từ Cơ quan điều tra chuyển sang, Kiểm sát viên có thể trực tiếp hỏi cung bị can để kiểm tra tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Việc hỏi cung bị can và lập biên bản hỏi cung bị can do Kiểm sát viên tiến hành phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 131 và Điều 132 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Biên bản hỏi cung bị can của Kiểm sát viên phải được đưa vào hồ sơ vụ án và sao lưu hồ sơ kiểm sát một bản.

Điều 25. Kiểm sát việc đối chất và nhận dạng

1. Trong quá trình kiểm sát điều tra, nếu thấy có mâu thuẫn trong lời khai giữa bị can, người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, hoặc khi cần thiết phải nhận dạng người hay đồ vật, Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên tiến hành việc đối chất hoặc nhận dạng.

Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ việc đối chất hoặc nhận dạng, bảo đảm các hoạt động này được thực hiện theo đúng các quy định tại Điều 138 và Điều 139 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Kiểm sát viên có thể trực tiếp hoặc phối hợp cùng Điều tra viên tiến hành việc đối chất. Khi trực tiếp tiến hành đối chất, Kiểm sát viên thông báo trước cho Điều tra viên biết.

2. Sau khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát đã nhận hồ sơ vụ án, nếu thấy có mâu thuẫn trong lời khai của những người tham gia tố tụng thì Kiểm sát viên có thể tiến hành đối chất để làm rõ mà không phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung. Nếu thấy cần phải nhận dạng thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được viện trưởng uỷ quyền ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành việc nhận dạng.

Việc đối chất và lập biên bản đối chất do Kiểm sát viên tiến hành phải được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 138 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Biên bản đối chất phải được đưa vào hồ sơ vụ án và sao, lưu hồ sơ kiểm sát một bản.

Điều 26. Kiểm sát việc thực nghiệm điều tra

1. Đối với những vụ án cần thực nghiệm điều tra để kiểm tra và xác minh những tài liệu, những tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án thì Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên thực nghiệm điều tra. Kiểm sát viên cần nghiên cứu nội dung, kế hoạch thực nghiệm điều tra; kiểm sát việc thực nghiệm điều tra, bảo đảm việc thực nghiệm điều tra và lập biên bản thực nghiệm điều tra tuân thủ đúng các quy định tại Điều 153 và Điều 154 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Kiểm sát viên có thể trực tiếp hoặc cùng Điều tra viên tiến hành việc thực nghiệm điều tra. Khi tiến hành thực nghiệm điều tra, Kiểm sát viên thông báo trước cho Điều tra viên biết.

2. Sau khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát đã nhận hồ sơ vụ án, qua nghiên cứu xét thấy cần phải thực nghiệm điều tra hoặc thực nghiệm điều tra lại để kiểm tra, đánh giá chứng cứ, tình tiết vụ án thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để thực nghiệm điều tra hoặc thực nghiệm điều tra lại.

Trường hợp thấy việc thực nghiệm điều tra hoặc thực nghiệm điều tra lại đối với hành vi, tình huống đơn giản thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra tổ chức việc thực nghiệm điều tra. Việc thực nghiệm điều tra và lập biên bản thực nghiệm điều tra của Viện kiểm sát phải tuân thủ các quy định tại Điều 153 và Điều 154 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Biên bản thực nghiệm điều tra phải được đưa vào hồ sơ vụ án và sao lưu hồ sơ kiểm sát một bản.

Điều 27. Kiểm sát việc trưng cầu giám định và việc giám định

1. Kiểm sát viên chủ động phát hiện các vấn đề cần phải giám định để báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định. Kiểm sát viên phải kiểm sát việc trưng cầu giám định của Cơ quan điều tra và việc giám định của người giám định theo đúng quy định tại các Điều 155, 156, 157 và 158 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Kiểm sát viên có quyền tham dự việc giám định đối với những trường hợp phức tạp, nhưng phải báo trước cho người giám định.

2. Kiểm sát viên kiểm sát việc giám định nhằm bảo đảm:

a) Nội dung trưng cầu giám định phải cụ thể, sát sự việc và những vấn đề cần kết luận.

b) Kết luận giám định phải giải đáp các nội dung của quyết định trưng cầu giám định.

3. Nếu thấy nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc phát sinh những vấn đề mới liên quan đến các tình tiết vụ án đã được kết luận trước đó, thì Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra trưng cầu giám định bổ sung hoặc trực tiếp ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung.

Nếu thấy có nghi ngờ về kết quả giám định hoặc có mâu thuẫn trong các kết luận giám định về cùng một vấn đề thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định lại hoặc trực tiếp ra quyết định trưng cầu giám định lại.

Kiểm sát viên phải kiểm sát để đảm bảo việc giám định bổ sung và giám định lại theo đúng quy định tại Điều 159 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Điều 28. Kiểm sát việc dùng tiếng nói và chữ viết trong tố tụng hình sự

1. Kiểm sát viên đảm bảo mọi hoạt động tố tụng hình sự được tiến hành bằng tiếng Việt; người tham gia tố tụng dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình theo qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

2. Đối với người bị tạm giữ, bị can và những người tham gia tố tụng khác mà không sử dụng được tiếng Việt hoặc bị câm, bị điếc, Kiểm sát viên chủ động yêu cầu Điều tra viên bảo đảm cho họ có quyền thông qua người phiên dịch hoặc người biết dấu hiệu của người câm, người điếc để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Kiểm sát viên chủ động yêu cầu Điều tra viên giải thích quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch cũng như người biết dấu hiệu của người câm, người điếc theo qui định của pháp luật. Việc phiên dịch, diễn tả bằng tiếng việt dấu hiệu của người câm, người điếc phải được ghi biên bản theo quy định tại Điều 95 Bộ luật Tố tụng Hình sự và đưa vào hồ sơ vụ án.

Điều 29. Kiểm sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng

1. Kiểm sát viên chủ động yêu cầu Điều tra viên giải thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can và những người tham gia tố tụng khác trong hoạt động điều tra theo quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Việc giải thích quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng phải được ghi vào biên bản theo quy định tại Điều 95 Bộ luật Tố tụng Hình sự và đưa vào hồ sơ vụ án.

2. Trong quá trình kiểm sát điều tra, khi xác định bắt buộc phải có người bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật Tố tụng Hình sự mà bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa, thì Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình.

Trường hợp các tổ chức trên đã cử người bào chữa, nhưng bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ yêu cầu thay đổi người bào chữa thì Kiểm sát viên căn cứ vào khoản 2 và khoản 3 Điều 56 Bộ luật Tố tụng Hình sự yêu cầu Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra xem xét, giải quyết.

Trường hợp các tổ chức trên đã cử người bào chữa, nhưng bị can và người đại diện hợp pháp của họ từ chối người bào chữa thì Kiểm sát viên phải yêu cầu Điều tra viên lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án.

3. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ khi nhận được đề nghị tham gia tố tụng trong giai đoạn truy tố của người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, Kiểm sát viên xem xét các giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, việc bảo vệ quyền lợi của đương sự theo quy định của pháp luật và báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền cấp giấy chứng nhận người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự để họ tham gia tố tụng; trường hợp từ chối cấp giấy chứng nhận phải nêu rõ lý do và thông báo cho họ biết.

Điều 30. Thay đổi Điều tra viên, Phó Thủ trưởng, Thủ trưởng Cơ quan điều tra

1. Khi thấy Điều tra viên thuộc một trong những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi theo quy định tại khoản 1 Điều 44 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì Kiểm sát viên có ý kiến để Điều tra viên từ chối tiến hành tố tụng hoặc báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên.

Trong trường hợp Điều tra viên cần phải thay đổi là Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra văn bản yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi.

