Thông tư 36/2011/TT-BCA

Thông tư 36/2011/TT-BCA về Nội quy trại giam do Bộ Công an ban hành

Thông tư 36/2011/TT-BCA Nội quy trại giam đã được thay thế bởi Quyết định 9035/QĐ-BCA 2020 công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ và được áp dụng kể từ ngày 23/10/2020.

Nội dung toàn văn Thông tư 36/2011/TT-BCA Nội quy trại giam


BỘ CÔNG AN
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 36/2011/TT-BCA

Hà Nội, ngày 26 tháng 5 năm 2011

 

THÔNG TƯ

BAN HÀNH NỘI QUY TRẠI GIAM

Căn cứ Luật Thi hành án hình sự năm 2010;

Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15-9-2009 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an;

Bộ trưởng Bộ Công an quyết định:

Điều 1. Ban hành kèm theo Thông tư này “Nội quy trại giam” để áp dụng đối với phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại tạm giam trong Công an nhân dân.

Điều 2. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 11 tháng 7 năm 2011 và thay thế Thông tư số 69/2009/TT-BCA-V19 ngày 30-11-2009 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Nội quy trại giam.

Điều 3. Các Tổng cục trưởng, Thủ trưởng đơn vị thuộc Bộ, Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự các cấp trong Công an nhân dân, Giám thị trại giam, trại tạm giam trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. 

 

BỘ TRƯỞNG




Đại tướng Lê Hồng Anh

 

NỘI QUY TRẠI GIAM
(Ban hành kèm theo Thông tư số 36/2011/TT-BCA ngày 26-5-2011 của Bộ trưởng Bộ Công an)

Để giữ nghiêm kỷ luật trại giam và tạo điều kiện thuận lợi cho việc chấp hành án phạt tù của phạm nhân, Bộ trưởng Bộ Công an quy định Nội quy trại giam như sau:

Điều 1. Phạm nhân phải nghiêm chỉnh chấp hành bản án, quyết định của Toà án, tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh, tuân thủ sự hướng dẫn của cán bộ trại giam, tự giác rèn luyện và giúp đỡ phạm nhân khác cùng cải tạo tiến bộ trở thành người có ích cho xã hội.

Nghiêm cấm mọi hành vi vi phạm pháp luật, Nội quy trại giam hoặc cản trở việc chấp hành án phạt tù của phạm nhân khác. Phạm nhân có trách nhiệm kịp thời tố giác hành vi vi phạm của phạm nhân khác.

Điều 2. Phạm nhân phải thực hiện đúng quy định về thời gian, hiệu lệnh, lễ tiết trong sinh hoạt, học tập, lao động, nghỉ ngơi và vui chơi giải trí.

Khi có lệnh tập hợp, phạm nhân phải nhanh chóng xếp hàng theo tổ, đội và giữ trật tự; trường hợp có báo động phải giữ nguyên vị trí và tuyệt đối tuân theo chỉ dẫn của cán bộ trại giam.

Khi ra, vào cổng trại giam, phạm nhân phải bỏ mũ, nón và cầm ở tay phải, báo cáo rõ họ tên, tổ, đội với cán bộ có trách nhiệm. Nếu đi theo tổ, đội thì đi thành hàng đôi; phải bỏ mũ, nón và cầm ở tay phải đối với hàng đi bên phải, cầm ở tay trái đối với hàng đi bên trái; tổ trưởng, đội trưởng phạm nhân phải báo cáo rõ tên tổ, đội, số người với cán bộ có trách nhiệm.

Điều 3. Trong giao tiếp giữa phạm nhân với nhau, phạm nhân chỉ được dùng tiếng Việt, trừ phạm nhân là người nước ngoài, người dân tộc thiểu số chưa biết tiếng Việt và xưng hô với nhau là “tôi”, “anh” hoặc “chị”.

