Quyết định 120/2004/QĐ-VKSTC

Quyết định 120/2004/QĐ-VKSTC về quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành

Quyết định 120/2004/QĐ-VKSTC quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố đã được thay thế bởi Quyết định 07/2008/QĐ-VKSTC Quy chế công tác thực hành quyền công tố và được áp dụng kể từ ngày 02/01/2008.

Nội dung toàn văn Quyết định 120/2004/QĐ-VKSTC quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố


VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
--------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
--------------------

Số: 120/2004/QĐ-VKSTC

Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 2004.

 

QUYẾT ĐỊNH

BAN HÀNH QUY CHẾ TẠM THỜI VỀ CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

- Căn cứ Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân công bố ngày 12/4/2002;

- Căn cứ Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật hình sự nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự hiện hành,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Ban hành kèm theo quyết định này Quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra vụ án hình sự.

Điều 2: Quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự được thực hiện thống nhất trong toàn ngành kiểm sát, có hiệu lực kể từ ngày ký quyết định ban hành.

Điều 3: Kèm theo quyết định này là 127 mẫu văn bản tố tụng thực hiện trong giai đoạn thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra được đánh số thứ tự từ 001 đến 127.

Điều 4: Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện quyết định này./.

 

 

KT. VIỆN TRƯỞNG
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
PHÓ VIỆN TRƯỞNG




Trần Thu

 

QUY CHẾ TẠM THỜI

VỀ CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
(Ban hành kèm theo quyết định số 120 ngày 14 tháng 9 năm 2004 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao).

Chương I

NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Chức năng

Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các Cơ quan điều tra và các Cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là một trong những công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành kiểm sát, nhằm bảo đảm:

1. Mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội;

2. Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật;

3. Việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra phải được phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh;

4. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can phải có căn cứ và đúng pháp luật.

Điều 2. Nhiệm vụ, quyền hạn

Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự, Viện kiểm sát có những nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại các Điều 13, 14 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và các Điều 112, 113 của Bộ luật tố tụng hình sự cụ thể sau đây:

1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra:

a) Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can;

b) Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra; khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật;

c) Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của pháp luật; nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự;

d) Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp không phê chuẩn thì trong quyết định không phê chuẩn phải nêu rõ lý do.

đ) Huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can;

e) Quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát điều tra:

a) Kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra;

b) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng;

c) Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra;

d) Yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của Điều tra viên; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra;

đ) Kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.

Điều 3. Trách nhiệm của Viện kiểm sát

Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự, Viện kiểm sát có quyền ra quyết định, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các văn bản đó. Trong trường hợp các văn bản nói trên trái pháp luật thì tuỳ theo tính chất và mức độ sai phạm mà người ra văn bản bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 4. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên

1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng Viện kiểm sát

1.1. Trong tổ chức, quản lý, chỉ đạo, điều hành

a) Tổ chức và chỉ đạo các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự;

b) Quyết định phân công Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự.

c) Kiểm tra các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự của Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên;

d) Quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên;

đ) Quyết định rút, đình chỉ hoặc huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Viện kiểm sát cấp dưới;

e) Quyết định thay đổi Kiểm sát viên;

g) Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát.

1.2. Trong thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự:

a) Quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;

b) Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên;

c) Quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn, quyết định gia hạn điều tra, quyết định gia hạn tạm giam; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can;

d) Quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra;

đ) Quyết định huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra;

e) Quyết định chuyển vụ án;

g) Quyết định việc truy tố, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định trưng cầu giám định;

h) Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, quyết định phục hồi điều tra, quyết định xử lý vật chứng;

i) Cấp, thu hồi giấy chứng nhận bào chữa; ra các quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát.

2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát

2.1. Khi Viện trưởng vắng mặt, một Phó Viện trưởng được Viện trưởng uỷ nhiệm thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng trong tổ chức, chỉ đạo, quản lý, điều hành quy định tại Mục 1.1 của điều này.

2.2. Khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự, Phó Viện trưởng thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn tại Mục 1.2 của điều này.

3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên

Khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự, Kiểm sát viên có nhiệm vụ, quyền hạn sau:

a) Kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra;

b) Đề ra yêu cầu điều tra;

c) Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;

d) Kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam;

đ) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo sự phân công của Viện trưởng Viện kiểm sát.

4. Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên nêu trong Quy chế này là Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự.

Viện kiểm sát quận, huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực hoặc tương đương gọi chung là Viện kiểm sát cấp huyện.

Viện kiểm sát tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Viện kiểm sát quân sự quân khu hoặc tương đương gọi chung là Viện kiểm sát cấp tỉnh.

Điều 5. Phạm vi công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự

Công tác Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự, bắt đầu từ khi phát hiện có sự kiện phạm tội xảy ra cho đến khi kết thúc việc điều tra, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định truy tố hoặc đình chỉ vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Điều 6. Trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên

1. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về những hành vi, quyết định của mình trong việc khởi tố, bắt, giam, giữ, truy tố và các quyết định khác theo quy định của pháp luật.

2. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát khi nghe Kiểm sát viên báo cáo đề xuất, nếu xét thấy cần thiết thì trực tiếp nghiên cứu tài liệu, kiểm tra chứng cứ trong hồ sơ hoặc trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo luật định trước khi quyết định. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát phải ghi rõ ý kiến chỉ đạo vào báo cáo đề xuất của Kiểm sát viên, lưu trong hồ sơ kiểm sát điều tra. Khi phát hiện có sai sót về nghiệp vụ cần phải khắc phục thì tổ chức kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của từng người và xử lý; nếu để xảy ra oan, sai thì tuỳ theo tính chất và mức độ sai phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật.

3. Khi báo cáo đề xuất các vấn đề thuộc công tác thực hành quyền công tố và Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra vụ án hình sự, Kiểm sát viên phải báo cáo trung thực, chính xác, đầy đủ nội dung và đề xuất hướng xử lý. Báo cáo đề xuất phải lập thành văn bản ghi rõ ngày tháng năm và ký tên Kiểm sát viên.

Chương II

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ, KHỞI TỐ BỊ CAN

Điều 7. Tiếp nhận, xử lý và kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

1. Viện kiểm sát các cấp phải tổ chức tiếp nhận, quản lý đầy đủ các tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc tổ chức tiếp nhận, quản lý các tin báo, tố giác về tội phạm được thực hiện như sau:

a) Đối với các tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước chuyển đến, hoặc do Viện kiểm sát trực tiếp nắm được thì phải vào sổ thụ lý và phải chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết (kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận nếu có).

b) Đối với kiến nghị khởi tố hình sự của cơ quan thanh tra nhà nước, Viện trưởng Viện kiểm sát phân công Kiểm sát viên kiểm tra tài liệu, chứng cứ do cơ quan thanh tra chuyển đến để yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự, tiến hành điều tra hoặc xác minh thêm và trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 103 của BLTTHS, Cơ quan điều tra phải ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự.

2. Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

a) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cử Kiểm sát viên hàng ngày kiểm sát việc tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước chuyển đến Cơ quan điều tra, bảo đảm mọi tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố phải được Cơ quan điều tra tiếp nhận đầy đủ, xác minh và giải quyết theo đúng quy định tại Điều 103 của Bộ luật tố tụng hình sự.

b) Hàng tuần Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp phải phối hợp với Thủ trưởng Cơ quan điều tra nắm được số người bị bắt, bị tạm giữ, gia hạn tạm giữ lần 1, lần 2; số người chuyển sang tạm giam; số người Viện kiểm sát trực tiếp hỏi trước khi phê chuẩn hoặc không phê chuẩn; số người bị bắt không xử lý được bằng hình sự; phát hiện và tổng hợp vi phạm của Cơ quan điều tra và báo cáo bằng văn bản lên Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.

Điều 8. Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, việc thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự

1. Khi nhận được quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các Cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát phân công Kiểm sát viên kiểm tra, báo cáo tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án để ra một trong các quyết định, yêu cầu sau đây:

a) Quyết định phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự có căn cứ và hợp pháp;

b) Yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung tài liệu chứng cứ để làm rõ căn cứ của việc khởi tố vụ án hình sự;

c) Quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án nếu quyết định khởi tố vụ án không có căn cứ;

d) Yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra không đúng với hành vi phạm tội hoặc còn có tội phạm khác. Sau khi đã yêu cầu mà Cơ quan điều tra không thực hiện thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự và trong thời hạn 24 giờ phải gửi các quyết định đó cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.