2. Trong trường hợp Điều tra viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi là Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp huyện, cấp khu vực hoặc tương đương; Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, cấp quân khu và tương đương thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành các thủ tục đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp ra quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp tiến hành điều tra. Viện kiểm sát cấp dưới phải báo cáo bằng văn bản về việc chuyển vụ án cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp để thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án.

Điều 31. Thay đổi Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng, Viện trưởng

1. Kiểm sát viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 45 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp ra quyết định thay đổi và cử Kiểm sát viên khác tiến hành tố tụng đối với vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

2. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ khi nhận được kiến nghị của Cơ quan điều tra hoặc đề nghị của người tham gia tố tụng về việc xem xét thay đổi Kiểm sát viên, nếu thấy có căn cứ thì Viện trưởng ra quyết định thay đổi Kiểm sát viên; nếu thấy không có căn cứ thì thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do để Cơ quan điều tra và người tham gia tố tụng biết.

Nếu Kiểm sát viên giữ chức vụ Phó Viện trưởng thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi thì Viện trưởng phân công Phó Viện trưởng khác hoặc Viện trưởng trực tiếp tiến hành tố tụng đối với vụ án; đồng thời, thông báo việc thay đổi, phân công đó cho Cơ quan điều tra cùng cấp và người tham gia tố tụng biết (nếu người tham gia tố tụng đề nghị thay đổi).

3. Nếu Kiểm sát viên giữ chức vụ Viện trưởng thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi thì Viện trưởng phải báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp ra quyết định phân công một Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nơi Viện trưởng bị thay đổi tiến hành tố tụng đối với vụ án và thông báo cho Cơ quan điều tra đang thụ lý vụ án và người tham gia tố tụng biết (nếu người tham gia tố tụng đề nghị thay đổi).

Quyết định thay đổi và phân công Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểm sát phải được gửi cho Cơ quan điều tra thụ lý vụ án để đưa vào hồ sơ vụ án và lưu hồ sơ kiểm sát một bản

Điều 32. Kiểm sát việc nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra

1. Khi nhận được quyết định nhập hoặc tách vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, nếu thấy việc nhập hoặc tách vụ án hình sự không có căn cứ thì Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra quyết định huỷ bỏ quyết định nhập hoặc tách vụ án hình sự, bảo đảm việc nhập hoặc tách vụ án hình sự theo đúng quy định tại Điều 117 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

2. Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các Cơ quan điều tra thuộc các ngành khác nhau thì Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp nơi tội phạm xảy ra hoặc nơi phát hiện tội phạm quyết định.

Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các Cơ quan điều tra cùng ngành ở cấp nào thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp đó yêu cầu Thủ trưởng quản lý cùng cấp giải quyết.

Trong trường hợp cần thiết, Cơ quan điều tra có thẩm quyền có quyền yêu cầu cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển ngay hồ sơ vụ án để trực tiếp điều tra. Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền nơi xảy ra vụ án quyết định.

Điều 33. Kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án và giữ bí mật điều tra

1. Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ việc lập hồ sơ vụ án hình sự của Điều tra viên, bảo đảm từng trang tài liệu trong hồ sơ bắt khẩn cấp, hồ sơ khởi tố vụ án, hồ sơ khởi tố bị can và các hồ sơ khác trong quá trình điều tra phải được đóng dấu bút lục của Cơ quan điều tra và kèm theo bản kê đầy đủ tên tài liệu, số trang từng tài liệu và lưu trong hồ sơ vụ án. Nếu các hồ sơ gửi Viện kiểm sát xét phê chuẩn, thì sau khi kết thúc việc phê chuẩn, Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án phải đóng dấu bút lục của Viện kiểm sát vào các tài liệu đó và chuyển cho Cơ quan điều tra đưa vào hồ sơ vụ án.

2. Trong quá trình khởi tố, điều tra, tài liệu của Cơ quan điều tra hoặc của Viện kiểm sát thu thập đều phải được đưa vào hồ sơ vụ án theo đúng trình tự tố tụng khởi tố, điều tra vụ án. Sau khi kết thúc điều tra, các tài liệu trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thống nhất đánh số thứ tự một lần và lập bảng thống kê đầy đủ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án từ 01 cho đến hết.

Sau khi kết thúc điều tra, nhận hồ sơ vụ án, những tài liệu do Viện kiểm sát thu thập ở giai đoạn truy tố phải được đưa vào hồ sơ vụ án và đánh số thứ tự tiếp theo số tài liệu trong hồ sơ do Cơ quan điều tra chuyển sang; không được thay đổi thứ tự bút lục trong hồ sơ vụ án.

3. Kiểm sát viên phải giữ bí mật điều tra; yêu cầu Điều tra viên giữ bí mật điều tra và yêu cầu người tham gia tố tụng, người chứng kiến không được tiết lộ bí mật điều tra. Nếu phát hiện cán bộ điều tra, Điều tra viên, người tham gia tố tụng, người chứng kiến tiết lộ bí mật điều tra, thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng xem xét, xử lý, kiến nghị xử lý theo qui định của pháp luật.

Điều 34. Việc chuyển vụ án để điều tra theo thẩm quyền

1. Trường hợp thấy vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp mình, Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành các thủ tục để Viện kiểm sát cùng cấp ra quyết định chuyển vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền tiếp tục điều tra theo quy định tại Điều 116 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Nếu phải chuyển vụ án ra ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc ngoài phạm vi quân khu thì Cơ quan điều tra cấp huyện, Cơ quan điều tra cấp khu vực tiến hành các thủ tục để Viện kiểm sát cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực có văn bản đề nghị Viện kiểm sát cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu ra quyết định chuyển vụ án. Nếu vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu đề nghị chuyển thì Viện kiểm sát cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu ra quyết định chuyển vụ án. Trong thời hạn ba ngày, kể từ khi nhận được đề nghị chuyển vụ án của Viện kiểm sát cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực hoặc của Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu thì Viện kiểm sát cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu phải ra quyết định chuyển vụ án.

Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định chuyển vụ án, Viện kiểm sát có thẩm quyền phải gửi quyết định chuyển vụ án cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực, Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu đã đề nghị chuyển vụ án.

2. Khi chuyển vụ án để điều tra theo thẩm quyền, Viện kiểm sát nơi chuyển vụ án phải chuyển hồ sơ kiểm sát điều tra vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết. Hồ sơ kiểm sát điều tra vụ án chuyển cho Viện kiểm sát nơi tiếp nhận phải được đánh số bút lục của Viện kiểm sát nơi chuyển vụ án và lập danh mục thống kê các tài liệu kèm theo.

Điều 35. Kiểm sát việc chấp hành thời hạn điều tra, phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại

1. Kiểm sát viên phải thường xuyên yêu cầu Điều tra viên chấp hành thời hạn điều tra, thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại theo quy định tại Điều 119 và Điều 121 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

2. Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án theo đề nghị của Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên phải kiểm tra các căn cứ để gia hạn điều tra và báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền xem xét, quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra.

Đối với trường hợp thuộc thẩm quyền gia hạn của Viện kiểm sát cấp trên, Viện kiểm sát cấp dưới phải có văn bản báo cáo rõ nội dung vụ án và lý do xin gia hạn do Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng ký, gửi cùng hồ sơ vụ án lên Viện kiểm sát cấp trên. Chậm nhất là năm ngày trước khi hết hạn điều tra, văn bản đề nghị gia hạn điều tra của Viện kiểm sát cấp dưới kèm theo hồ sơ vụ án phải có ở Viện kiểm sát cấp trên. Trước khi hết hạn điều tra, Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên phải xét, quyết định gia hạn hoặc không gia hạn thời hạn điều tra vụ án; nếu không gia hạn phải nêu rõ lý do và thông báo cho Viện kiểm sát cấp dưới biết.