Khi gặp cán bộ, khách đến thăm hoặc làm việc với trại giam, phạm nhân phải đứng nghiêm cách xa 5m đến 7m, bỏ mũ, nón và cầm ở tay phải, chào cán bộ hoặc chào quý khách. Nếu tổ, đội phạm nhân gặp cán bộ, khách đến thăm hoặc làm việc thì tổ trưởng hoặc đội trưởng phạm nhân hô tất cả đứng nghiêm, bỏ mũ, nón và thay mặt tập thể phạm nhân chào cán bộ hoặc quý khách. Phạm nhân xưng hô với cán bộ là “tôi” và “cán bộ”, với khách là “tôi” và “quý khách”.

Điều 4. Phạm nhân phải nằm đúng chỗ đã quy định trong buồng giam, giữ gìn vệ sinh chỗ ở và nơi công cộng; không được tự tiện đi lại quá phạm vi quy định; hàng ngày phải chịu sự điểm danh, kiểm diện của cán bộ trại giam.

Cấm phạm nhân tự ý thay đổi chỗ nằm hoặc có hành vi gây mất an ninh, trật tự trại giam.

Điều 5. Phạm nhân được đem vào buồng giam quần áo, chăn, màn, chiếu, khăn mặt, dép do trại giam cấp và 01 bộ quần áo thường, 01 gối vải cá nhân, cốc nhựa, bàn chải đánh răng, kem đánh răng, lược nhựa, kẹp tóc nhựa, giấy trắng, bút viết, kính thuốc gọng nhựa, thuốc chữa bệnh theo chỉ định của cán bộ y tế trại giam, đồ dùng cho vệ sinh phụ nữ, đồ dùng sinh hoạt cho trẻ em (nếu có trẻ em ở với bố hoặc mẹ trong trại giam) và túi đựng đồ dùng theo quy định.

Những tài sản như vàng, bạc, ngoại tệ, tiền Việt Nam, cổ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, đồng hồ, đồ trang sức quý hiếm, các loại máy móc, thiết bị, giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu, hộ chiếu, văn bằng, chứng chỉ, các loại giấy tờ có giá trị khác và quần áo, tư trang chưa sử dụng phải gửi lưu ký trại giam.

Cấm phạm nhân sử dụng và đưa vào trại giam các loại máy móc, thiết bị thông tin liên lạc, vũ khí, chất độc, chất nổ, chất dễ cháy, ma tuý, hoá chất, chất phóng xạ, sách, báo, phim, băng, đĩa, văn hoá phẩm có nội dung không lành mạnh, rượu, bia, các chất kích thích khác và những đồ vật có thể gây nguy hại cho bản thân và người khác.

Điều 6. Quần, áo phạm nhân sử dụng phải được đóng dấu (trừ quần lót và áo lót ba lỗ), dấu “phạm nhân” đóng phía trước quần, sau lưng áo, trước ngực trái áo đóng dấu “tên và 7 số cuối của số hồ sơ phạm nhân”. Khi phạm nhân học tập, sinh hoạt tập thể, ra vào cổng trại giam, gặp thân nhân hoặc tiếp xúc với người ngoài trại giam phải mặc quần áo dài do trại giam cấp. Phạm nhân nam phải cắt tóc ngắn nhưng không được cắt trọc đầu và không được để râu, ria mép.

Cấm phạm nhân cho mượn hoặc sửa chữa khác kiểu quần áo do trại giam cấp hoặc tẩy xoá dấu đóng trên quần áo.

Điều 7. Đến giờ quy định phạm nhân được nhận khẩu phần ăn của mình và phải ăn đúng nơi quy định. Cấm phạm nhân tự đun nấu trong khu vực giam giữ và tụ tập ăn uống.

Điều 8. Phạm nhân có tiền gửi lưu ký trại giam được sử dụng mua lương thực, thực phẩm đã chế biến sẵn để ăn thêm, đồ dùng cần thiết cho sinh hoạt, học tập hàng ngày của cá nhân theo quy định của trại giam.

Cấm phạm nhân mua bán, trao đổi, vay mượn bất cứ thứ gì dưới bất kỳ hình thức nào giữa phạm nhân với nhau và với người khác.

Khi phạm nhân cần tương trợ vật chất lẫn nhau phải được sự đồng ý của cán bộ trại giam.

Điều 9. Khi được phép gặp thân nhân hoặc tiếp xúc với người ngoài, phạm nhân phải chấp hành đúng quy định của pháp luật và chịu sự giám sát của cán bộ trại giam.

