Sắc lệnh 112

Sắc lệnh số 112 về việc bổ khuyết điều thứ 23 và 44 sắc lệnh số 51 ngày 17 tháng 4 năm 1946 ấn định thẩm quyền các toà án do Chủ tịch Chính phủ ban hành

SẮC LỆNH

CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ SỐ 112 NGÀY 28 THÁNG 6 NĂM 1946

CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

Chiểu chi Sắc lệnh ngày 10 tháng 10 năm 1945 về việc giữ tạm luật lệ hiện hành;

Chiểu chi Sắc lệnh số 51 ngày 17 tháng 4 năm 1946 ấn định thẩm quyền các toà án;

Chiểu lời đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;

Sau khi đã hỏi ý kiến Ban Thường trực Quốc hội và sau khi Hội đồng Chính phủ đã thoả thuận,

RA SẮC LỆNH:

Điều thứ 1

Nay thêm các đoạn sau này vào sau đoạn thứ hai Điều thứ 44 Sắc lệnh số 51 ngày 17 tháng 4 năm 1946:

"Trong những trường hợp mà theo pháp luật hiện hành các người đương sự có quyền kháng cáo hay kháng án khuyết tịch thì việc kháng cáo hay kháng án khuyết tịch đó phải theo thời hạn và hình thức định sau đây.

Hạn kháng cáo án đương tịch của toà án sơ cấp hay đệ nhị cấp là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu lúc tuyên án, một bên không có mặt tại toà thì hạn trên sẽ kể từ ngày tống đạt án.

Hạn kháng án khuyết tịch bất cứ trước toà án nào về việc hình hay hộ là 15 ngày kể từ ngày tống đạt cho đích thân người bị xử khuyết tịch. Nếu không tống đạt được cho đích thân, thì người đương sự mất quyền kháng án khuyết tịch một khi mà án đã được thi hành xong hoặc đã bán xong động sản hay bất động sản hoặc đã biết rõ rằng người được kiện đang đem thi hành. Tuy nhiên người đương sự có quyền kháng cáo ngay, mà không cần phải chờ hết hạn kháng án khuyết tịch: như vậy, đối với những việc mà theo luật người đương sự có quyền kháng cáo thì hạn kháng cáo là 30 ngày.

Hạn kháng cáo một mệnh lệnh của Dự thẩm hoặc một mệnh lệnh khẩn cấp thẩm sát của Chánh án cho người đương sự là 3 ngày kể từ ngày ra mệnh lệnh nếu người đương sự có mặt lúc ra mệnh lệnh; nếu không, hạn 3 ngày sẽ kể từ ngày tống đạt.

Hạn kháng cáo một bản án cho biện lý là 15 ngày kể từ ngày tuyên án ; hạn kháng cáo một mệnh lệnh của Dự thẩm cho biện lý là 3 ngày kể từ ngày Dự thẩm báo cáo Biện lý biết. Hạn kháng cáo cho Chưởng lý là 30 ngày kể từ ngày phòng Chưởng lý nhận được trích lục hàng tuần quyển án bạ lược biên các án hình đã xử trong tuần hoặc bản sao các mệnh lệnh của Dự thẩm miễn tố hay vô thẩm quyền do Lục sự toà đệ nhị cấp giữ lên.

Các hạn ngày đều không tính ngày tuyên án, ra mệnh lệnh hay tống đạt và không tính ngày ký đơn kháng án khuyết tịch hay kháng cáo. Nếu ngày cuối cùng của hạn là một ngày chủ nhật hay ngày lễ thì gia thêm hạn đến ngày các phòng giấy lại mở cửa.

Đối với ông Chưởng lý thì ngày kháng cáo là ngày ông Chưởng lý gửi giấy kháng cáo cho lục sự toà đệ nhị cấp.

Ai muốn kháng án khuyết tịch hay kháng cáo thì có thể đến phòng lục sự toà án đã xử việc để ký vào sổ, hoặc gửi giây thép, hoặc gửi thư đến phòng lục sự, hoặc khai ngay vào giấy tống đạt. Toà án sẽ căn cứ vào dấu của nhà Giây thép nếu dấu có đề ngày gửi hoặc căn cứ vào ngày viết đơn do Chủ tịch Uỷ ban hành chính xã, hoặc khu phố nơi mình ngụ thị thực. Lục sự khi nhận được đơn phải vào sổ kháng án khuyết tịch hay kháng cáo ngay".

Điều thứ 2

Điều thứ 23 đoạn thứ sáu Sắc lệnh số 51 ngày 17 tháng tư năm 1946 nay bổ khuyết như sau này.

"Khi cuộc thẩm cứu đã kết liễu, và khi tiếp nhận được hồ sơ do ông dự thẩm chuyển sang thì trọng hạn 3 ngày, ông biện lý sẽ làm quyết tố trạng đề nghị với ông dự thẩm..."

Điều thứ 3

Bộ trưởng Bộ Tư pháp chịu uỷ nhiệm thi hành Sắc lệnh này.

 

Huỳnh Thúc Kháng

(Đã ký)

 

 

Thuộc tính văn bản 112
Loại văn bảnSắc lệnh
Số hiệu112
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành28/06/1946
Ngày hiệu lực13/07/1946
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcThủ tục Tố tụng
Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
Cập nhật9 năm trước
Download văn bản 112

Lược đồ văn bản

Sắc lệnh 112 bổ khuyếtsắc lệnh 51 ấn định thẩm quyền toà án


Văn bản liên quan ngôn ngữ

    Văn bản sửa đổi, bổ sung

      Văn bản bị đính chính

        Văn bản được hướng dẫn

          Văn bản đính chính

            Văn bản bị thay thế

              Văn bản hiện thời

              Sắc lệnh 112 bổ khuyếtsắc lệnh 51 ấn định thẩm quyền toà án
              Loại văn bảnSắc lệnh
              Số hiệu112
              Cơ quan ban hànhChủ tịch nước
              Người kýHuỳnh Thúc Kháng
              Ngày ban hành28/06/1946
              Ngày hiệu lực13/07/1946
              Ngày công báo...
              Số công báo
              Lĩnh vựcThủ tục Tố tụng
              Tình trạng hiệu lựcKhông còn phù hợp
              Cập nhật9 năm trước

              Văn bản thay thế

                Văn bản được dẫn chiếu

                  Văn bản hướng dẫn

                    Văn bản được hợp nhất

                      • 28/06/1946

                        Văn bản được ban hành

                        Trạng thái: Chưa có hiệu lực

                      • 13/07/1946

                        Văn bản có hiệu lực

                        Trạng thái: Có hiệu lực