Quyết định 419/QĐ-UBND

Quyết định 419/QĐ-UBND năm 2010 phê duyệt Đề án quy hoạch phát triển nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đến năm 2020

Nội dung toàn văn Quyết định 419/QĐ-UBND năm 2010 phát triển nghề công chứng Hưng Yên đến 2020


UỶ BAN NHÂN DÂN
TỈNH HƯNG YÊN
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 419/QĐ-UBND

Hưng Yên, ngày 09 tháng 02 năm 2010

 

QUYẾT ĐỊNH

PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NGHỀ CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN ĐẾN NĂM 2020

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;

Căn cứ Luật Công chứng và Nghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 04/01/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng;

Căn cứ Chỉ thị số 13/2007/CT-UBND ngày 03/7/2007 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thi hành Luật Công chứng;

Xét đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp tại Tờ trình số 98/TTr-STP ngày 04/02/2010,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt Đề án quy hoạch phát triển nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đến năm 2020. Đề án quy hoạch phát triển Tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên là căn cứ để các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan thực hiện trong quá trình phát triển và quản lý Tổ chức hành nghề công chứng tại địa bàn tỉnh theo định hướng xã hội hoá.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày ký. Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Tư pháp, Thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, các Tổ chức hành nghề công chứng, các tổ chức, cá nhân liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

 

 

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH




Nguyễn Thanh Quán

 

ĐỀ ÁN

QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NGHỀ CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN ĐẾN NĂM 2020
(Ban hành kèm theo Quyết định số 419/QĐ-UBND ngày 09/02/2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh)

I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

1. Cơ sở pháp lý:

a) Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 chỉ rõ “xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bổ trợ tư pháp (luật sư, công chứng,…) theo hướng đáp ứng ngày càng đầy đủ, thuận lợi các nhu cầu đa dạng về hỗ trợ pháp lý của nhân dân, doanh nghiệp; thực hiện xã hội hóa mạnh mẽ các hoạt động bổ trợ tư pháp…”;

b) Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 quy định: “hoàn thiện chế định công chứng. Xác định rõ phạm vi của công chứng, chứng thực, giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Xây dựng mô hình quản lý nhà nước về công chứng theo hướng Nhà nước chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp; có bước đi phù hợp để từng bước xã hội hóa công việc này”;

c) Luật Công chứng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007. Theo đó, đã đưa ra chủ trương và định hướng xã hội hóa công chứng, tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển các Văn phòng công chứng, hình thành mạng lưới phát triển tổ chức hành nghề công chứng để đáp ứng đầy đủ nhu cầu công chứng của nhân dân, tách bạch hoạt động công chứng với hoạt động chứng thực, từng bước chuyên nghiệp hóa hoạt động công chứng, tăng cường sự bảo hộ của Nhà nước đối với các hợp đồng, giao dịch của tổ chức, cá nhân;

d) Tại khoản 1 và 4 Điều 2 Nghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 04/01/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng quy định Sở Tư pháp xây dựng Đề án phát triển tổ chức hành nghề công chứng tại địa phương trình Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt.

2. Thực trạng về tổ chức và hoạt động công chứng tỉnh Hưng Yên:

a) Về tổ chức, cán bộ:

Trong những năm qua, hoạt động công chứng ở tỉnh Hưng Yên đã có những đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, khẳng định ngày càng rõ hơn vị trí, vai trò của công chứng trong đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về công chứng của nhân dân trong nền kinh tế thị trường, đồng thời là công cụ đắc lực phục vụ quản lý nhà nước có hiệu quả, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch, góp phần tích cực vào việc phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN.

Từ khi tái lập tỉnh đến nay, Hưng Yên có 02 Phòng công chứng trực thuộc Sở Tư pháp. Hiện cả hai Phòng công chứng đã được chuyển đổi thành các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước. Thực hiện chủ trương xã hội hoá hoạt động công chứng, số lượng tổ chức hành nghề công chứng (là các Văn phòng công chứng) đã có sự phát triển, tăng nhanh về số lượng. Tính đến thời điểm hiện tại, trong toàn tỉnh hiện có 03 Văn phòng công chứng được thành lập, với 03 công chứng viên.