Điều 36. Phát hiện và xử lý vi phạm

1. Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án phải kịp thời phát hiện vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra để yêu cầu khắc phục, báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra. Nếu vi phạm của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm, thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền yêu cầu Cơ quan điều tra có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. Nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp thì báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao giao cho Cục điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao khởi tố, điều tra theo thẩm quyền.

Đối với các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra văn bản yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ hoặc trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ. Đối với các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Thủ trưởng Cơ quan điều tra thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ.

Đối với các quyết định của Cơ quan điều tra đã được Viện kiểm sát phê chuẩn mà phát hiện không có căn cứ và trái pháp luật thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ.

Quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ các quyết định của Cơ quan điều tra phải được gửi ngay cho Cơ quan điều tra để thực hiện.

2. Trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự, Kiểm sát viên có trách nhiệm tổng hợp các vi phạm pháp luật của Cơ quan điều tra, các vi phạm pháp luật và những sơ hở thiếu sót trong các lĩnh vực quản lý kinh tế, xã hội của các cơ quan, tổ chức có liên quan, báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra ra văn bản kiến nghị khắc phục, áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.

Chương V

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC TẠM ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA, ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA VÀ KẾT THÚC ĐIỀU TRA

Điều 37. Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra, truy nã bị can

1. Kiểm sát viên kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra, bảo đảm các trường hợp tạm đình chỉ điều tra thực hiện theo đúng quy định tại Điều 160 Bộ luật Tố tụng Hình sự; nếu thấy quyết định tạm đình chỉ điều tra không có căn cứ thì báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra theo quy định tại Điều 165 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

2. Khi phát hiện bị can trốn hoặc không xác định được bị can ở đâu thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can trước khi tạm đình chỉ điều tra theo quy định tại Điều 161 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

3. Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra phải phân công Kiểm sát viên thường xuyên theo dõi, quản lý các vụ án đã tạm đình chỉ. Khi thấy lý do tạm đình chỉ không còn thì Kiểm sát viên được phân công thụ lý giải quyết vụ án phải báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra vụ án để tiến hành điều tra.

Khi Kiểm sát viên được phân công thụ lý vụ án tạm đình chỉ điều tra chuyển công tác; chuyển làm việc khác hoặc có lý do khác phải nghỉ việc thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra phải phân công Kiểm sát viên khác tiếp tục theo dõi, quản lý vụ án đó.

Viện kiểm sát các cấp phải mở sổ quản lý, theo dõi các vụ án tạm đình chỉ và định kỳ (3 tháng, 6 tháng, 1 năm) báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.

Điều 38. Kiểm sát việc kết thúc điều tra

1. Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ việc kết thúc điều tra vụ án, bảo đảm các vụ án đã được khởi tố, điều tra phải được kết thúc bằng bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản kết luận điều tra kèm theo quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra. Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố và bản kết luận điều tra kèm theo quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra phải thể hiện được đầy đủ các nội dung được quy định tại Điều 163 và Điều 164 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra phải được gửi cho bị can, người bào chữa theo quy định tại khoản 4 Điều 162 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

2. Trường hợp Cơ quan điều tra đã làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố nhưng hồ sơ chưa chuyển sang Viện kiểm sát, nếu qua kiểm sát việc kết thúc điều tra Kiểm sát viên thấy có đủ căn cứ đình chỉ điều tra thì báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền có ý kiến để Cơ quan điều tra làm lại bản kết luận điều tra và ra quyết định đình chỉ điều tra.

Điều 39. Kiểm sát việc đình chỉ điều tra

1. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ khi nhận được quyết định đình chỉ điều tra kèm theo hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ vụ án để kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định đình chỉ điều tra theo quy định tại Điều 164 Bộ luật Tố tụng Hình sự và báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền xem xét, xử lý như sau:

a) Nếu quyết định đình chỉ điều tra có căn cứ thì có văn bản trả lại hồ sơ cho Cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền;

b) Nếu quyết định đình chỉ điều tra không có căn cứ thì ra quyết định huỷ bỏ quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra;

c) Nếu thấy đủ căn cứ để truy tố thì quyết định huỷ bỏ quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố bị can.

2. Trong trường hợp nêu tại điểm a khoản 1 Điều này thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền phải yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra huỷ bỏ ngay biện pháp ngăn chặn, trả lại các đồ vật, tài liệu đã tạm giữ hoặc tịch thu cho bị can hoặc người có liên quan. Đối với biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn thì yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành các thủ tục để Viện kiểm sát ra quyết định huỷ bỏ.

Điều 40. Kiểm sát việc phục hồi điều tra

1. Khi nhận được quyết định phục hồi điều tra vụ án của Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên kiểm tra căn cứ phục hồi điều tra theo quy định tại Điều 165 Bộ luật Tố tụng Hình sự, báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền xem xét, xử lý như sau:

a) Nếu quyết định phục hồi điều tra có căn cứ thì cử Kiểm sát viên tiến hành tố tụng đối với vụ án;

b) Nếu quyết định phục hồi điều tra không có căn cứ thì ra quyết định huỷ bỏ quyết định phục hồi điều tra của Cơ quan điều tra.

2. Nếu việc đình chỉ điều tra theo quy định tại điểm 5 và điểm 6 Điều 107 Bộ luật Tố tụng Hình sự mà bị can không đồng ý và yêu cầu điều tra lại thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định phục hồi điều tra hoặc trực tiếp ra quyết định phục hồi điều tra và gửi quyết định đó cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.

Chương VI

QUYẾT ĐỊNH TRUY TỐ, ĐÌNH CHỈ VỤ ÁN HOẶC TẠM ĐÌNH CHỈ VỤ ÁN

Điều 41. Tiếp nhận hồ sơ vụ án và thụ lý hồ sơ vụ án

Khi nhận được bản kết luận điều tra đề nghị truy tố và hồ sơ vụ án hình sự kèm theo vật chứng do Cơ quan điều tra chuyển đến, người nhận hồ sơ phải đối chiếu bản kê tài liệu, vật chứng của Cơ quan điều tra với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và vật chứng kèm theo; kiểm tra việc giao bản kết luận điều tra cho bị can, người bào chữa theo quy định tại khoản 4 Điều 162 Bộ luật Tố tụng Hình sự và xử lý như sau:

1. Nếu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vật chứng chưa đủ so với bản kê tài liệu, vật chứng của Cơ quan điều tra hoặc bản kết luận điều tra chưa được giao cho bị can, người bào chữa thì chưa nhận hồ sơ vụ án;

2. Nếu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vật chứng đủ so với bản kê tài liệu, vật chứng của Cơ quan điều tra và bản kết luận điều tra đã được giao cho bị can, người bào chữa, thì ký nhận và vào sổ thụ lý hồ sơ vụ án, ghi ngày nhận hồ sơ vào góc trên bên trái bìa hồ sơ và báo cáo ngay với Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra để chuyển hồ sơ vụ án cho Kiểm sát viên được phân công thụ lý giải quyết vụ án. Việc giao nhận hồ sơ giữa người nhận hồ sơ với Kiểm sát viên phải có xác nhận trong số thụ lý vụ án.