2. Trong quá trình tiến hành điều tra hoặc khi đã kết thúc điều tra, nếu có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn có tội phạm khác thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

3. Đối với quyết định khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát phân công Kiểm sát viên kiểm tra tính có căn cứ của quyết định khởi tố đó và báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát ra một trong các quyết định sau đây:

a) Quyết định việc điều tra nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử có căn cứ và chuyển quyết định khởi tố vụ án hình sự kèm theo các tài liệu có liên quan đến Cơ quan điều tra tiến hành điều tra; phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự đó.

b) Kháng nghị lên Toà án cấp trên, nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử không có căn cứ.

Điều 9. Quyết định khởi tố vụ án hình sự, không khởi tố vụ án hình sự

1. Khi nhận được quyết định không khởi tố vụ án hình sự của các Cơ quan điều tra, của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát phân công Kiểm sát viên kiểm tra tài liệu, chứng cứ làm căn cứ ra quyết định không khởi tố vụ án. Nếu quyết định không khởi tố vụ án không có căn cứ, thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra quyết định huỷ bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi tố vụ án, yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra.

2. Khi nhận được yêu cầu khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát phân công Kiểm sát viên kiểm tra các tài liệu chứng cứ. Nếu yêu cầu khởi tố vụ án có căn cứ thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra quyết định khởi tố vụ án và chuyển ngay quyết định khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đến Cơ quan điều tra tiến hành điều tra; nếu yêu cầu khởi tố vụ án không có căn cứ thì báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát phải gửi cho Toà án, nơi có Hội đồng xét xử đã yêu cầu khởi tố.

Điều 10. Kiểm sát việc khởi tố bị can, việc thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can

1. Khi nhận được quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra, của Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cử Kiểm sát viên kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của các quyết định khởi tố bị can để ra một trong các quyết định sau đây:

a) Quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, nếu các quyết định khởi tố bị can có căn cứ và hợp pháp;

b) Yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố bị can bổ sung tài liệu làm rõ căn cứ của việc khởi tố bị can;

c) Quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can, nếu các quyết định khởi tố bị can không có căn cứ;

d) Yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, nếu quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra không đúng với hành vi phạm tội hoặc còn hành vi phạm tội khác.

2. Khi tiến hành điều tra, nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn có hành vi phạm tội khác thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can; Cơ quan điều tra phải gửi quyết định này kèm theo tài liệu có liên quan đến Viện kiểm sát để xét phê chuẩn.

Sau khi nhận được quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên phải kiểm tra kỹ tài liệu, chứng cứ để báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định phê chuẩn hoặc huỷ bỏ quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can theo quy định tại khoản 5 Điều 112 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Điều 11. Khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can

1. Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, khi có căn cứ xác định còn có người khác thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án, nhưng Cơ quan điều tra không khởi tố hoặc hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố, Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can. Nếu đã có yêu cầu mà Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.

2. Sau khi nhận hồ sơ và bản kết luận điều tra, Kiểm sát viên phải kiểm tra hồ sơ vụ án; nếu phát hiện còn có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố, thì báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can và gửi ngay quyết định khởi tố bị can kèm theo quyết định trả hồ sơ vụ án để Cơ quan điều tra tiến hành điều tra bổ sung.

3. Tất cả các quyết định của Viện kiểm sát nêu tại các Điều 7, 8, 9 và 10 của Quy chế này đều được chuyển cho Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên phải yêu cầu Cơ quan điều tra giao ngay các quyết định đó cho bị can và lập biên bản theo đúng quy định tại Điều 95 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Chương III

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG, THAY ĐỔI, HUỶ BỎ CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN

Điều 12. Kiểm sát việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã và việc tạm giữ

1. Khi nhận được đề nghị phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp của Cơ quan điều tra và của những người có thẩm quyền kèm theo các tài liệu có liên quan, Kiểm sát viên phải kiểm tra căn cứ bắt khẩn cấp đối với từng trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 81 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong trường hợp người bị bắt không nhận tội, các chứng cứ trong hồ sơ có mâu thuẫn, người bị bắt là người nước ngoài, người có chức sắc trong tôn giáo, dân tộc thiểu số và trong trường hợp cần thiết khác Kiểm sát viên phải trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt để làm rõ căn cứ của việc bắt người và báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn việc bắt khẩn cấp.

2. Khi nhận được quyết định tạm giữ người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, quyết định tạm giữ người bị bắt theo quyết định truy nã, quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú và các tài liệu có liên quan, Kiểm sát viên phải kiểm tra ngay tính có căn cứ và hợp pháp của việc bắt giữ đối với từng trường hợp theo quy định tại Điều 82 và Điều 86 của Bộ luật TTHS để báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát. Đối với những trường hợp tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết phải tạm giữ thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ và yêu cầu người đã ra quyết định tạm giữ trả tự do ngay cho người bị tạm giữ theo quy định tại khoản 3 Điều 86 của Bộ luật tố tụng hình sự.

3. Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ thời hạn tạm giữ, nắm vững căn cứ của việc gia hạn tạm giữ để báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ theo quy định tại Điều 87 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Điều 13. Phê chuẩn lệnh tạm giam, lệnh bắt bị can để tạm giam, quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam

1. Trong thời hạn 3 ngày, kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam kèm theo tài liệu có liên quan của Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên phải kiểm tra tài liệu, chứng cứ, đối chiếu với quy định tại Điều 80 của Bộ luật tố tụng hình sự để làm rõ đối tượng, điều kiện tạm giam đối với từng trường hợp và báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam và hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn.

2. Trong thời hạn 3 ngày, kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn lệnh tạm giam kèm theo hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc tạm giam, Kiểm sát viên phải nghiên cứu, báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh tạm giam theo quy định tại Điều 88 của Bộ luật tố tụng hình sự.

3. Trong trường hợp bị can có đủ các điều kiện quy định tại Điều 88 của Bộ luật tố tụng hình sự và xét thấy cần thiết phải tạm giam bị can, nhưng Cơ quan điều tra không bắt bị can để tạm giam, thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra ra lệnh bắt bị can để tạm giam.

4. Sau khi đã phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam, phê chuẩn lệnh tạm giam bị can của Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ việc thi hành lệnh bắt bị can và thời hạn tạm giam bị can để kịp thời báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát về sự cần thiết phải gia hạn tạm giam, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam bị can.

5. Đối với các trường hợp Cơ quan điều tra xin phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam, nếu chưa đủ căn cứ để xét phê chuẩn thì yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung thêm tài liệu chứng cứ; khi đã có đủ căn cứ tạm giam bị can theo luật định thì phê chuẩn.

Điều 14. Gia hạn tạm giam

1. Việc gia hạn tạm giam và thẩm quyền gia hạn tạm giam của Viện kiểm sát các cấp được thực hiện theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Đối với các vụ án hình sự được thụ lý điều tra ở cấp Trung ương, việc gia hạn thời hạn tạm giam bị can lần thứ nhất, lần thứ hai do Phó Viện trưởng Viện KSND Tối cao quyết định. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao quyết định gia hạn tạm giam lần thứ 3 và gia hạn thêm theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật tố tụng hình sự.

3. Những trường hợp gia hạn tạm giam bị can thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát cấp trên, Viện kiểm sát cấp dưới phải có văn bản đề nghị báo cáo nội dung vụ án; hành vi phạm tội của bị can; lý do đề nghị gia hạn và chuyển hồ sơ vụ án lên Viện kiểm sát cấp trên xin gia hạn, chậm nhất trước khi hết hạn tạm giam 5 ngày hồ sơ vụ án phải có ở Viện kiểm sát cấp trên để xem xét việc gia hạn. Sau khi nhận được văn bản đề nghị và hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát cấp trên phải quyết định việc gia hạn hoặc không gia hạn tạm giam; nếu không gia hạn tạm giam thì phải có văn bản nêu rõ lý do và hướng dẫn Viện kiểm sát cấp dưới những điều cần thiết.

Điều 15. Kiểm sát việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn khác

Kiểm sát viên phải kiểm tra lý do, căn cứ để áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn khác của Cơ quan điều tra, bảo đảm thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Chương IV

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT CÁC HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA

Điều 16. Đề ra yêu cầu điều tra

1. Kiểm sát viên được phân công tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự phải đề ra yêu cầu điều tra vụ án ngay từ khi có quyết định khởi tố vụ án, và trong suốt quá trình điều tra. Yêu cầu điều tra phải cụ thể, toàn diện, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can.Yêu cầu điều tra phải lập thành văn bản. Đối với các vụ án trọng điểm, các vụ án có nhiều tình tiết phức tạp mà dư luận quan tâm, trước khi ký yêu cầu điều tra, Kiểm sát viên phải báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát.

2. Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, Kiểm sát viên bám sát các hoạt động điều tra của Điều tra viên, bảo đảm các yêu cầu điều tra được thực hiện. Khi phát hiện tình tiết mới phát sinh trong quá trình điều tra, Kiểm sát viên kịp thời có yêu cầu bổ sung để Điều tra viên làm rõ. Nếu Điều tra viên không thực hiện thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát kiến nghị với Thủ trưởng Cơ quan điều tra giải quyết.

Điều 17. Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường

1. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát phân công Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường đối với tất cả các vụ việc mà Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường. Đối với những vụ việc thuộc thẩm quyền cấp tỉnh, Viện kiểm sát cấp huyện báo cáo ngay cho Viện kiểm sát tỉnh biết để phân công Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường. Những vụ việc có hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, giết người không quả tang hoặc phức tạp thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng trực tiếp kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường.

2. Trước khi khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên phải chủ động nắm tình hình, yêu cầu cơ quan điều tra thông báo sự việc xảy ra để tham gia ý kiến vào việc chuẩn bị khám nghiệm; kiểm sát chặt chẽ và chủ động yêu cầu Điều tra viên tiến hành khám nghiệm hiện trường theo đúng thủ tục và làm đầy đủ các nội dung được quy định tại các Điều 150 và 154 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trường hợp người làm chứng, người bị hại hoặc bị can có thể chết hoặc mất khả năng khai báo thì Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên lấy lời khai và tiến hành việc ghi âm lời khai của họ.

3. Khi kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên có thể chụp ảnh, vẽ sơ đồ hiện trường, xem xét tại chỗ dấu vết, đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án, lấy lời khai và ghi âm lời khai của người bị hại, người làm chứng… các tài liệu này được lưu trong hồ sơ kiểm sát điều tra vụ án.

Sau khi khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên phải báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng kết quả, nếu xác định có dấu hiệu tội phạm mà Cơ quan điều tra không khởi tố vụ án, thì Kiểm sát viên báo cáo với Viện trưởng, Phó Viện trưởng yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự để điều tra.

Điều 18. Kiểm sát việc khám nghiệm tử thi

1. Trong mọi trường hợp khám nghiệm tử thi, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát phân công Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm tử thi. Trong quá trình khám nghiệm, Kiểm sát viên yêu cầu Hội đồng khám nghiệm thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ nguyên nhân chết, làm rõ tung tích của người chết (nếu chưa rõ tung tích). Việc khám nghiệm tử thi phải có Bác sỹ pháp y tham gia và có người chứng kiến, Kiểm sát viên phải chủ động yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện theo đúng quy định tại các Điều 151 và 154 của Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Trường hợp phải khai quật tử thi, Kiểm sát viên phải kiểm tra về sự cần thiết và nội dung quyết định khai quật tử thi của Cơ quan điều tra trước khi khai quật; yêu cầu Cơ quan điều tra thông báo cho chính quyền địa phương và gia đình về lý do khai quật tử thi trước khi tiến hành việc khai quật. Viện trưởng, Phó Viện trưởng có thể trực tiếp kiểm sát việc khai quật tử thi và khám nghiệm tử thi. Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên được trang bị và sử dụng dụng cụ chống độc khi cần thiết.

Điều 19. Kiểm sát việc khám xét, thu giữ, tạm giữ vật chứng, kê biên tài sản

1. Khi kiểm sát việc khám xét, thu giữ, tạm giữ vật chứng, kê biên tài sản, Kiểm sát viên phải yêu cầu Cơ quan điều tra chấp hành nghiêm chỉnh các quy định tại các Điều 75, 140, 141, 142, 144, 145, 146, 147 và 148 của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật hiện hành hướng dẫn về bảo quản, giao nhận, xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ.

Đối với những trường hợp Cơ quan điều tra đề nghị phê chuẩn lệnh khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm, thư tín, bưu kiện, bưu phẩm, Kiểm sát viên phải kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của các lệnh khám xét để báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn; nếu không phê chuẩn trong quyết định không phê chuẩn phải nêu rõ lý do.

2. Đối với những trường hợp không thể trì hoãn, những người được quy định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật tố tụng hình sự có quyền ra lệnh khám xét; sau khi khám xét người ra lệnh khám phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp. Kiểm sát viên phải kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của các lệnh, các biên bản khám xét của Cơ quan điều tra để kịp thời phát hiện vi phạm và yêu cầu sửa chữa các vi phạm pháp luật; theo dõi và kiểm tra việc bảo quản tài sản, xử lý vật chứng, giải quyết xử lý kịp thời những vấn đề liên quan đến vật chứng, tài sản theo đúng quy định tại các Điều 75, 76 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Điều 20. Kiểm sát việc lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án

1. Kiểm sát viên phải chủ động yêu cầu Điều tra viên kịp thời lấy lời khai của những người làm chứng và người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, không để sót những người làm chứng quan trọng mà họ trực tiếp nghe được, nhìn thấy hành vi phạm tội; bảo đảm cho họ thực hiện quyền đưa ra tài liệu, đồ vật và những yêu cầu của mình để làm rõ vụ án. Nếu có điều kiện thì đồng thời với việc ghi lời khai, có thể tiến hành ghi âm, chụp ảnh, ghi hình và phải lập biên bản theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Khi kiểm sát việc lấy lời khai người làm chứng và người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên thực hiện nghiêm chỉnh các quy định tại các Điều 133, 134, 135, 136 và 137 của Bộ luật tố tụng hình sự.

3. Kiểm sát viên có thể trực tiếp lấy lời khai người làm chứng và người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án để kiểm tra chứng cứ trong các trường hợp lời khai của họ có mâu thuẫn với nhau hoặc với chứng cứ đã thu thập được hoặc có nghi ngờ khác. Khi lấy lời khai của người dưới 16 tuổi, Kiểm sát viên phải thực hiện đúng quy định tại các Điều 133, 135 và 137 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Điều 21. Kiểm sát việc hỏi cung bị can

1. Kiểm sát viên phải chủ động bàn với Điều tra viên kế hoạch và đề ra yêu cầu hỏi cung bị can, đồng thời kiểm sát quá trình hỏi cung bị can của Điều tra viên. Nếu thấy chưa đạt yêu cầu thì tiếp tục nêu yêu cầu để Điều tra viên hỏi cung được đầy đủ, khách quan, thu thập cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ xác định không có tội. Những vụ án phức tạp hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì Kiểm sát viên phải trực tiếp tham gia việc hỏi cung bị can cùng với Điều tra viên.

2. Khi kiểm sát việc hỏi cung, Kiểm sát viên chủ động yêu cầu Điều tra viên hỏi cung phải làm sáng tỏ những yếu tố cấu thành tội phạm đã khởi tố, giải quyết mâu thuẫn trong lời khai của bị can và việc hỏi cung bị can phải thực hiện đúng quy định tại các Điều 131, 132 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, khi Cơ quan điều tra yêu cầu hoặc khi đã kết thúc điều tra mà bị can kêu oan, lúc nhận tội, lúc chối tội, hoặc có dấu hiệu dụ cung, mớm cung, bức cung, bị nhục hình và trong trường hợp bị can bị khởi tố về tội Bộ luật hình sự quy định có hình phạt tử hình, thì Kiểm sát viên phải trực tiếp hỏi cung bị can để làm rõ. Những trường hợp bị can bị khởi tố về tội đặc biệt nghiêm trọng, vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có thể trực tiếp hỏi cung bị can. Khi trực tiếp hỏi cung bị can, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên phải lập biên bản hỏi cung bị can theo quy định tại Điều 95 và 132 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nếu có ghi âm thì sau khi hỏi cung phải phát lại để bị can và người hỏi cùng nghe, cùng ký xác nhận vào biên bản hỏi cung bị can.

3. Sau khi vụ án kết thúc điều tra, Kiểm sát viên phải hỏi cung bị can khi thấy cần thiết để kiểm tra tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Điều 22. Kiểm sát việc đối chất và nhận dạng

1. Khi phát hiện có sự mâu thuẫn trong lời khai giữa hai hay nhiều người tham gia tố tụng hoặc khi cần thiết phải nhận dạng người hay đồ vật, Kiểm sát viên chủ động yêu cầu Điều tra viên tiến hành việc đối chất hoặc nhận dạng.

Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ việc đối chất hoặc nhận dạng để các hoạt động này được thực hiện theo đúng quy định tại các Điều 138, 139 và phải lập biên bản theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật tố tụng hình sự. Khi kiểm sát việc đối chất hoặc nhận dạng, Kiểm sát viên phải đề ra nội dung cần đối chất, nhận dạng để làm sáng tỏ vụ án và giải quyết mâu thuẫn, Kiểm sát viên có thể trực tiếp hoặc cùng Điều tra viên tiến hành việc đối chất, nhận dạng.

2. Sau khi kết thúc điều tra, qua nghiên cứu hồ sơ vụ án mà phát hiện có sự mâu thuẫn trong lời khai giữa hai hay nhiều người thì Kiểm sát viên tiến hành đối chất, việc tiến hành đối chất theo quy định tại Điều 138 của Bộ luật tố tụng hình sự. Khi thấy cần phải nhận dạng thì kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành việc nhận dạng.

Điều 23. Kiểm sát việc thực nghiệm điều tra

1. Đối với những vụ án cần thực nghiệm điều tra để giải quyết những mâu thuẫn giữa thực tế khách quan với các chứng cứ khác trong vụ án, trước khi tiến hành thực nghiệm, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kế hoạch, nội dung của việc thực nghiệm điều tra để chủ động kiểm sát việc thực nghiệm điều tra của Cơ quan điều tra. Bảo đảm việc thực nghiệm điều tra phải có người chứng kiến, trong trường hợp cần thiết người bị tạm giữ, bị can, người bị hại, người làm chứng cũng có thể được tham gia thực nghiệm điều tra. Việc thực nghiệm điều tra phải được lập biên bản theo quy định tại Điều 95, 125 của Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Sau khi kết thúc điều tra, qua nghiên cứu hồ sơ, thấy chưa đủ cơ sở để kiểm tra, kết luận những tài liệu, những tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án và xét thấy cần phải thực nghiệm điều tra hoặc thực nghiệm điều tra lại thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành thực nghiệm điều tra hoặc thực nghiệm điều tra lại. Viện kiểm sát chỉ tiến hành thực nghiệm điều tra hoặc thực nghiệm điều tra lại những trường hợp đơn giản và khi tiến hành phải lập biên bản theo quy định tại các Điều 95, 125 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Điều 24: Kiểm sát việc trưng cầu giám định và việc giám định

1. Kiểm sát viên phải chủ động phát hiện các vấn đề cần phải giám định để báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định. Kiểm sát viên phải kiểm sát việc trưng cầu giám định của Cơ quan điều tra và việc giám định của người giám định theo đúng quy định tại các Điều 155, 156, 157 và 159 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Kiểm sát viên có quyền tham dự việc giám định đối với những trường hợp phức tạp, nhưng phải báo trước cho người giám định.

2. Đối với quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan điều tra và kết luận giám định, Kiểm sát viên phải kiểm sát những vấn đề sau:

a) Nội dung yêu cầu giám định phải cụ thể, sát sự việc và những vấn đề cần kết luận.

b) Kết luận của giám định viên giải đáp các nội dung của quyết định trưng cầu giám định.

3. Nếu thấy có nghi ngờ về tính khách quan, tính khoa học của bản kết luận giám định; hoặc thấy kết luận giám định không phù hợp với các chứng cứ khác, thì Kiểm sát viên phải báo cáo Viện trưởng, phó Viện trưởng để nêu yêu cầu với Cơ quan điều tra hoặc trực tiếp yêu cầu giám định viên giải đáp thêm; quyết định trưng cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại. Yêu cầu giám định viên đã giám định lần trước không được giám định lại và phải giao nộp đầy đủ tài liệu có liên quan cho người giám định lại.

4. Trường hợp giám định viên trưởng tiến hành giám định mà có khiếu nại hoặc cần phải tiến hành giám định lại thì yêu cầu Hội đồng giám định khác tiến hành tổ chức giám định lại.

Điều 25: Kiểm sát việc dùng tiếng nói và chữ viết trong trình tự tố tụng hình sự

1. Kiểm sát viên phải yêu cầu Cơ quan điều tra bảo đảm cho người tham gia tố tụng dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, mọi hoạt động tố tụng hình sự được tiến hành bằng tiếng Việt theo quy định tại Điều 24 của Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Đối với những người tham gia tố tụng không biết tiếng Việt, Kiểm sát viên phải yêu cầu Cơ quan điều tra đảm bảo cho họ có quyền thông qua người phiên dịch tìm hiểu hồ sơ, tham gia vào những hoạt động tố tụng. Trường hợp người tham gia tố tụng không biết chữ Việt thì khi tiến hành tố tụng phải có người phiên dịch và cùng ký biên bản.

Điều 26. Thay đổi kiểm sát viên, thay đổi Điều tra viên, thay đổi người tiến hành tố tụng

1. Kiểm sát viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu thuộc một trong những trường hợp đã quy định tại Điều 42 của Bộ luật tố tụng hình sự. Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp ra quyết định thay đổi và cử Kiểm sát viên khác tiến hành tố tụng đối với vụ án theo quy định tại Điều 45 của Bộ luật tố tụng hình sự; nếu Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.

2. Kiểm sát viên có trách nhiệm xem xét để báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên, nếu Điều tra viên thuộc một những trường hợp quy định tại Điều 42 của Bộ luật tố tụng hình sự; nếu Điều tra viên là Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải thay đổi hoặc phải từ chối tiến hành tố tụng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 44 của Bộ luật tố tụng hình sự thì Viện trưởng Viện kiểm sát ra quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp tiến hành điều tra.

Điều 27. Kiểm sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng

1. Kiểm sát viên phải yêu cầu Điều tra viên giải thích và bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng trong hoạt động điều tra theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật tố tụng hình sự. Việc giải thích quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng phải được ghi vào biên bản tiến hành hoạt động tố tụng đó.

2. Trong thời hạn 3 ngày, kể từ khi nhận được đề nghị tham gia tố tụng của người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, Kiểm sát viên phải xem xét các giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, đến việc bảo vệ quyền lợi của đương sự theo quy định của pháp luật để báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp giấy chứng nhận người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự để họ tham gia tố tụng đối với vụ án; trường hợp từ chối cấp giấy chứng nhận phải nêu rõ lý do và thông báo cho họ biết.

Đối với trường hợp cần giữ bí mật đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.

Điều 28. Kiểm sát việc nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra, việc uỷ thác điều tra, việc giải quyết tranh chấp thẩm quyền điều tra

1. Cần xác định rõ việc nhập hoặc tách vụ án hình sự là để tiến hành điều tra và xử lý tội phạm được nhanh chóng, kịp thời phục vụ yêu cầu đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm; do đó khi nhận được quyết định nhập hoặc tách vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên phải nghiên cứu, đề xuất với Viện trưởng, Phó Viện trưởng bảo đảm thực hiện việc nhập, hoặc tách vụ án hình sự theo đúng quy định tại Điều 117 của Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Việc uỷ thác điều tra chỉ tiến hành giữa các Cơ quan điều tra. Không được uỷ thác điều tra cho các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo đúng quy định tại Điều 118 của Bộ luật tố tụng hình sự.

3. Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các Cơ quan điều tra thuộc các ngành khác nhau thì Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp, nơi tội phạm xảy ra hoặc nơi phát hiện tội phạm giải quyết. Nếu không thống nhất thì báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.

Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các Cơ quan điều tra cùng ngành ở cấp nào thì Viện trưởng yêu cầu Thủ trưởng quản lý cấp đó giải quyết.

Điều 29. Kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án và giữ bí mật điều tra

1. Đối với các trường hợp Cơ quan điều tra đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn các lệnh, quyết định thì kiểm sát viên yêu cầu điều tra viên đánh số bút lục và lập mục lục các tài liệu gửi Viện kiểm sát để xét phê chuẩn. Sau khi xét phê chuẩn xong kiểm sát viên đóng dấu Viện kiểm sát vào các bút lục tài liệu đó để chuyển trả lại Cơ quan điều tra.

2. Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ việc lập hồ sơ của Điều tra viên; bảo đảm thủ tục tố tụng và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án đúng quy định, các tài liệu trong hồ sơ phải được sắp xếp, đánh số bút lục theo trình tự; nếu phát hiện tài liệu bị mất mát, hư hỏng hoặc bị sửa chữa, kịp thời yêu cầu Điều tra viên khắc phục, làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm để xử lý vi phạm.

3. Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra, Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên giữ bí mật điều tra và thông báo cho người tham gia tố tụng, người chứng kiến không được tiết lộ bí mật điều tra. Nếu phát hiện người tham gia tố tụng, người chứng kiến tiết lộ bí mật điều tra, Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát để tuỳ theo tính chất mức độ vi phạm của những người này mà kiến nghị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại các Điều 263, 264, 286, 287 và 327 của Bộ luật hình sự.