Cấm phạm nhân liên lạc điện thoại, gửi, nhận thư, tiền, quà, gặp thân nhân, tiếp xúc với người ngoài khi chưa được phép của Giám thị trại giam.

Điều 10. Phạm nhân phải lao động, học nghề đúng nơi quy định của trại giam, chấp hành nghiêm kỷ luật lao động; tích cực lao động, học nghề theo sự hướng dẫn của cán bộ trại giam. Phạm nhân ốm đau có xác nhận của cán bộ y tế được nghỉ lao động.

Cấm phạm nhân chây lười, trốn tránh lao động, học nghề hoặc có hành vi cản trở việc lao động, học nghề của phạm nhân khác. Nghiêm cấm phạm nhân thuê, bắt phạm nhân khác phục vụ, làm thay công việc của mình hoặc của phạm nhân khác dưới mọi hình thức.

Điều 11. Phạm nhân phải chấp hành nghiêm chỉnh hướng dẫn của cán bộ trại giam trong học tập và tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi giải trí.

Cấm phạm nhân bói toán, cúng lễ, truyền đạo, thực hành các hình thức mê tín, dị đoan hoặc đánh bạc dưới mọi hình thức.

Cấm phạm nhân có lời nói, hành vi thiếu văn hoá hoặc xúc phạm đến cán bộ, người khác.

Điều 12. Phạm nhân có trách nhiệm bảo vệ tài sản của trại giam, của mình và của người khác, báo cáo kịp thời cho cán bộ trại giam về các hành vi xâm phạm đến tài sản đó.

Điều 13. Cấm phạm nhân đe doạ, đánh đập, ức hiếp, cưỡng đoạt lẫn nhau, huỷ hoại thân thể, tự xăm trổ hoặc xăm trổ lên thân thể người khác, tự đeo lên cơ thể mình hoặc đeo cho người khác những vật thể bằng kim loại hoặc chất khác. Cấm các hình thức đồng tính luyến ái, quan hệ tình dục giữa phạm nhân với nhau hoặc với người khác (trừ quan hệ vợ, chồng khi được phép). Cấm phạm nhân lập hoặc tham gia hội, băng, nhóm dưới bất cứ hình thức nào.

Điều 14. Cấm phạm nhân hút thuốc lá, thuốc lào trong buồng giam, bệnh xá, buồng kỷ luật, thư viện, phòng đọc sách, nơi học tập, sinh hoạt tập thể, nhà, xưởng lao động, học nghề, nơi có thể gây cháy, nổ hoặc những nơi có treo biển “cấm lửa”, “cấm hút thuốc”.

Điều 15. Phạm nhân thực hiện tốt Nội quy này sẽ được khen thưởng, trường hợp vi phạm thì tuỳ theo tính chất, mức độ sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Phạm nhân gây thiệt hại cho trại giam hoặc cho người khác thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Đã xem:

Đánh giá:  
 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 36/2011/TT-BCA

Loại văn bảnThông tư
Số hiệu36/2011/TT-BCA
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành26/05/2011
Ngày hiệu lực11/07/2011
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcTrách nhiệm hình sự
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực 23/10/2020
Cập nhật10 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 36/2011/TT-BCA

Lược đồ Thông tư 36/2011/TT-BCA Nội quy trại giam


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Thông tư 36/2011/TT-BCA Nội quy trại giam
                Loại văn bảnThông tư
                Số hiệu36/2011/TT-BCA
                Cơ quan ban hànhBộ Công An
                Người kýLê Hồng Anh
                Ngày ban hành26/05/2011
                Ngày hiệu lực11/07/2011
                Ngày công báo...
                Số công báo
                Lĩnh vựcTrách nhiệm hình sự
                Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực 23/10/2020
                Cập nhật10 năm trước

                Văn bản được dẫn chiếu

                  Văn bản hướng dẫn

                    Văn bản được hợp nhất

                      Văn bản được căn cứ

                      Văn bản hợp nhất

                        Văn bản gốc Thông tư 36/2011/TT-BCA Nội quy trại giam

                        Lịch sử hiệu lực Thông tư 36/2011/TT-BCA Nội quy trại giam