Điều 42. Quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn

Sau khi thụ lý hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên kiểm tra ngay các biện pháp ngăn chặn đã áp dụng và báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền xem xét, quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật. Đối với biện pháp tạm giam thì xử lý như sau:

a) Nếu thời hạn tạm giam còn dài hơn thời hạn truy tố đối với những loại tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 166 Bộ luật Tố tụng Hình sự và xét thấy cần thiết phải tiếp tục tạm giam bị can thì không phải ra lệnh tạm giam mới.

b) Nếu còn thời hạn tạm giam nhưng không đủ để hoàn thành việc truy tố thì trước khi hết hạn tạm giam năm ngày, Kiểm sát viên phải báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền xem xét, ra lệnh tạm giam mới. Thời hạn tạm giam cũ và mới không được quá thời hạn truy tố đối với từng tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 166 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Sau khi ra lệnh tạm giam mới, Viện kiểm sát chuyển ngay lệnh tạm giam cho Giám thị trại tạm giam, Trưởng nhà tạm giữ nơi bị can đang bị tạm giam.

Điều 43. Thời hạn xem xét, quyết định việc truy tố

Thời hạn nghiên cứu hồ sơ vụ án đối với từng loại tội phạm và ra các quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 166 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Chậm nhất là mười ngày trước khi hết thời hạn truy tố quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 166 Bộ luật Tố tụng Hình sự; nếu thấy vụ án phức tạp; có nhiều tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn nhau cần có thêm thời gian nghiên cứu, tổng hợp chứng cứ hoặc thỉnh thị Viện kiểm sát cấp trên nên chưa thể đề xuất việc xử lý vụ án thì Kiểm sát viên phải báo cáo ngay với Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền quyết định gia hạn thời hạn truy tố theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Điều 44. Quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố

1. Trong thời hạn quyết định truy tố đối với từng tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 166 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ vụ án; nếu cần thiết có thể tiến hành một số hoạt động điều tra, báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền xử lý như sau:

a) Nếu thấy đủ căn cứ để quyết định truy tố thì Kiểm sát viên dự thảo Cáo trạng trình Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền xem xét, duyệt ký. Cáo trạng phải phản ánh đúng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 167 Bộ luật Tố tụng Hình sự và được lập theo mẫu do Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định.

b) Nếu có căn cứ xác định thuộc một trong những trường hợp qui định tại Điều 168 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì Kiểm sát viên phải báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung.

c) Nếu có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và Điều 107 Bộ luật Tố tụng Hình sự hoặc tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 Bộ luật Hình sự thì ra quyết định đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án đối với bị can;

d) Nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây thì ra quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can:

- Bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác mà có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y;

- Bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu (trong trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can).

2. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra một trong những quyết định nêu tại khoản 1 Điều này, Kiểm sát viên phải thông báo cho bị can, người bào chữa biết; giao bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án cho bị can và lập biên bản giao nhận đưa vào hồ sơ vụ án và sao lưu một bản vào hồ sơ kiểm sát; chuyển bản cáo trạng kèm theo hồ sơ vụ án đến Toà án có thẩm quyền xét xử.

3. Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát cấp dưới phải được gửi lên Viện kiểm sát cấp trên. Nếu quyết định đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát cấp dưới không có căn cứ và trái pháp luật thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp ra quyết định huỷ bỏ các quyết định đó và yêu cầu Viện kiểm sát cấp dưới tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Điều 45. Việc chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền; việc uỷ quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm

1. Trong giai đoạn quyết định truy tố, nếu thấy vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố theo quy định tại khoản 4 Điều 166 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hồ sơ vụ án và hồ sơ kiểm sát điều tra phải được chuyển cho Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nơi ra quyết định chuyển vụ án phải sao lục một bộ hồ sơ kiểm sát để lưu.

2. Đối với những vụ án hình sự được thụ lý điều tra ở cấp tỉnh, sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, nếu thấy vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp huyện, thì Viện kiểm sát cấp tỉnh quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát cấp huyện có thẩm quyền làm cáo trạng truy tố.

Đối với những vụ án hình sự được thụ lý điều tra ở cấp Trung ương, sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, nếu vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp tỉnh thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Viện kiểm sát quân sự Trung ương làm cáo trạng truy tố, uỷ quyền cho Viện kiểm sát cấp tỉnh thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm; nếu vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp huyện thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự Trung ương quyết định chuyển vụ án về Viện kiểm sát cấp huyện có thẩm quyền làm cáo trạng truy tố và thông báo việc chuyển vụ án cho Viện kiểm sát cấp tỉnh nơi đó biết để theo dõi, chỉ đạo.

3. Đối với những vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thụ lý có nhiều tình tiết phức tạp, án trọng điểm, vụ án mà dư luận quan tâm, Viện kiểm sát cấp trên phải yêu cầu Viện kiểm sát cấp dưới cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra đề nghị truy tố ngay từ khi Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát cấp trên. Khi phát hiện có sai sót về thủ tục tố tụng hoặc thiếu chứng cứ quan trọng cần bổ sung, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cấp dưới kịp thời báo cáo với Viện kiểm sát cấp trên để có biện pháp khắc phục.

4. Sau khi đã thụ lý vụ án, nếu thống nhất quan điểm truy tố với Viện kiểm sát cấp trên, thì Viện kiểm sát cấp dưới làm đầy đủ thủ tục để chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cùng cấp để xét xử; nếu có quan điểm truy tố khác thì báo cáo ngay với Viện kiểm sát cấp trên để Viện kiểm sát cấp trên kịp thời giải quyết.

Nếu thấy hồ sơ vụ án thuộc một trong các trường hợp cần điều tra bổ sung theo qui định của pháp luật thì ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát cấp trên để yêu cầu Cơ quan điều tra điều tra bổ sung.

5. Đối với vụ án mà Toà án trả lại để điều tra bổ sung, Kiểm sát viên kiểm tra căn cứ ra quyết định trả hồ sơ của Toà án và báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra cùng cấp xem xét, xử lý. Nếu việc trả hồ sơ của Toà án có căn cứ thì làm văn bản nêu rõ lý do và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cấp trên để yêu cầu Cơ quan điều tra điều tra bổ sung; nếu việc trả hồ sơ của Toà án không có căn cứ thì chuyển hồ sơ lại cho Toà án và làm văn bản yêu cầu Toà án đưa vụ án ra xét xử.

Chương VII

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG THỦ TỤC TỐ TỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN, BIỆN PHÁP BẮT BUỘC CHỮA BỆNH VÀ THỦ TỤC RÚT GỌN

Điều 46. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc áp dụng thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên

1. Trong vụ án hình sự có người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can là người chưa thành niên thì Kiểm sát viên phải yêu cầu Điều tra viên xác định rõ tuổi, mức độ phát triển về thể chất, tinh thần và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội; điều kiện sinh sống và giáo dục; có hay không có người thành niên xúi giục; nguyên nhân và điều kiện phạm tội của người chưa thành niên.

2. Nếu thấy đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng; Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; xem xét việc phê chuẩn các lệnh bắt, lệnh gia hạn tạm giữ, lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra theo quy định tại Điều 302 và Điều 303 Bộ luật Tố tụng Hình sự; nếu thấy không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên thì báo cáo, đề xuất việc không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và các quyết định tố tụng khác.

3. Khi kiểm sát việc lấy lời khai, hoặc hỏi cung những người bị tạm giữ, bị can là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc là người chưa thành niên có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc trong những trường hợp cần thiết khác, Kiểm sát viên phải yêu cầu Điều tra viên triệu tập đại diện của gia đình, đại diện của nhà trường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tổ chức khác nơi người đó học tập, lao động, sinh sống tham gia tố tụng. Trường hợp đã được triệu tập mà đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng thì việc lấy lời khai hoặc hỏi cung những người này vẫn được tiến hành và biên bản lấy lời khai hoặc biên bản hỏi cung phải ghi rõ lý do đó theo quy định tại Điều 306 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Điều 47. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh

1. Khi có căn cứ cho rằng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 13 Bộ luật Hình sự thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền yêu cầu Cơ quan điều tra trưng cầu giám định pháp y (nếu vụ án đang trong giai đoạn điều tra) hoặc trực tiếp trưng cầu giám định pháp y (nếu vụ án đã kết thúc điều tra, hồ sơ vụ án đã chuyển sang Viện kiểm sát) để làm sáng tỏ tình trạng tâm thần và bệnh tâm thần của người có hành vi nguy hiểm cho xã hội và xác định người có hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình hay không.

Căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền có thể quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội theo quy định tại khoản 2 Điều 311 Bộ luật Tố tụng Hình sự; nếu thấy không cần thiết phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thì có thể giao họ cho gia đình hoặc người giám hộ trông nom dưới sự giám sát của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 43 Bộ luật Hình sự.

2. Sau khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra đối với trường hợp đã trưng cầu giám định pháp y, Kiểm sát viên kiểm tra kỹ hồ sơ vụ án, kết luận của Hội đồng giám định pháp y để báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên có thẩm quyền ra quyết định xử lý vụ án theo quy định tại Điều 313 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Điều 48. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc áp dụng thủ tục rút gọn

1. Sau khi nhận được quyết định khởi tố vụ án, theo đề nghị của Cơ quan điều tra hoặc xét thấy vụ án có đủ các điều kiện quy định tại Điều 319 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền xem xét, ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và gửi ngay quyết định đó cho Cơ quan điều tra và bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.

Nếu quyết định áp dụng thủ tục rút gọn bị khiếu nại thì trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát có trách nhiệm giải quyết khiếu nại; nếu khiếu nại đó có căn cứ thì Viện trưởng ra quyết định huỷ bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và vụ án được tiến hành theo thủ tục chung.

2. Sau khi có quyết định áp dụng thủ tục rút gọn, Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ thời hạn điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Điều tra viên, bảo đảm thời hạn tạm giữ, tạm giam bị can để điều tra, truy tố theo đúng quy định tại các Điều 321 và 322 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong thời hạn bốn ngày, kể từ ngày nhận được quyết định đề nghị truy tố của Cơ quan điều tra và hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ra một trong những quyết định sau đây:

a) Truy tố bị can ra trước Toà án bằng quyết định truy tố;

b) Trả hồ sơ điều tra bổ sung;

c) Tạm đình chỉ vụ án;

d) Đình chỉ vụ án.

Trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc tạm đình chỉ vụ án, Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền phải ra quyết định huỷ bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và vụ án được giải quyết theo thủ tục chung.

Chương VIII

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

Điều 49. Thẩm quyền giải quyết đối với việc giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng Cơ quan điều tra và các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra đã được Viện kiểm sát phê chuẩn

1. Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra giải quyết, nhưng tiếp tục bị khiếu nại thì Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp giải quyết cuối cùng.

2. Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Thủ trưởng Cơ quan điều tra và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra đã được Viện kiểm sát phê chuẩn, do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp giải quyết. Nếu kết quả giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp tiếp tục bị khiếu nại thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

Điều 50. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng, Viện trưởng

1. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp giải quyết. Nếu kết quả giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới tiếp tục bị khiếu nại thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

2. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

Điều 51. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra

1. Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố giải quyết. Nếu kết quả giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát đó tiếp tục bị khiếu nại thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

2. Khiếu nại quyết định tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra đã được Viện kiểm sát phê chuẩn do Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn quyết định đó giải quyết. Nếu kết quả giải quyết tiếp tục bị khiếu nại thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

Điều 52. Thời hạn giải quyết khiếu nại

1. Thời hạn giải quyết các khiếu nại tại các Điều 49, 50, 51 của Quy chế này được thực hiện theo các quy định tại các Điều 329, 330 và 332 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

2. Khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam phải được Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát xem xét, giải quyết ngay và thực hiện theo đúng quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Điều 53. Giải quyết tố cáo

1. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật của Kiểm sát viên hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự và hành vi tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện trưởng Viện kiểm sát xem xét, giải quyết.

2. Trường hợp người bị tố cáo là Viện trưởng thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết.

3. Thời hạn giải quyết tố cáo đối với người bị tố cáo nói ở khoản 1, 2 của Điều này qui định tại khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

4. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của những người nêu tại khoản 1, 2 của Điều này có dấu hiệu tội phạm thì Viện trưởng Viện kiểm sát chuyển cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền kiểm tra, xác minh và giải quyết theo quy định tại Điều 103 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

5. Tố cáo có liên quan đến hành vi bắt, tạm giữ, tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát phải xem xét, giải quyết ngay. Trường hợp phải xác minh thêm thì thời hạn không quá ba ngày, kể từ ngày nhận được tố cáo.

Điều 54. Trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giải quyết khiếu nại, tố cáo

1. Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự, Viện kiểm sát các cấp phải mở sổ thụ lý đầy đủ các khiếu nại, tố cáo; phải giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo đã tiếp nhận được theo đúng quy định của pháp luật.

2. Sau khi đã giải quyết các khiếu nại, tố cáo, Viện kiểm sát phải thực hiện ngay các việc sau đây:

a) Thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo biết;

b) Xử lý, yêu cầu xử lý nghiêm minh người có hành vi vi phạm pháp luật;

c) áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra;

d) Bảo đảm kết quả giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết của mình.

Chương IX

THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

Điều 55. Nguyên tắc chung

1. Đối với những trường hợp phạm tội ở nước ngoài chuyển về Việt Nam để tiếp tục xử lý, thì việc điều tra, truy tố phải tuân theo những quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật Tương trợ tư pháp và Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã gia nhập hoặc tham gia ký kết.

2. Đối với trường hợp yêu cầu tương trợ tư pháp của nước mà Việt Nam chưa ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp thì việc hợp tác quốc tế thực hiện theo nguyên tắc có đi, có lại nhưng không trái pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.

3. Đối với trường hợp yêu cầu tương trợ tư pháp không phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập và pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các yêu cầu tương trợ tư pháp gây phương hại đến chủ quyền an ninh quốc gia hoặc lợi ích quan trọng khác của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì Viện kiểm sát có thẩm quyền phải từ chối thực hiện.

Điều 56. Uỷ thác điều tra

1. Đối với các trường hợp cơ quan có thẩm quyền tố tụng nước ngoài yêu cầu hỗ trợ tư pháp thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao yêu cầu Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong nước thực hiện việc điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Luật Tương trợ tư pháp năm 2007.

2. Sau khi có kết quả điều tra theo uỷ thác, Kiểm sát viên kiểm tra lại các vấn đề uỷ thác, tiến hành các thủ tục báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, quyết định việc làm thủ tục chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền tố tụng của nước đã uỷ thác.

Điều 57. Dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Việc dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự và chuyển giao hồ sơ và vật chứng của vụ án cho cơ quan có thẩm quyền tương ứng của nước ngoài do Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện theo quy định tại các Điều 343 và 345 Bộ luật Tố tụng Hình sự và các qui định của Luật tương trợ tư pháp năm 2007.

2. Nếu thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 344 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 35 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao từ chối dẫn độ và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền tương ứng của nước ngoài đã gửi yêu cầu dẫn độ biết.

Chương X

QUAN HỆ TRONG CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

Điều 58. Quan hệ giữa các Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

1. Trong trường hợp có nhiều Kiểm sát viên cùng cấp hoặc không cùng cấp được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với cùng một vụ án thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra phải phân công Kiểm sát viên phụ trách. Kiểm sát viên phụ trách phải chịu trách nhiệm trước Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra về nhiệm vụ được phân công. Nếu có ý kiến khác nhau giữa các Kiểm sát viên thì Kiểm sát viên phụ trách giải quyết trong phạm vi thẩm quyền; nếu không thống nhất được thì báo cáo với Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra đã phân công Kiểm sát viên phụ trách xem xét, giải quyết.