Điều 30. Việc chuyển vụ án để điều tra theo thẩm quyền

1. Trong trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra của mình, theo đề nghị của Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát ra quyết định chuyển vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền tiếp tục điều tra; quyết định chuyển vụ án được chuyển cho Viện kiểm sát có thẩm quyền để thực hiện thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra đối với vụ án đó.

2. Việc chuyển vụ án cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc ngoài phạm vi Quân khu thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát Quân khu hoặc tương đương quyết định.

3- Những vụ án do Viện kiểm sát cấp trên chuyển xuống, Viện kiểm sát cấp dưới chuyển lên hoặc chuyển cho các cơ quan ngang cấp để điều tra, truy tố theo thẩm quyền thì Viện trưởng quyết định.

4. Những vụ án có nhiều tội danh khác nhau thì trách nhiệm tiếp nhận để thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra là đơn vị kiểm sát điều tra được phân công phụ trách tội danh chính của vụ án (tội có mức hình phạt cao nhất trong các tội danh đã khởi tố). Trường hợp không rõ thẩm quyền hoặc có ý kiến khác nhau về thẩm quyền thụ lý thì việc giao vụ án cho Viện kiểm sát nào do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.

Khi chuyển hồ sơ vụ án phải chuyển theo hồ sơ kiểm sát điều tra vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết. Hồ sơ kiểm sát điều tra án hình sự phải được đánh số và lập danh mục thống kê tài liệu để Viện kiểm sát nơi tiếp nhận tiếp tục thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án.

Điều 31. Kiểm sát chấp hành thời hạn điều tra, phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại

1. Kiểm sát viên phải có biện pháp kiểm sát chặt chẽ việc chấp hành thời hạn điều tra, thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại theo quy định tại các Điều 119, 121 của Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án theo đề nghị của Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên phải kiểm tra các tài liệu, chứng cứ để báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng xét quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra. Đối với trường hợp thuộc thẩm quyền gia hạn của Viện kiểm sát cấp trên, Viện kiểm sát cấp dưới phải có văn bản báo cáo rõ nội dung vụ án và lý do xin gia hạn do Viện trưởng, Phó Viện trưởng ký, gửi cùng hồ sơ vụ án lên Viện kiểm sát cấp trên xin gia hạn. Chậm nhất trước khi hết hạn điều tra 5 ngày, hồ sơ vụ án phải có ở Viện kiểm sát cấp trên để xem xét việc gia hạn.

Trước khi hết hạn điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có thẩm quyền phải xét, quyết định gia hạn hoặc không gia hạn thời hạn điều tra vụ án; nếu không gia hạn phải nêu rõ lý do.

3. Đối với vụ án phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại, Kiểm sát viên phải theo dõi chặt chẽ để đảm bảo về thời hạn và kết quả điều tra.

Điều 32. Phát hiện và xử lý vi phạm

1. Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra vụ án hình sự, Kiểm sát viên phải kịp thời phát hiện vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra để yêu cầu khắc phục, báo cáo Viện trưởng yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra; nếu vi phạm của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm, thì báo cáo Viện trưởng, yêu cầu Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra khởi tố vụ án hình sự. Nếu hành vi của điều tra viên có dấu hiệu tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp thì báo cáo đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao xem xét giao cho Cục điều tra của Viện kiểm sát khởi tố điều tra theo thẩm quyền. Đối với các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra; Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng huỷ bỏ quyết định trái pháp luật đó.

2. Quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra vụ án hình sự, Kiểm sát viên phải yêu cầu Cơ quan điều tra làm rõ nguyên nhân và điều kiện phạm tội; báo cáo Viện trưởng ra kiến nghị với cơ quan, tổ chức áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.

Chương V

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC TẠM ĐÌNH CHỈ VÀ KẾT THÚC ĐIỀU TRA

Điều 33. Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra và truy nã bị can

1. Kiểm sát viên phải kiểm tra căn cứ trong việc ra quyết định tạm đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra, nếu thấy việc tạm đình chỉ điều tra không có căn cứ thì báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra theo quy định tại Điều 160 của Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Khi phát hiện bị can trốn hoặc không xác định được bị can ở đâu thì Kiểm sát viên yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can theo quy định tại Điều 161 Bộ luật tố tụng hình sự.

3. Sau khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra hoặc Viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ vụ án thì Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án phải theo dõi, quản lý; khi thấy lý do tạm đình chỉ điều tra không còn nữa thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra vụ án hoặc Viện kiểm sát quyết định phục hồi điều tra.

Khi Kiểm sát viên phụ trách vụ án chuyển công tác hoặc vì lý do khác thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng phân công Kiểm sát viên khác tiếp tục theo dõi quản lý.

Điều 34. Kiểm sát việc kết thúc điều tra

Kiểm sát viên phải kiểm sát việc kết thúc điều tra vụ án, bảo đảm các vụ án đã được khởi tố điều tra phải được kết thúc bằng bản kết luận điều tra đề nghị Viện kiểm sát truy tố, hoặc bản kết luận điều tra kèm theo quyết định đình chỉ điều tra. Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, quyết định đình chỉ điều tra phải được giao cho bị can và người bào chữa theo quy định tại Điều 162 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, bản kết luận điều tra trong trường hợp đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra phải đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 163, 164 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Điều 35. Kiểm sát việc đình chỉ điều tra

1. Kiểm sát viên phải nghiên cứu hồ sơ vụ án để kiểm tra căn cứ của việc đình chỉ điều tra theo quy định tại Điều 164 của Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Sau khi nhận được quyết định đình chỉ điều tra, hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ vụ án nếu thấy việc đình chỉ điều tra có căn cứ thì báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng trả lại hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền. Nếu thấy lý do việc đình chỉ điều tra không có căn cứ thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng ra quyết định huỷ bỏ quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra, yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra hoặc ra quyết định truy tố nếu đủ căn cứ để truy tố theo quy định tại Điều 164 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Điều 36. Kiểm sát việc phục hồi điều tra

Khi nhận được quyết định phục hồi điều tra vụ án, Kiểm sát viên kiểm tra căn cứ phục hồi điều tra của Cơ quan điều tra, báo cáo Viện trưởng ra một trong các quyết định sau đây:

1. Phân công Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng đối với vụ án, nếu quyết định phục hồi điều tra đó có căn cứ và đúng quy định tại Điều 165 của Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Quyết định huỷ bỏ quyết định phục hồi điều tra của Cơ quan điều tra, nếu quyết định phục hồi điều tra đó không có căn cứ.

Chương VI

QUYẾT ĐỊNH TRUY TỐ, ĐÌNH CHỈ HOẶC TẠM ĐÌNH CHỈ VỤ ÁN

Điều 37. Quyết định truy tố, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án

1. Khi nhận được bản kết luận điều tra đề nghị truy tố và hồ sơ vụ án hình sự, Kiểm sát viên phải kiểm tra ngay các văn bản về thủ tục tố tụng, các biện pháp ngăn chặn đã áp dụng để báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn.

2. Kiểm sát viên phải nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án để nắm vững nội dung vụ án và diễn biến quá trình điều tra. Trong trường hợp cần thiết tiến hành một số hoạt động điều tra như hỏi cung bị can, nhân chứng; tiến hành đối chất, thực nghiệm điều tra… để nắm vững chứng cứ và các tình tiết khác nhằm đánh giá một cách khách quan, toàn diện vụ án. Trong thời hạn truy tố theo luật định phải báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra một trong các quyết định sau đây:

a) Nếu có đủ căn cứ truy tố thì Kiểm sát viên lập bản cáo trạng truy tố bị can và báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng duyệt ký; gửi bản cáo trạng kèm theo hồ sơ vụ án đến Toà án có thẩm quyền xét xử. Bản cáo trạng thể hiện đầy đủ các nội dung theo đúng quy định tại Điều 167 của Bộ luật tố tụng hình sự và được lập theo mẫu do Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định; nếu vụ án không thuộc thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm của mình, thì Viện trưởng Viện kiểm sát ra quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án;

b) Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung, nếu thấy hồ sơ vụ án thiếu những chứng cứ quan trọng mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được; có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác hoặc có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng;

c) Quyết định đình chỉ vụ án, nếu có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và Điều 107 của Bộ luật tố tụng hình sự hoặc tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 của Bộ luật hình sự.

d) Quyết định tạm đình chỉ vụ án, nếu có một trong những quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật tố tụng hình sự.