Số tổ chức hành nghề công chứng được phân bố như sau:

- Đối với Phòng công chứng: 02 Phòng công chứng trực thuộc Sở Tư pháp được phân bố tại thành phố Hưng Yên có 01 Phòng công chứng, huyện Mỹ Hào có 01 Phòng công chứng.

- Đối với Văn phòng công chứng: 03 Văn phòng công chứng đã được thành lập và mới đi vào hoạt động, trong đó huyện Yên Mỹ có 01 Văn phòng, huyện Mỹ Hào có 01 Văn phòng, huyện Văn Lâm có 01 Văn phòng.

Các Văn phòng công chứng mới được thành lập cơ bản đảm bảo về tổ chức nhân sự, có trụ sở tương đối khang trang, bước đầu đi vào hoạt động được dư luận quan tâm và đánh giá tương đối tốt. Cùng với sự phát triển về số lượng thì chất lượng của công chứng viên cũng được nâng lên. Tất cả các công chứng viên đều có trình độ cử nhân Luật trở lên.

b) Về hoạt động:

Hưng Yên là một tỉnh có dân số trên 1,1 triệu người với diện tích 932.09km2, nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, trong vùng kinh tế trọng điểm phía bắc; có các tuyến đường giao thông quốc gia quan trọng chạy qua: đường 5A từ Hà Nội đến Hải Phòng, đường 39A từ Phố Nối - thành phố Hưng Yên qua cầu Triều Dương đến Thái Bình, đường 38 qua cầu Yên Lệnh nối với quốc lộ 1A, đường sắt Hà Nội - Hải Phòng; đường thủy: sông Hồng, sông Luộc tạo cho Hưng Yên lợi thế để mở rộng giao lưu hợp tác và phát triển với các tỉnh trong khu vực và cả nước.

Do điều kiện phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, nhu cầu công chứng các hợp đồng, giao dịch của người dân, tổ chức doanh nghiệp ngày càng tăng. Theo số lượng thống kê, từ năm 2005 đến nay, trung bình số lượng việc công chứng năm sau cao hơn năm trước từ 20% đến 25%. Qua thực tế cho thấy, các hợp đồng, giao dịch không chỉ tăng về số lượng mà cả tính phức tạp, với giá trị hợp đồng lớn, có cả hợp đồng có yếu tố nước ngoài. Có thể thấy, không chỉ các giao dịch mà pháp luật quy định phải công chứng mà các loại giao dịch pháp luật không quy định phải công chứng nhưng cá nhân, tổ chức tự nguyện công chứng như các giao dịch về uỷ quyền, về mua bán tài sản, thừa kế… cũng rất phổ biến. Thực tế này phản ánh đúng những hiệu quả mà hoạt động công chứng đã mang lại cho hoạt động quản lý nhà nước khác trên các lĩnh vực trong thời gian qua. Điều này cũng thể hiện sự nhận thức của xã hội về vai trò của công chứng trong đảm bảo an toàn pháp lý đối với giao dịch đã từng bước được xác định. Người dân bước đầu đã hình thành ý thức sử dụng các công cụ pháp lý, biện pháp hợp pháp để bảo vệ mình trong đời sống dân sự; tạo cho người dân ý thức, trách nhiệm tốt hơn khi tham gia giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại.

Tuy nhiên, việc phân bổ nhu cầu công chứng tại các địa bàn huyện, thành phố của tỉnh không đồng đều, tỉnh có 09 huyện, 01 thành phố có tốc độ phát triển kinh tế xã hội khác nhau, yêu cầu công chứng có xu hướng tập trung nhiều vào các khu vực đông dân, có nhiều các tổ chức kinh doanh các ngành nghề như tài chính - ngân hàng, bất động sản, các doanh nghiệp sản xuất thương mại, dịch vụ… (như huyện Mỹ Hào, Văn Lâm và thành phố Hưng Yên…).