2. Việc họp liên ngành bàn việc giải quyết vụ án (do Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát chủ trì) phải lập biên bản lưu hồ sơ kiểm sát; biên bản phải được Kiểm sát viên và Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra chủ trì hoặc tham dự cuộc họp ký.

Điều 59. Quan hệ giữa công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra với công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù

1. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án thường xuyên liên hệ với Kiểm sát viên làm công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù để nắm tình trạng người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam và khiếu nại của những người này đối với các hoạt động điều tra của Điều tra viên; phát hiện vi phạm trong hoạt động điều tra để kịp thời kiến nghị khắc phục.

2. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra phải thông báo cho Kiểm sát viên kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người thi hành án phạt tù những trường hợp từ chối phê chuẩn việc tạm giữ, lệnh gia hạn tạm giữ, lệnh tạm giam; không gia hạn thời hạn tạm giam; huỷ bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam; những trường hợp Viện kiểm sát ra lệnh tạm giam để Kiểm sát viên kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam kiểm tra, theo dõi, đảm bảo các lệnh, quyết định của Viện kiểm sát được thực hiện nghiêm chỉnh.

Điều 60. Quan hệ giữa công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra với công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm

1. Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án thì đồng thời thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm. Trường hợp vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp, án trọng điểm thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị Kiểm sát điều tra phân công hai Kiểm sát viên cùng tiến hành tố tụng đối với vụ án; đồng thời, cử Kiểm sát viên dự khuyết để có thể thay thế khi Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vắng mặt.

2. Đối với các vụ án do Viện kiểm sát cấp trên quyết định truy tố chuyển cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cấp trên có trách nhiệm trao đổi với Kiểm sát viên Viện kiểm sát cấp dưới được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm về những vấn đề thuộc nội dung vụ án bao gồm: Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ; ý kiến chỉ đạo về đường lối giải quyết vụ án; các thủ tục và thời hạn tố tụng; những vấn đề cần lưu ý.

Đối với những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp về chứng cứ hoặc các vụ án mà dư luận xã hội quan tâm thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra và Kiểm sát viên thụ lý vụ án ở Viện kiểm sát cấp trên phải trực tiếp chỉ đạo, hỗ trợ Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm.

Điều 61. Quan hệ giữa công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra với công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo

Kiểm sát viên được phân công thụ lý vụ án phải phối hợp với đơn vị kiểm sát xét khiếu tố để nắm và kịp thời báo cáo Viện trưởng giải quyết các khiếu nại, tố cáo về quyết định và hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố; xem xét lại các quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của Viện kiểm sát cấp dưới theo đúng quy định tại các Điều 329, 330, 332, 333, 337, 338 và 339 Bộ luật Tố tụng Hình sự và các quy định của Quy chế này. Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra phải thông báo cho đơn vị kiểm sát xét khiếu tố và phối hợp trả lời, giải thích cho người khiếu nại, tố cáo.

Chương XI

QUẢN LÝ, CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

Điều 62. Quản lý, chỉ đạo

1. Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp phải quản lý, chỉ đạo, điều hành toàn bộ công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền cấp mình, đồng thời thường kỳ báo cáo kết quả công tác này lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quản lý, chỉ đạo công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát cấp dưới.

2. Vụ trưởng các Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương tham mưu giúp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quản lý, chỉ đạo công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự trong toàn ngành; tổng hợp các vi phạm của Cơ quan điều tra trong hoạt động tố tụng hình sự; nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm để kiến nghị khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa.

3. Các Trưởng phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm Viện kiểm sát cấp tỉnh có trách nhiệm tham mưu giúp Viện trưởng cấp mình quản lý, chỉ đạo công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm của cấp mình và của cấp dưới. Thông qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra để chỉ đạo Viện kiểm sát cấp dưới tổng kết và tổ chức rút kinh nghiệm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm; cung cấp tư liệu cho các Vụ nghiệp vụ Viện kiểm sát nhân dân tối cao để tổng kết việc áp dụng pháp luật, xây dựng các chuyên đề nghiệp vụ; tổng hợp các vi phạm của Cơ quan điều tra trong hoạt động tố tụng hình sự ; nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm để kiến nghị, yêu cầu khắc phục và áp dụng biện pháp phòng ngừa.

Điều 63. Chế độ lập hồ sơ; sử dụng, quản lý hồ sơ kiểm sát án hình sự

1. Khi thực hiện công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, Kiểm sát viên phải lập hồ sơ kiểm sát án hình sự theo đúng quy định tại Quyết định số 07/QĐ ngày 12/01/2006 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Hồ sơ kiểm sát điều tra án hình sự có đầy đủ các tài liệu phản ảnh thủ tục tố tụng; các tài liệu điều tra thu thập được làm chứng cứ chứng minh tội phạm, người có hành vi phạm tội; các tài liệu phản ánh hoạt động của Kiểm sát viên, Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra, Phó Viện trưởng, Viện trưởng khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự; các tài liệu hướng dẫn chỉ đạo nghiệp vụ của Viện kiểm sát cấp trên, của Lãnh đạo liên ngành và Cấp uỷ (nếu có). Hồ sơ kiểm sát điều tra cũng phải được đánh số bút lục thứ tự từ 01 cho đến hết như hồ sơ vụ án.

2. Việc quản lý, sử dụng, bảo quản hồ sơ kiểm sát điều tra vụ án hình sự được thực hiện theo Quyết định số 92 ngày 01/01/2001 và Quyết định số 07/QĐ ngày 12/01/2006 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Điều 64. Thỉnh thị và trả lời thỉnh thị

1. Viện kiểm sát cấp dưới phải báo cáo thỉnh thị Viện kiểm sát cấp trên những vụ việc được quy định trong danh mục phải thỉnh thị ban hành kèm theo Quy chế về thông tin, báo cáo, quản lý công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân và những việc khác mà Viện kiểm sát cấp dưới thấy cần thiết phải thỉnh thị Viện kiểm sát cấp trên. Báo cáo thỉnh thị Viện kiểm sát cấp trên do Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới ký gửi kèm theo hồ sơ vụ án.

Việc thỉnh thị và trả lời thỉnh thị phải theo đúng quy định về báo cáo thỉnh thị và trả lời thỉnh thị được quy định tại Quy chế về thông tin, báo cáo, quản lý công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân.

2. Trong thời hạn bảy ngày (đối với án cấp huyện) và mười lăm ngày (đối với án cấp tỉnh), kể từ ngày nhận được thỉnh thị và hồ sơ vụ án, đơn vị nghiệp vụ cấp trên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ và nội dung thỉnh thị và có văn bản hướng dẫn rõ ràng, cụ thể để Viện kiểm sát cấp dưới nghiên cứu thực hiện. Đối với những vụ án phức tạp về chứng cứ, cần có thời gian nghiên cứu dài hơn phải thông báo lại để cấp thỉnh thị biết. Thời hạn nghiên cứu và trả lời thỉnh thị không được quá thời hạn giải quyết vụ án theo luật định. Đơn vị nghiệp vụ của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp chịu trách nhiệm về quan điểm hướng dẫn của mình.

Đối với hướng dẫn của đơn vị nghiệp vụ cấp trên, Viện kiểm sát cấp dưới nghiên cứu vận dụng và chịu trách nhiệm về quyết định của mình; nếu không đồng ý với hướng dẫn thì phải có văn bản nêu rõ lý do cho đơn vị nghiệp vụ cấp trên biết; nếu thấy cần thiết thì báo cáo Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên cho ý kiến chỉ đạo tiếp.