đ) Tất cả các quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát cấp dưới phải được gửi lên Viện kiểm sát cấp trên. Nếu quyết định đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát cấp dưới không có căn cứ và trái pháp luật thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định huỷ bỏ quyết định đó và yêu cầu Viện kiểm sát cấp dưới tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

3. Thời hạn nghiên cứu hồ sơ vụ án đối với từng loại tội phạm và ra các quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố được thực hiện theo quy định tại Điều 166 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Điều 38. Việc chuyển vụ án để thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm theo thẩm quyền

1. Những vụ án hình sự được thụ lý điều tra ở cấp trên sau khi kết thúc điều tra thì Viện kiểm sát cấp trên làm bản cáo trạng truy tố. Bản cáo trạng và hồ sơ vụ án phải được chuyển ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm. Sau khi thụ lý và phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án, thì Kiểm sát viên chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền để xét xử sơ thẩm vụ án.

2. Đối với những vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có thể yêu cầu Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới cử Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm nghiên cứu hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra đề nghị truy tố ngay từ khi Cơ quan điều tra chuyển đến Viện kiểm sát cấp trên.

3. Sau khi đã thụ lý vụ án để thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát cấp dưới phải làm đầy đủ thủ tục, trách nhiệm theo quy định. Nếu có quan điểm truy tố khác với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát cấp trên thì báo cáo ngay trước ngày mở phiên toà sơ thẩm để Viện kiểm sát cấp trên kịp thời giải quyết.

4. Đối với vụ án mà Toà án trả lại để điều tra bổ sung, Kiểm sát viên kiểm tra căn cứ quyết định trả hồ sơ của Toà án và báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng xem xét, quyết định. Nếu việc trả hồ sơ của Toà án có căn cứ thì làm văn bản nêu rõ lý dovà chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cấp trên bổ sung; nếu việc trả hồ sơ của Toà án không có căn cứ thì chuyển hồ sơ lại cho Toà án và làm văn bản yêu cầu đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.

Chương VII

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG THỦ TỤC TỐ TỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN, BIỆN PHÁP BẮT BUỘC CHỮA BỆNH VÀ THỦ TỤC RÚT GỌN

Điều 39. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc áp dụng thủ tục tố tụng điều tra đối với người chưa thành niên

1. Trong vụ án hình sự có người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can là người chưa thành niên, Kiểm sát viên phải yêu cầu Cơ quan điều tra xác định rõ: tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người chưa thành niên; điều kiện sinh sống và giáo dục; có hay không có người thành niên xúi giục; nguyên nhân và điều kiện phạm tội; mức độ phạm tội; lỗi cố ý hay vô ý, động cơ hoặc mục đích phạm tội để báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định: khởi tố bị can, lệnh bắt, lệnh gia hạn tạm giữ, lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra theo quy định tại Điều 302 và Điều 303 của Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Khi kiểm sát việc lấy lời khai, hoặc hỏi cung những người bị tạm giữ, bị can là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc là người chưa thành niên có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc trong những trường hợp cần thiết khác, Kiểm sát viên phải yêu cầu Điều tra viên triệu tập đại diện của gia đình, cho đại diện của nhà trường, tổ chức nơi người đó học tập, lao động, sinh sống tham gia tố tụng; đảm bảo việc tham gia tố tụng của gia đình, nhà trường, tổ chức. Trong trường hợp đã được triệu tập mà đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng thì việc lấy lời khai hoặc hỏi cung những người này vẫn được tiến hành và trong biên bản lấy lời khai hoặc biên bản hỏi cung phải ghi rõ việc này theo quy định tại Điều 306 của Bộ luật tố tụng hình sự.

3. Viện trưởng Viện kiểm sát có thể quyết định miễn truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội theo quy định tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 của Bộ luật hình sự.

Điều 40. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh

1. Khi phát hiện người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 13 của Bộ luật hình sự, thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra trưng cầu giám định pháp y để làm rõ: tình trạng tâm thần và bệnh tâm thần của người có hành vi nguy hiểm cho xã hội; hoặc người đó có mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình hay không; bảo đảm có người bào chữa hoặc đại diện hợp pháp của người có hành vi nguy hiểm cho xã hội mắc bệnh tâm thần có thể tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 312 của Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Kiểm sát viên phải kiểm tra kỹ hồ sơ vụ án, kết luận của Hội đồng giám định pháp y để báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra quyết định xử lý vụ án theo Điều 313 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Điều 41. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc áp dụng thủ tục rút gọn

1. Khi nhận được quyết định khởi tố vụ án và đề nghị của Cơ quan điều tra hoặc xét thấy vụ án có đủ các điều kiện quy định tại Điều 319 của Bộ luật tố tụng hình sự thì Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định áp ụng thủ tục rút gọn, Viện kiểm sát gửi quyết định cho Cơ quan điều tra và bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Nếu quyết định áp dụng thủ tục rút gọn bị khiếu nại thì trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát có trách nhiệm giải quyết khiếu nại; nếu khiếu nại đó có căn cứ thì Viện trưởng ra quyết định huỷ bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và vụ án được tiến hành theo thủ tục chung.

2. Sau khi có quyết định áp dụng thủ tục rút gọn, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ thời hạn điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Điều tra viên, bảo đảm thời hạn tạm giữ, tạm giam bị can để điều tra, truy tố phải theo đúng quy định tại Điều 321, Điều 322 của Bộ luật tố tụng hình sự.

3. Trong thời hạn 4 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định đề nghị truy tố của Cơ quan điều tra và hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên phải báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra một trong những quyết định sau đây:

a)Truy tố bị can ra trước Toà án bằng quyết định truy tố;

b) Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung;

c) Quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án.

Trong trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc tạm đình chỉ vụ án, thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát phải ra quyết định huỷ bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và vụ án được giải quyết theo thủ tục chung.

Chương VIII

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KSĐT CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

Điều 42. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với kết quả giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng Cơ quan điều tra và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra đã được Viện kiểm sát phê chuẩn

1. Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra giải quyết, nhưng bị khiếu nại thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp giải quyết cuối cùng.

2. Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Thủ trưởng Cơ quan điều tra và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra đã được Viện kiểm sát phê chuẩn, do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp giải quyết. Nếu kết quả giải quyết của Viện kiểm sát cùng cấp bị khiếu nại thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

Điều 43. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểm sát

1. Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp giải quyết. Nếu kết quả giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới bị khiếu nại thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

2. Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới, do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

Điều 44. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra

1. Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố giải quyết. Nếu kết quả giải quyết khiếu nại của Viện trưởng bị khiếu nại, thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

2. Khiếu nại quyết định tố tụng đã được Viện kiểm sát phê chuẩn do Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn quyết định đó giải quyết. Nếu kết quả giải quyết bị khiếu nại thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

Điều 45. Thời hạn giải quyết khiếu nại

1. Thời hạn giải quyết các khiếu nại nêu tại các Điều 41, 42 và 43 của Quy chế này được thực hiện theo quy định tại các Điều 329, 330 và 332 của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

a) Thời hạn giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp là 7 ngày.

b) Thời hạn giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày.

2. Khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam phải được Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát xem xét, giải quyết ngay. Trong trường hợp cần phải có thời gian xác minh thêm thì thời hạn giải quyết không được quá 3 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu kết quả giải quyết bị khiếu nại thì trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết. Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

Điều 46. Giải quyết tố cáo

1. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật của Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự và hành vi tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện trưởng Viện kiểm sát xem xét, giải quyết.

2. Trong trường hợp người bị tố cáo là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết.

3. Thời hạn giải quyết tố cáo đối với người bị tố cáo nói ở khoản 1, 2 của điều này là không quá 60 ngày kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết không quá 90 ngày.

4. Hành vi vi phạm pháp luật của những người nêu tại khoản 1, 2 của điều này có dấu hiệu tội phạm thì Viện trưởng Viện kiểm sát chuyển cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền kiểm tra, xác minh và giải quyết theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật tố tụng hình sự.

5. Tố cáo có liên quan đến hành vi bắt, tạm giữ, tạm giam, thì Viện trưởng Viện kiểm sát phải xem xét, giải quyết ngay. Trong trường hợp phải xác minh thêm thì thời hạn không quá 3 ngày, kể từ ngày nhận được tố cáo.

Điều 47. Trách nhiệm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo

1. Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự, Viện kiểm sát các cấp phải mở sổ thụ lý đầy đủ các khiếu nại, tố cáo; phải giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo đã tiếp nhận được.