Trong khi đó, ở một số huyện thì yêu cầu công chứng các hợp đồng, giao dịch không nhiều. Điều này do một phần đây là những địa bàn kinh tế chưa phát triển, song nguyên nhân khác cũng là do người tham gia giao dịch ở các địa phương này còn chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật cũng như chưa ý thức được sự cần thiết của công chứng đối với an toàn pháp lý của các hợp đồng, giao dịch. Do vậy, số lượng hợp đồng, giao dịch giữa các tổ chức hành nghề công chứng ở các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh có sự khác nhau rõ rệt. Muốn cho các tổ chức hành nghề công chứng phát triển lành mạnh, hoạt động có hiệu quả, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phải có quy hoạch để xác định lộ trình, số lượng, địa điểm phân bổ trụ sở các tổ chức này cho phù hợp. Sự phát triển của các tổ chức hành nghề công chứng nếu không có quy hoạch sẽ dẫn đến tình trạng phát triển ồ ạt, mất cân đối hoặc phân bổ không hợp lý, cạnh tranh không lành mạnh, ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

II. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu tổng quát:

Hình thành, xây dựng và phát triển một mạng lưới tổ chức hành nghề công chứng rộng khắp và phân bố hợp lý trên toàn tỉnh, phấn đấu đến năm 2020, các địa bàn cấp huyện trên toàn tỉnh có đủ tổ chức hành nghề công chứng theo tiêu chí quy hoạch để đảm đương việc công chứng toàn bộ các hợp đồng, giao dịch của tổ chức, cá nhân trên địa bàn.

Phát triển số lượng và nâng cao chất lượng công chứng viên theo hướng chuyên nghiệp hoá, đến năm 2020 có khoảng 30 công chứng viên; đảm bảo công chứng toàn bộ các hợp đồng, giao dịch một cách nhanh chóng, kịp thời, nâng cao chất lượng hoạt động công chứng theo hướng chuyên nghiệp, hội nhập; tăng cường an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch của cá nhân và tổ chức, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội, đáp ứng các mục tiêu của chiến lược cải cách tư pháp và chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế.

2. Mục tiêu và lộ trình cụ thể:

a) Giai đoạn 2010 - 2015:

- Kiện toàn các Phòng công chứng hiện có, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, không thực hiện thành lập thêm Phòng công chứng.

- Trong giai đoạn này mỗi huyện, thành phố có 01 tổ chức hành nghề công chứng.

- Đẩy mạnh tiến độ thực hiện việc chuyển giao các hợp đồng, giao dịch sang cho các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện ở những địa bàn cấp huyện đã có tổ chức hành nghề công chứng; đảm bảo trong năm 2010, tất cả các địa bàn cấp huyện mà tổ chức hành nghề công chứng đảm đương được hoạt động sẽ hoàn thành việc chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện. Đến năm 2015, hoàn thành việc chuyển giao ở tất cả địa bàn cấp huyện trên địa bàn tỉnh, chấm dứt việc chứng thực hợp đồng, giao dịch của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã ở tất cả các địa phương trên địa bàn tỉnh.

- Nâng cao số lượng và chất lượng đội ngũ công chứng viên theo hướng chuyên nghiệp hoá đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, công chứng viên không chỉ là những người được đào tạo cơ bản về pháp luật, về nghề công chứng, tinh thông nghề nghiệp, giàu kinh nghiệm, vốn sống mà còn phải có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp (trung thực, vô tư, khách quan, liêm khiết, nhiệt tình, trách nhiệm…), đồng thời công chứng viên phải có kiến thức về ngoại ngữ, tin học để đáp ứng để đáp ứng ngày càng cao của xã hội đối với công chứng. Dự kiến đến năm 2015 phát triển lên khoảng 20 công chứng viên.

- Nâng cao chất lượng hoạt động công chứng để yêu cầu công chứng trở thành một nhu cầu tự nguyện của người dân.

b) Giai đoạn 2016 - 2020:

- Thành lập đủ các tổ chức hành nghề công chứng tại các địa bàn cấp huyện theo quy hoạch của tỉnh (không thực hiện thành lập thêm Phòng công chứng). Đối với những địa bàn cấp huyện có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển xem xét thành lập thêm 01 Văn phòng công chứng.

- Nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng, đảm bảo đến năm 2020, chất lượng công chứng của tỉnh đáp ứng được tính chuyên nghiệp, đạt tiêu chuẩn quốc gia và khu vực.

III. GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN

1. Về thể chế:

a) Rà soát các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt động công chứng để đề xuất, kiến nghị ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Công chứng, hệ thống các biểu mẫu liên quan đến hoạt động công chứng; sửa đổi các quy định về phí, lệ phí công chứng cho phù hợp với các quy định của pháp luật;

b) Nghiên cứu, xây dựng chính sách ưu đãi để khuyến khích thành lập và hoạt động của các Văn phòng công chứng ở những địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn.

2. Về xây dựng đội ngũ công chứng viên:

a) Tăng cường về số lượng, nâng cao chất lượng công chứng viên. Phối hợp với các cơ quan liên quan, cơ sở đào tạo, lực lượng công chứng viên có tay nghề cao để xây dựng đội ngũ công chứng viên đủ về số luợng, mạnh về chất lượng;

b) Đẩy mạnh công tác đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chứng viên bằng việc thường xuyên cử những cán bộ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn tham dự lớp đào tạo nghề công chứng do Bộ Tư pháp tổ chức, đồng thời đề nghị Bộ Tư pháp bổ nhiệm những người có nhiều kinh nghiệm pháp luật thuộc đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng làm công chứng viên;

c) Chú trọng công tác bồi dưỡng, giáo dục chính trị, tư tưởng và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chứng viên; phát huy tinh thần gương mẫu của cán bộ, công chứng viên là đảng viên trong hoạt động nghề nghiệp và trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

3. Công tác tuyên truyền:

a) Phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân và toàn xã hội về vai trò, tầm quan trọng, lợi ích của hoạt động công chứng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội và an toàn giao dịch, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân;

b) Nghiên cứu và thực hiện chính sách khuyến khích công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, doanh nghiệp, ngân hàng và các đối tượng thụ hưởng tham gia hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động công chứng.

4. Nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước đối với hoạt động công chứng:

a) Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện Luật Công chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành, kịp thời phát hiện những sai sót, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn để trực tiếp hoặc đề nghị, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn cho phù hợp;

b) Có chính sách động viên kịp thời đối với các tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên có thành tích tốt trong hoạt động, đồng thời có biện pháp xử lý kịp thời, nghiêm khắc đối với những sai phạm trong hoạt động công chứng;

c) Nghiên cứu, hỗ trợ, khuyến khích việc xây dựng, thành lập cơ sở dữ liệu chung giữa các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn để tăng cường tính chuyên nghiệp, hiệu quả và an toàn của hoạt động công chứng. Đẩy mạnh chủ trương tin học hoá công chứng, kết nối mạng trao đổi thông tin giữa các tổ chức hành nghề công chứng với nhau; với cơ quan quản lý nhà nước;

d) Tổ chức kiểm tra theo định kỳ để đánh giá kịp thời việc tổ chức thực hiện Đề án trong từng giai đoạn. Hàng năm, tổ chức đánh giá những kết quả thực hiện, những tác động, chuyển biến từ hoạt động thực hiện Đề án, cũng như những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Đề án;

e) Từng giai đoạn tiến hành sơ kết, tổng kết những việc đã thực hiện và đúc rút bài học kinh nghiệm tiếp tục thực hiện các giải pháp nhằm đạt được mục tiêu mà Đề án đã đặt ra.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Để bảo đảm thực thi có hiệu quả Đề án, cần quán triệt để nâng cao nhận thức về công chứng trong các cấp uỷ đảng, chính quyền, tổ chức và nhân dân, coi đây là một trong các nhiệm vụ góp phần tích cực trong ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân trong các giao dịch, các sở, ngành và chính quyền địa phương cần thực hiện tốt các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

1. Trách nhiệm của Sở Tư pháp:

a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức thực hiện Đề án phát triển tổ chức hành nghề công chứng sau khi được phê duyệt;

b) Giúp Ủy ban nhân dân tỉnh đôn đốc thực hiện Đề án; tổng hợp và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh kết quả việc thực hiện Đề án; tham mưu, đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh điều chỉnh, bổ sung Đề án phát triển tổ chức hành nghề công chứng;

c) Sơ kết, tổng kết việc thực hiện Đề án phát triển tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh trong từng giai đoạn;

d) Giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh, có nhiệm vụ, quyền hạn:

- Chủ trì việc tham mưu, đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh các biện pháp hỗ trợ, phát triển tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh;

- Giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện tổng hợp tình hình và thống kê về công chứng trên địa bàn tỉnh gửi Bộ Tư pháp;

- Thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công chứng;

- Đẩy mạnh, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra theo định kỳ và đột xuất, công tác xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức, hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng theo quy định hoặc theo ủy quyền;

- Yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng báo cáo tình hình tổ chức, hoạt động theo định kỳ 6 tháng và hàng năm;

- Chủ trì, phối hợp với cơ quan có liên quan của tỉnh hướng dẫn hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng theo quy định pháp luật.

2. Trách nhiệm của các sở, ngành có liên quan:

- Sở Tài nguyên & Môi trường:

+ Rà soát, nghiên cứu các quy định của pháp luật về đất đai. Thực hiện việc kiến nghị sửa đổi, bổ sung kịp thời các văn bản pháp luật về đất đai;

+ Chỉ đạo Phòng Tài nguyên & Môi trường các huyện, thành phố đẩy mạnh tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của nhân dân trong các hợp đồng, giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

+ Phối hợp với Sở Tư pháp thực hiện tốt các yêu cầu công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm, các thủ tục liên quan đến việc sang tên chuyển chủ đối với các hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho nhân dân.

- Các sở, ngành liên quan khác có trách nhiệm phối hợp với Sở Tư pháp triển khai thực hiện Đề án phát triển tổ chức hành nghề công chứng và hướng dẫn hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng.

3. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân huyện, thành phố và xã, phường, thị trấn:

Phối hợp với Sở Tư pháp triển khai thực hiện Đề án phát triển tổ chức hành nghề công chứng và hướng dẫn hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng.

4. Trách nhiệm của các tổ chức hành nghề công chứng:

Thực hiện việc đề nghị thành lập, đăng ký hoạt động, đăng ký mã số thuế, làm thủ tục khắc dấu, lập các loại sổ sách, hoạt động và thực hiện các nghĩa vụ theo đúng quy định pháp luật và Đề án này;

Trong quá trình thực hiện Đề án, Sở Tư pháp tập hợp những khó khăn, vướng mắc và đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, giải quyết./.

 

Đã xem:

Đánh giá:  
 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 419/QĐ-UBND

Loại văn bảnQuyết định
Số hiệu419/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành09/02/2010
Ngày hiệu lực09/02/2010
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcDịch vụ pháp lý
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực
Cập nhật11 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 419/QĐ-UBND

Lược đồ Quyết định 419/QĐ-UBND năm 2010 phát triển nghề công chứng Hưng Yên đến 2020


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Quyết định 419/QĐ-UBND năm 2010 phát triển nghề công chứng Hưng Yên đến 2020
                Loại văn bảnQuyết định
                Số hiệu419/QĐ-UBND
                Cơ quan ban hànhTỉnh Hưng Yên
                Người kýNguyễn Thanh Quán
                Ngày ban hành09/02/2010
                Ngày hiệu lực09/02/2010
                Ngày công báo...
                Số công báo
                Lĩnh vựcDịch vụ pháp lý
                Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực
                Cập nhật11 năm trước

                Văn bản thay thế

                  Văn bản được dẫn chiếu

                    Văn bản hướng dẫn

                      Văn bản được hợp nhất

                        Văn bản gốc Quyết định 419/QĐ-UBND năm 2010 phát triển nghề công chứng Hưng Yên đến 2020

                        Lịch sử hiệu lực Quyết định 419/QĐ-UBND năm 2010 phát triển nghề công chứng Hưng Yên đến 2020

                        • 09/02/2010

                          Văn bản được ban hành

                          Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                        • 09/02/2010

                          Văn bản có hiệu lực

                          Trạng thái: Có hiệu lực