Điều 65. Chế độ báo cáo

Các Viện kiểm sát địa phương phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ báo cáo định kỳ về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, truy tố các vụ án hình sự (tháng, 6 tháng, một năm); các báo cáo nghiệp vụ khác như báo cáo ban đầu (tiên tương), báo cáo chuyên đề, thông báo rút kinh nghiệm, kiểm tra hướng dẫn cấp dưới, kiến nghị vi phạm của Cơ quan điều tra và những báo cáo khác lên Viện kiểm sát nhân dân cấp trên theo quy định tại Quy chế về thông tin, báo cáo, quản lý công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân và các Quy chế khác của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải kịp thời nghiên cứu, phát hiện những khó khăn, vướng mắc về nghiệp vụ và những vấn đề khác để hướng dẫn Viện kiểm sát cấp dưới thực hiện.

Điều 66. Chế độ kiểm tra

1.Viện kiểm sát cấp trên phải có kế hoạch định kỳ kiểm tra hoặc kiểm tra đột xuất công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát cấp dưới để rút kinh nghiệm, hướng dẫn chỉ đạo và có kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ cho Kiểm sát viên Viện kiểm sát cấp dưới.

2. Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp phải quản lý chặt chẽ hành vi và quyết định tố tụng của Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên; thường xuyên kiểm tra, phát hiện kịp thời các vi phạm pháp luật để xử lý và rút kinh nghiệm.

Điều 67. Chế độ quản lý hồ sơ, tài liệu

1. Công văn giấy tờ, tài liệu gửi đi và đến phải được đăng ký vào sổ sách văn thư và thực hiện chế độ lưu theo đúng quy định.

2. Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm có trách nhiệm quản lý hồ sơ vụ án, không được để mất tài liệu hồ sơ và thực hiện việc gửi lưu trữ hồ sơ theo quy định. Hết giờ làm việc, phải bảo quản hồ sơ vụ án trong tủ có khoá của cơ quan. Không được đem hồ sơ hoặc tài liệu trong hồ sơ vụ án ra khỏi cơ quan, trừ trường hợp vì lý do công vụ và được sự đồng ý của Lãnh đạo Viện hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra.

Khi chuyển công tác hoặc vì lý do khác phải nghỉ việc, bị thay đổi, Kiểm sát viên phải bàn giao ngay đầy đủ tài liệu của vụ án và những thông tin có liên quan cho Kiểm sát viên được phân công thay thế; việc giao nhận hồ sơ, tài liệu của vụ án phải lập biên bản giao, nhận và đưa vào hồ sơ kiểm sát.

Điều 68. Chế độ bảo mật

1. Kiểm sát viên làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự phải tuyệt đối giữ bí mật về thông tin trong vụ án. Nếu chưa có sự đồng ý của Lãnh đạo Viện thì không được cung cấp tin tức, tình hình, tài liệu, hồ sơ vụ án cho bất cứ người nào trong và ngoài cơ quan.

2. Kiểm sát viên phải giữ bí mật ý kiến của Lãnh đạo Viện, Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra đã chỉ đạo giải quyết vụ án; không được tư vấn cho bị can, người bị hại, những người tham gia tố tụng khác; không được tiếp bị can, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác trong các vụ án mà mình đang thụ lý ngoài nơi quy định.

3. Phiếu đề xuất của Kiểm sát viên, báo cáo thỉnh thị và các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ đối với vụ án của Viện kiểm sát cấp trên, biên bản họp liên ngành và các văn bản khác không phải là văn bản tố tụng phải được lưu vào hồ sơ kiểm sát, không được đưa vào hồ sơ chính của vụ án.

4. Các báo cáo về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự chỉ gửi tới các cơ quan, đơn vị có liên quan trong nội bộ ngành, không được gửi cho các ngành khác nếu không có yêu cầu của Lãnh đạo Viện. Việc gửi các tài liệu về hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra theo yêu cầu của Cấp uỷ Đảng do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định.

Điều 69. Điều khoản thi hành

Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp nghiêm chỉnh thực hiện Quy chế này;

Trong quá trình thực hiện có phát sinh khó khăn, vướng mắc thì báo cáo về Viện kiểm sát nhân dân tối cao để có hướng dẫn hoặc sửa đổi, bổ sung kịp thời.

 

PHỤ LỤC A

NHỮNG VĂN BẢN VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP TỈNH UỶ QUYỀN CHO KIỂM SÁT VIÊN GIỮ CHỨC VỤ TRƯỞNG PHÒNG KÝ KHI THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT VIỆC ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
(Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008)

1. Những văn bản tại Phụ lục B;

2. Quyết định không phê chuẩn việc bắt khẩn cấp;

3. Quyết định huỷ bỏ việc tạm giữ;

4. Quyết định không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ;

5. Yêu cầu khởi tố vụ án;

6. Yêu cầu bổ sung quyết định khởi tố vụ án;

7. Yêu cầu thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự;

8. Quyết định phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án hình sự;

9. Yêu cầu bổ sung quyết định khởi tố bị can;

10. Yêu cầu thay đổi quyết định khởi tố bị can;

11. Yêu cầu bổ sung tài liệu làm rõ căn cứ bắt bị can để tạm giam;

12. Yêu cầu bổ sung tài liệu làm rõ căn cứ tạm giam bị can;

13. Yêu cầu trưng cầu giám định;

14. Yêu cầu giám định lại;

15. Quyết định trưng cầu giám định;

16. Quyết định trưng cầu giám định bổ sung;

17. Quyết định trưng cầu giám định lại;

18. Yêu cầu thực nghiệm điều tra;

19. Quyết định thực nghiệm điều tra;

20. Yêu cầu thực hiện việc nhận dạng;

21. Quyết định huỷ bỏ biện pháp bảo lĩnh;

22. Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú;

23. Quyết định huỷ bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú;

24. Quyết định giao người chưa thành niên để giám sát;

25. Yêu cầu phục hồi điều tra vụ án (trong trường hợp tạm đình chỉ điều tra vụ án);

26. Yêu cầu phục hồi điều tra vụ án (trong trường hợp đình chỉ điều tra vụ án);

27. Yêu cầu phục hồi điều tra đối với bị can (trong trường hợp đình chỉ điều tra đối với bị can);

28. Quyết định phục hồi điều tra đối với bị can trong trường hợp đình chỉ điều tra đối với bị can;

29. Yêu cầu phục hồi điều tra bị can trong trường hợp tạm đình chỉ điều tra bị can;

30. Quyết định phục hồi điều tra bị can trong trường hợp tạm đình chỉ điều tra bị can;

31. Quyết định gia hạn thời hạn điều tra vụ án hình sự;

32. Quyết định gia hạn thời hạn truy tố;

33. Quyết định gia hạn thời hạn tạm giam để truy tố;

34. Quyết định tạm đình chỉ vụ án;

35. Quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can;

36. Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung;

37. Quyết định việc trả hồ sơ điều tra bổ sung (do Toà án trả lại hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung);

38. Quyết định trả hồ sơ điều tra lại;

39. Quyết định huỷ bỏ quyết định nhập vụ án;

40. Quyết định huỷ bỏ quyết định tách vụ án;

41. Quyết định phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án hình sự;

42. Quyết định gia hạn thời hạn tạm giữ.

 

PHỤ LỤC B

NHỮNG VĂN BẢN VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP TỈNH UỶ QUYỀN CHO KIỂM SÁT VIÊN GIỮ CHỨC VỤ PHÓ TRƯỞNG PHÒNG KÝ TRONG KHI THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
(Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008)

1. Quyết định phê chuẩn việc bắt khẩn cấp;

2. Quyết định phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ;

3. Quyết định công nhận việc tham gia tố tụng của người đại diện hợp pháp;

4. Giấy chứng nhận người bào chữa;

5. Quyết định thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa;

6. Yêu cầu cử người bào chữa;

7. Đề nghị cử người bào chữa;