2. Sau khi đã giải quyết các khiếu nại, tố cáo, Viện kiểm sát phải thực hiện ngay các việc sau đây:

a) Phải thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo biết;

b) Xử lý nghiêm minh người có vi phạm pháp luật;

c) áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra;

d) Bảo đảm kết quả giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết của mình.

Chương IX

THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

Điều 48. Nguyên tắc chung

1. Đối với những trường hợp phạm tội ở nước ngoài được chuyển về Việt Nam để tiếp tục xử lý, thì việc điều tra, truy tố phải tuân theo những quy định chung của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với nước đã gia nhập hoặc tham gia ký kết.

2. Đối với trường hợp yêu cầu tương trợ tư pháp không phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập và pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các yêu cầu tương trợ tư pháp gây phương hại đến chủ quyền an ninh quốc gia hoặc lợi ích quan trọng khác của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ chối thực hiện.

Điều 49. Uỷ thác điều tra

1. Đối với các trường hợp Cơ quan điều tra nước ngoài yêu cầu hỗ trợ tư pháp thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao yêu cầu Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong nước thực hiện việc điều tra theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Sau khi có kết quả điều tra theo uỷ thác, Kiểm sát viên phải kiểm tra lại các vấn đề uỷ thác, báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao để làm thủ tục chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền của nước đã uỷ thác.

Điều 50. Dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Đối với các vụ án hình sự có liên quan đến nước ngoài, việc dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự và chuyển giao hồ sơ và vật chứng của vụ án do Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện theo quy định tại các Điều 343và 345 của Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Nếu thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 244 của Bộ luật tố tụng hình sự thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao từ chối dẫn độ và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền tương ứng của nước ngoài đã gửi yêu cầu dẫn độ biết.

Chương X

QUAN HỆ TRONG CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

Điều 51. Quan hệ lãnh đạo và quản lý công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

1. Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên. Viện trưởng Viện kiểm sát các địa phương, Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Các Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra phải chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về quyết định và hành vi tố tụng của mình.

2. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trực tiếp chỉ đạo, quản lý công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra trong toàn ngành. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự quân khu trực tiếp chỉ đạo, quản lý công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra trong địa bàn phụ trách; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát khu vực trực tiếp tiến hành tố tụng và quản lý, phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án thuộc thẩm quyền.

3. Khi có ý kiến khác nhau giữa Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra với người lãnh đạo trực tiếp hoặc giữa các đơn vị nghiệp vụ cùng cấp, thì thủ trưởng các đơn vị nghiệp vụ báo cáo Phó Viện trưởng phụ trách quyết định, Viện trưởng là người quyết định cuối cùng. Quyết định của Viện trưởng, Phó Viện trưởng được ghi vào báo cáo của đơn vị nghiệp vụ và lưu trong hồ sơ kiểm sát điều tra vụ án.

Đối với những vụ án nghiêm trọng, phức tạp, án trọng điểm, nếu thấy cần thiết, Viện trưởng có thể đưa ra Uỷ ban kiểm sát hoặc tập thể lãnh đạo Viện thảo luận trước khi quyết định. Trong trường hợp cần thỉnh thị Viện kiểm sát cấp trên thì thực hiện theo đúng Quy chế về chế độ báo cáo thỉnh thị trong ngành.

Điều 52. Quan hệ giữa các Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra

1. Trong trường hợp một vụ án nếu có nhiều Kiểm sát viên cùng cấp hoặc nhiều cấp được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì Viện trưởng phải phân công Kiểm sát viên phụ trách. Kiểm sát viên được phân công phụ trách phải chịu trách nhiệm trước Viện trưởng và lãnh đạo đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra. Nếu có ý kiến khác nhau giữa các Kiểm sát viên thì Kiểm sát viên được phân công phụ trách báo cáo với Thủ trưởng đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra xem xét, giải quyết.

2. Trường hợp Kiểm sát viên được phân công vụ án độc lập thì trực tiếp báo cáo với lãnh đạo đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.

3. Khi họp liên ngành để bàn việc giải quyết vụ án ( có thể do Cơ quan điều tra hoặc do Viện kiểm sát chủ trì) đều phải được lập thành biên bản lưu hồ sơ kiểm sát điều tra. Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát chủ trì cuộc họp phải ký vào biên bản.

Điều 53. Quan hệ giữa công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra với công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù

1. Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án có bị can tạm giam phải thường xuyên liên hệ với Kiểm sát viên làm công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người thi hành án phạt tù để nắm trạng thái tâm lý, diễn biến tư tưởng của bị can, những khiếu nại của bị can đối với các hoạt động điều tra của Điều tra viên, đảm bảo hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ đúng pháp luật, những vi phạm phải được khắc phục, sửa chữa.

2. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra phải thông báo cho Kiểm sát viên kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người thi hành án phạt tù những trường hợp từ chối phê chuẩn gia hạn tạm giữ, tạm giam, gia hạn thời hạn tạm giam, huỷ bỏ việc tạm giữ, tạm giam, để Kiểm sát viên kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam kiểm tra, theo dõi, đảm bảo các lệnh, quyết định của Viện kiểm sát được thực hiện nghiêm chỉnh.

Điều 54. Quan hệ giữa công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra với công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm

1. Thực hiện quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao về thông khâu giữa công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra với thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án thì đồng thời thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm. Trường hợp vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp, án trọng điểm, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể phân công 2 Kiểm sát viên cùng tiến hành tố tụng đối với vụ án; cử Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế khi Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vắng mặt.

2. Đối với các vụ án do Viện kiểm sát cấp trên truy tố chuyển cho cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với vụ án đó phải có trách nhiệm trao đổi với Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm về những vấn đề thuộc nội dung vụ án bao gồm: tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, ý kiến chỉ đạo về đường lối giải quyết vụ án, những vấn đề cần lưu ý khi điều tra công khai tại phiên toà để Kiểm sát viên tham gia phiên toà nắm vững vụ án, bảo đảm cho việc thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án có kết quả.

Điều 55. Quan hệ giữa công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra với công tác kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo

Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra phải phối hợp với khâu kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Viện kiểm sát, kịp thời báo cáo Viện trưởng giải quyết các khiếu nại, tố cáo về quyết định và hành vi tố tụng của những người tham gia tố tụng. Xem xét lại các quyết định giải quyết khiếu nại của Viện kiểm sát cấp dưới theo đúng quy định tại các Điều 329, 330, 332, 333, 337, 338 và 339 Bộ luật tố tụng hình sự và quy định của Quy chế này. Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra phải thông báo cho khâu kiểm sát xét khiếu tố để nắm được kết quả và phối hợp trả lời, giải thích cho công dân.

Chương XI

QUẢN LÝ, CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

Điều 56. Quản lý chỉ đạo

1. Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp phải quản lý chỉ đạo toàn bộ công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của cấp mình, đồng thời phải thường kỳ báo cáo lên Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự ở địa phương mình. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải quản lý chỉ đạo công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát cấp dưới.

2. Vụ trưởng các Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự (Vụ I, Vụ II) Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát Quân sự trung ương tham mưu giúp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quản lý chỉ đạo công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự trong toàn ngành; tổng hợp các vi phạm của Cơ quan điều tra trong hoạt động tố tụng hình sự để kiến nghị sửa chữa.

3. Trưởng phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm cấp tỉnh có trách nhiệm tham mưu giúp Viện trưởng cấp mình quản lý, chỉ đạo công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm của cấp mình và của cấp dưới. Thông qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra và chỉ đạo Viện kiểm sát cấp huyện tổng kết và tổ chức rút kinh nghiệm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm; cung cấp tư liệu cho các Vụ nghiệp vụ để tổng kết việc áp dụng pháp luật, xây dựng các chuyên đề nghiệp vụ. Tập hợp các vi phạm của Cơ quan điều tra trong hoạt động tố tụng hình sự để kiến nghị sửa chữa.

Điều 57. Chế độ lập hồ sơ, sử dụng, quản lý hồ sơ kiểm sát án hình sự

1. Khi thực hiện công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự, Kiểm sát viên phải lập hồ sơ kiểm sát án hình sự theo đúng quy định tại Điều 4 Quyết định số 24/QĐ ngày 6/ 8/1993 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Hồ sơ kiểm sát điều tra án hình sự phải có đầy đủ các tài liệu phản ảnh thủ tục tố tụng, các tài liệu điều tra thu thập được làm chứng cứ chứng minh tội phạm, người có hành vi phạm tội, các tài liệu phản ánh hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự của Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng, Viện trưởng các tài liệu hướng dẫn chỉ đạo về nghiệp vụ của Viện kiểm sát cấp trên và của Lãnh đạo liên ngành và cấp uỷ (nếu có). Các tài liệu này có giá trị phục vụ cho công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án cũng phải được đánh số bút lục như hồ sơ chính.