8. Quyết định thay đổi người bào chữa;

9. Yêu cầu người phiên dịch;

10. Quyết định thay đổi người phiên dịch;

11. Yêu cầu nhận dạng;

12. Yêu cầu dẫn giải người làm chứng;

13. Quyết định dẫn giải người làm chứng;

14. Yêu cầu truy nã bị can;

15. Thông báo việc trả hồ sơ điều tra bổ sung;

16. Thông báo về việc chuyển hồ sơ vụ án để truy tố có bị can đang bị tạm giam.

 

PHỤ LỤC C

CÁC VĂN BẢN VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO UỶ QUYỀN CHO KIỂM SÁT VIÊN GIỮ CHỨC VỤ VỤ TRƯỞNG KÝ TRONG KHI THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
(Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008)

1. Những văn bản qui định tại Phụ lục D;

2. Quyết định không phê chuẩn việc bắt khẩn cấp;

3. Quyết định không phê chuẩn việc gia hạn tạm giữ;

4. Quyết định khởi tố vụ án hình sự;

5. Quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án;

6. Quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án;

7. Quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án;

8. Quyết định huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự;

9. Quyết định phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án hình sự;

10. Quyết định thay đổi Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự;

11. Yêu cầu thay đổi Điều tra viên;

12. Quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can;

13. Yêu cầu khởi tố bị can;

14. Yêu cầu bổ sung quyết định khởi tố bị can;

15. Yêu cầu thay đổi quyết định khởi tố bị can;

16. Quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can;

17. Yêu cầu trưng cầu giám định lại;

18. Quyết định thực nghiệm điều tra;

19. Lệnh kê biên tài sản;

20. Quyết định không phê chuẩn lệnh khám xét;

21. Quyết định không phê chuẩn lệnh thu giữ điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện;

22. Quyết định gia hạn thời hạn điều tra vụ án hình sự lần thứ nhất và thứ hai đối với vụ án do Cơ quan điều tra cấp Trung ương thụ lý và gia hạn lần thứ ba đối với vụ án do cấp tỉnh thụ lý;

23. Quyết định không gia hạn thời hạn điều tra vụ án hình sự;

24. Quyết định phê chuẩn lệnh tạm giam;

25. Quyết định không phê chuẩn lệnh tạm giam;

26. Yêu cầu bổ sung tài liệu làm rõ căn cứ tạm giam;

27. Quyết định gia hạn thời hạn tạm giam lần thứ nhất và thứ hai;

28. Quyết định không gia hạn thời hạn tạm giam;

29. Quyết định phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam;

30. Quyết định huỷ bỏ biện pháp tạm giam bị can;

31. Quyết định không phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam;

32. Quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn;

33. Quyết định huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn;

34. Lệnh tạm giam;

35. Quyết định phê chuẩn quyết định đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm;

36. Quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm;

37. Quyết định về việc bảo lĩnh;

38. Quyết định huỷ bỏ biện pháp bảo lĩnh;

39. Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú;

40. Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;

41. Quyết định huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án;

42. Quyết định huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với bị can;

43. Quyết định huỷ bỏ quyết định đình chỉ điều tra vụ án;

44. Quyết định huỷ bỏ quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can;

45. Yêu cầu phục hồi điều tra vụ án (trong trường hợp tạm đình chỉ điều tra vụ án);

46. Yêu cầu phục hồi điều tra đối với bị can (trong trường hợp tạm đình chỉ điều tra đối với bị can);

47. Yêu cầu phục hồi điều tra vụ án (trong trường hợp đình chỉ điều tra vụ án);

48. Yêu cầu phục hồi điều tra đối với bị can (trong trường hợp đình chỉ điều tra đối với bị can);

49. Quyết định gia hạn thời hạn truy tố;

50. Quyết định gia hạn thời hạn tạm giam để truy tố;

51. Quyết định tạm đình chỉ vụ án;

52. Quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can;

54. Quyết định đình chỉ vụ án;

55. Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can;

56. Quyết định huỷ bỏ quyết định đình chỉ vụ án và yêu cầu ra quyết định truy tố;

57. Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung;

58. Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung (do Toà án trả lại hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung);

59. Quyết định trả hồ sơ để điều tra lại;

60. Quyết định chuyển vụ án hình sự để xét xử;

61. Cáo trạng;

62. Quyết định huỷ bỏ quyết định nhập vụ án;

63. Quyết định huỷ bỏ quyết định tách vụ án;

64. Quyết định dẫn giải người làm chứng.

 

PHỤ LỤC D

NHỮNG VĂN BẢN VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO UỶ QUYỀN CHO KIỂM SÁT VIÊN GIỮ CHỨC VỤ PHÓ VỤ TRƯỞNG KÝ TRONG KHI THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
(Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008)

1. Quyết định phê chuẩn việc gia hạn tạm giữ;

2. Yêu cầu bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự;

3. Yêu cầu thay đổi quyết định khởi tố vụ án;

4. Quyết định phê chuẩn quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can;

5. Quyết định phê chuẩn quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can;

6. Quyết định công nhận việc tham gia tố tụng của người đại diện hợp pháp;

7. Giấy chứng nhận người bào chữa;

8. Quyết định thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa;

9. Yêu cầu cử người bào chữa;

10. Đề nghị cử người bào chữa;

11. Quyết định thay đổi người bào chữa;

12. Yêu cầu người phiên dịch;

13. Yêu cầu trưng cầu giám định;

14. Yêu cầu giám định bổ sung;

15. Quyết định trưng cầu giám định bổ sung;

16. Quyết định trưng cầu giám định lại;

17. Yêu cầu thực nghiệm điều tra;

18. Yêu cầu thực hiện việc nhận dạng;

19. Yêu cầu bổ sung tài liệu làm rõ căn cứ tạm giam;

20. Yêu cầu bổ sung tài liệu làm rõ căn cứ bắt để tạm giam;

21 Quyết định huỷ bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú;

22. Quyết định huỷ bỏ việc kê biên tài sản;

23. Yêu cầu truy nã bị can;

24. Thông báo về việc trả hồ sơ điều tra bổ sung;

25. Thông báo về việc chuyển hồ sơ vụ án để truy tố có bị can đang bị tạm giam.

 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 07/2008/QĐ-VKSTC

Loại văn bảnQuyết định
Số hiệu07/2008/QĐ-VKSTC
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành02/01/2008
Ngày hiệu lực02/01/2008
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcBộ máy hành chính
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực 02/01/2018
Cập nhậtTuần trước
(08/01/2020)
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 07/2008/QĐ-VKSTC

Lược đồ Quyết định 07/2008/QĐ-VKSTC Quy chế công tác thực hành quyền công tố


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản bị đính chính

        Văn bản được hướng dẫn

          Văn bản đính chính

            Văn bản hiện thời

            Quyết định 07/2008/QĐ-VKSTC Quy chế công tác thực hành quyền công tố
            Loại văn bảnQuyết định
            Số hiệu07/2008/QĐ-VKSTC
            Cơ quan ban hànhViện kiểm sát nhân dân tối cao
            Người kýTrần Quốc Vượng
            Ngày ban hành02/01/2008
            Ngày hiệu lực02/01/2008
            Ngày công báo...
            Số công báo
            Lĩnh vựcBộ máy hành chính
            Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực 02/01/2018
            Cập nhậtTuần trước
            (08/01/2020)

            Văn bản gốc Quyết định 07/2008/QĐ-VKSTC Quy chế công tác thực hành quyền công tố

            Lịch sử hiệu lực Quyết định 07/2008/QĐ-VKSTC Quy chế công tác thực hành quyền công tố