2. Việc quản lý, sử dụng, bảo quản hồ sơ kiểm sát điều tra án hình sự được thực hiện theo quy định tại các Điều 3, 9, 10, 11 và 12 của Quyết định số 24/QĐ ngày 6/8/1993 và Quyết định số 92 ngày 01/01/2001 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Điều 58. Thỉnh thị và trả lời thỉnh thị

1. Trong khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, nếu có vướng mắc về chứng cứ, tội danh mà tự mình không thể quyết định được thì Viện kiểm sát cấp dưới báo cáo thỉnh thị Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp để hướng dẫn chỉ đạo. Báo cáo thỉnh thị Viện kiểm sát cấp trên do Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới ký gửi kèm theo hồ sơ vụ án.

2. Báo cáo thỉnh thị về đường lối xử lý vụ án phải do Viện trưởng ký. Trước khi báo cáo Viện kiểm sát cấp trên, tập thể Lãnh đạo Viện hoặc Uỷ ban kiểm sát thảo luận thống nhất đề xuất quan điểm xử lý; nếu không thống nhất phải báo cáo rõ lý lẽ các quan điểm khác nhau.

Trong thời hạn 7 ngày (đối với án cấp huyện) và 15 ngày (đối với án cấp tỉnh), kể từ ngày nhận được thỉnh thị và hồ sơ vụ án, đơn vị nghiệp vụ cấp trên (Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm) phải nghiên cứu kỹ hồ sơ và nội dung thỉnh thị và phải có văn bản hướng dẫn để Viện kiểm sát cấp thỉnh thị nghiên cứu thực hiện. Đối với những vụ án phức tạp về chứng cứ, cần phải có thời gian nghiên cứu thì phải thông báo lại để cấp thỉnh thị biết. Thời hạn nghiên cứu và trả lời thỉnh thị không được quá thời hạn giải quyết vụ án theo luật định. Hướng dẫn của đơn vị nghiệp vụ Viện kiểm sát cấp trên, Viện kiểm sát cấp dưới nghiên cứu vận dụng và chịu trách nhiệm về quyết định của mình; nếu không đồng ý với hướng dẫn của đơn vị nghiệp vụ cấp trên thì cấp thỉnh thị báo cáo cho đơn vị nghiệp vụ cấp trên biết. Nếu xét thấy cần thiết thì báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên xem xét và quyết định.

Ý kiến chỉ đạo về đường lối giải quyết vụ án của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên, Viện kiểm sát cấp dưới phải nghiêm túc thực hiện.

Điều 59. Chế độ báo cáo

1. Các Viện kiểm sát địa phương phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ báo cáo định kỳ về nghiệp vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra (tháng, 6 tháng, một năm), các báo cáo nghiệp vụ khác như báo cáo ban đầu (tiên tương), báo cáo chuyên đề, thông báo rút kinh nghiệm, kiểm tra hướng dẫn cấp dưới, kiến nghị vi phạm của cơ quan điều tra và những báo cáo khác theo quy định lên Viện kiểm sát nhân dân cấp trên theo quy định thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Viện kiểm sát cấp trên phải kịp thời nghiên cứu, phát hiện các khó khăn vướng mắc về nghiệp vụ và những vấn đề khác để hướng dẫn, chỉ đạo Viện kiểm sát cấp dưới thực hiện.

2. Sau khi thực hiện các công việc như kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám chỗ ở, chỗ làm việc, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng.v.v.. Kiểm sát viên phải báo cáo kết quả với Thủ trưởng đơn vị kiểm sát điều tra và Viện trưởng, Phó Viện trưởng có ý kiến chỉ đạo kịp thời.

Điều 60. Chế độ kiểm tra

1. Viện kiểm sát cấp trên phải có kế hoạch định kỳ kiểm tra hoặc kiểm tra đột xuất công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát cấp dưới để rút kinh nghiệm và hướng dẫn chỉ đạo và có kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ cho kiểm sát viên, cán bộ làm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm.

2. Viện trưởng Viện kiểm sát phải phải quản lý chặt chẽ hành vi và quyết định tố tụng của Phó Viện trưởng, của kiểm sát viên; thường xuyên kiểm tra để phát hiện kịp thời các vi phạm pháp luật để xử lý và rút kinh nghiệm.

Điều 61. Chế độ quản lý hồ sơ, tài liệu

1. Công văn giấy tờ, tài liệu gửi đi và đến phải đăng ký vào sổ sách văn thư, phải thực hiện chế độ lưu theo đúng quy định.

2. Kiểm sát viên làm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm có trách nhiệm quản lý hồ sơ tài liệu chặt chẽ, không được để mất tài liệu hồ sơ và thực hiện việc gửi lưu trữ hồ sơ theo quy định. Khi chuyển công tác khác hoặc bị thay đổi, Kiểm sát viên phải bàn giao ngay đầy đủ tài liệu của vụ án và những thông tin có liên quan cho Kiểm sát viên khác được phân công thay thế; việc giao nhận hồ sơ, tài liệu của vụ án phải lập biên bản giao, nhận.

Điều 62: Chế độ bảo mật

1. Các cán bộ, Kiểm sát viên làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm phải tuyệt đối giữ bí mật về thông tin trong vụ án. Nếu chưa có sự đồng ý của lãnh đạo Vụ, Viện, tuyệt đối không được cung cấp tin tức, tình hình, tài liệu, hồ sơ vụ án cho bất cứ người nào không có phận sự trong cơ quan cũng như ngoài cơ quan.

2. Phải giữ bí mật ý kiến của lãnh đạo đã chỉ đạo giải quyết vụ án, không để lọt cho người không có trách nhiệm biết.

3. Các văn bản hướng dẫn về nghiệp vụ đối với vụ án của Viện kiểm sát cấp trên được lưu vào hồ sơ kiểm sát án hình sự, không được đưa vào hồ sơ chính của vụ án.

4. Các báo cáo về kiểm sát điều tra chỉ gửi tới các cơ quan, đơn vị có liên quan trong nội bộ ngành, không được gửi cho các ngành khác. Việc gửi các tài liệu về hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra theo yêu cầu của cấp uỷ Đảng do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định.

5. Người trực tiếp giải quyết vụ án không được tiếp bị can, người bị hại và đương sự có liên quan đến vụ án ở ngoài trụ sở làm việc của cơ quan.

6. Hết giờ làm việc, hồ sơ, tài liệu phải được để trong tủ có khoá của cơ quan. Nếu chưa được sự đồng ý của lãnh đạo Viện hoặc Thủ trưởng đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, tuyệt đối không được đem tài liệu ra khỏi cơ quan. Làm việc ngoài giờ tại trụ sở cơ quan phải thực hiện đúng quy định của lãnh đạo Viện.

Điều 63. Điều khoản thi hành

1. Quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự có hiệu lực kể từ ngày Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ký quyết định ban hành.

2. Quy chế này thay thế Quy chế số 02 ngày 24/9/1998 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành theo Quyết định số 53 ngày 24/9/1998.

3. Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên và các đơn vị nghiệp vụ Viện kiểm sát các cấp nghiêm chỉnh thực hiện Quy chế tạm thời này.

4. Việc sửa đổi, bổ sung Quy chế tạm thời do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định./.

Thuộc tính Văn bản pháp luật 120/2004/QĐ-VKSTC

Loại văn bảnQuyết định
Số hiệu120/2004/QĐ-VKSTC
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành14/09/2004
Ngày hiệu lực14/09/2004
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcThủ tục Tố tụng, Trách nhiệm hình sự
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực 02/01/2008
Cập nhật2 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 120/2004/QĐ-VKSTC

Lược đồ Quyết định 120/2004/QĐ-VKSTC quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Quyết định 120/2004/QĐ-VKSTC quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố
                Loại văn bảnQuyết định
                Số hiệu120/2004/QĐ-VKSTC
                Cơ quan ban hànhViện kiểm sát nhân dân tối cao
                Người kýTrần Thu
                Ngày ban hành14/09/2004
                Ngày hiệu lực14/09/2004
                Ngày công báo...
                Số công báo
                Lĩnh vựcThủ tục Tố tụng, Trách nhiệm hình sự
                Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực 02/01/2008
                Cập nhật2 năm trước

                Văn bản được dẫn chiếu

                  Văn bản hướng dẫn

                    Văn bản được hợp nhất

                      Văn bản gốc Quyết định 120/2004/QĐ-VKSTC quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố

                      Lịch sử hiệu lực Quyết định 120/2004/QĐ-VKSTC quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố