Chỉ thị 11/2012/CT-UBND

Chỉ thị 11/2012/CT-UBND tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Chỉ thị 11/2012/CT-UBND tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước đã được thay thế bởi Quyết định 11/2017/QĐ-UBND bãi bỏ văn bản pháp luật của Ủy ban Chủ tịch Ủy ban Bình Dương và được áp dụng kể từ ngày 15/05/2017.

Nội dung toàn văn Chỉ thị 11/2012/CT-UBND tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước


ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 11/2012/CT-UBND

Bình Dương, ngày 13 tháng 8 năm 2012

 

CHỈ THỊ

VỀ TIẾP TỤC TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ, KHAI THÁC, CHẾ BIẾN VÀ SỬ DỤNG KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG.

Khoáng sản là tài nguyên không tái tạo, là một trong những nguồn lực quan trọng để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Trong những năm qua, ngành công nghiệp khai khoáng cả nước nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng đã có bước phát triển đáng kể, cung cấp nguyên liệu cho nhiều lĩnh vực sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, đóng góp cho ngân sách nhà nước và góp phần tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Sau hơn 3 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 10/2009/CT-UBND ngày 18/5/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc tiếp tục tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản trên địa bàn tỉnh, nhìn chung công tác quản lý nhà nước về hoạt động khoáng sản đã được thực hiện tương đối đầy đủ và toàn diện; hoạt động khai khoáng của tỉnh từng bước đi vào nề nếp. Tuy nhiên, thời gian gần đây hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản đã có một số diễn biến hết sức phức tạp: hoạt động khai thác khoáng sản trái phép vẫn còn tồn tại ở nhiều địa phương, tập trung ở các loại khoáng sản như: cát xây dựng, sỏi đỏ, đất san lấp, sét gạch ngói trái phép; tình trạng vi phạm về an toàn lao động và bảo vệ môi trường còn khá phổ biến; cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu vực khai thác xuống cấp trầm trọng… gây bức xúc trong nhân dân. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên một phần là do yếu kém trong công tác quản lý của các ngành, các cấp, đặc biệt là đối với cấp cơ sở; thậm chí có nơi có biểu hiện buông lỏng quản lý; hiệu quả công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật chưa cao; ý thức chấp hành pháp luật của một số doanh nghiệp vẫn còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong tỉnh, giữa cơ quan chức năng trong tỉnh với các cơ quan chức năng ở Trung ương vẫn còn thiếu chặt chẽ; việc kiểm tra xử lý vi phạm còn chưa nghiêm minh…

Nhằm tiếp tục chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực hoạt động khoáng sản, đồng thời thực hiện nghiêm Luật Khoáng sản năm 2010, Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 25/4/2011 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng và xuất khẩu khoáng sản; Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ thị:

1. Sở Tài nguyên và Môi trường:

a) Rà soát các quy định của Luật Khoáng sản năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, xem xét các vấn đề thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh để tham mưu ban hành những quy định mới hoặc sửa đổi, bổ sung những quy định cũ đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong triển khai thực hiện.

b) Chủ động phối hợp cùng các sở, ngành liên quan tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về quản lý khoáng sản cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khoáng sản và người dân địa phương nơi có khoáng sản.

c) Khẩn trương xây dựng, trình Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt quy hoạch khoáng sản của tỉnh giai đoạn 2011÷2015 và định hướng đến năm 2020. Sớm hoàn chỉnh việc lập Báo cáo khoanh định các khu vực cấm, tạm cấm hoạt động khoáng sản để Ủy ban nhân dân tỉnh trình Chính phủ phê duyệt theo quy định. Tổ chức thực hiện khoanh định khu vực đấu giá quyền khai thác khoáng sản, khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản, khu vực dự trữ khoáng sản để thực hiện theo quy định.

d) Chủ trì phối hợp với Sở Công thương, Sở Xây dựng, Sở Lao động -Thương binh và Xã hội, Công an tỉnh tăng cường hơn nữa công tác thanh, kiểm tra trong lĩnh vực hoạt động khoáng sản và bảo vệ môi trường; xử lý triệt để tình trạng khai thác khoáng sản trái phép và xử lý nghiêm các cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật về khoáng sản. Kiên quyết đình chỉ hoạt động, trình Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc Ủy ban nhân dân tỉnh thu hồi giấy phép khai thác đối với các trường hợp hoạt động khoáng sản vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Đặc biệt là các trường hợp khai thác gây ô nhiễm môi trường, mất an toàn trong lao động, trực tiếp gây hư hỏng hạ tầng kỹ thuật, mất an ninh trật tự gây bức xúc trong nhân dân vùng có khoáng sản khai thác. Trước mắt, tập trung hướng dẫn, đôn đốc các doanh nghiệp, chủ mỏ khắc phục ngay những tồn tại, khiếm khuyết mà trong năm 2011 các Đoàn kiểm tra của Trung ương và của Tỉnh đã nhắc nhở.

e) Quản lý, kiểm soát chặt chẽ việc cấp giấy phép trên lĩnh vực hoạt động khoáng sản, đảm bảo đúng quy hoạch và quy định của pháp luật. Đối với những cá nhân, đơn vị tham gia hoạt động khoáng sản mà đã vi phạm pháp luật ở mức độ nghiêm trọng thì kiên quyết không xem xét gia hạn hay bổ sung, cấp mới giấy phép khai thác khoáng sản.

f) Phối hợp thực hiện tốt công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản trên địa bàn tỉnh theo chương trình, kế hoạch của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu quả kết quả điều tra địa chất về khoáng sản của tỉnh để phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh và quy hoạch ngành.

g) Tổ chức triển khai các đề án và chương trình đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt. Tổng kết, đánh giá việc thực hiện Đề án “Báo cáo đánh giá tác động môi trường tổng thể cụm mỏ đá xây dựng Dĩ An” để định hướng cho các doanh nghiệp có phương án cải tạo mỏ sau khai thác phù hợp với quy định.

h) Phối hợp cùng Sở Nội vụ xây dựng kế hoạch tăng cường nguồn nhân lực cho ngành Tài nguyên và Môi trường để đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao trong thời gian tới.

2. Sở Công thương:

a) Phối hợp Sở Khoa học và Công nghệ, Sở tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng nghiên cứu đề xuất công nghệ khai thác, chế biến tiên tiến, phù hợp với đặc điểm khoáng sản của tỉnh để khuyến cáo các doanh nghiệp áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng khoáng sản và bảo vệ môi trường.

b) Thực hiện thường xuyên công tác giám sát chấn động nổ mìn, hướng dẫn các doanh nghiệp sử dụng công nghệ nổ mìn khai thác đá tiên tiến để giảm thiểu tác động xấu tới môi trường. Kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm pháp luật trong việc thực hiện quy trình an toàn trong bảo quản, vận chuyển và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp. Kiểm soát chặt chẽ việc cấp giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp trong khai thác đá; đồng thời hướng dẫn các đơn vị sử dụng vật liệu nổ công nghiệp thực hiện việc lập, phê duyệt hộ chiếu và thi công khoan nổ mìn theo đúng quy định.

c) Phối hợp chặt chẽ với Sở Tài nguyên và Môi trường và các ngành liên quan trong quá trình góp ý thiết kế cơ sở cho các công trình khai thác khoáng sản đảm bảo phải phù hợp với Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản của tỉnh, các chỉ tiêu kỹ thuật đúng quy định và phù hợp tình hình thực tế; tăng cường việc giám sát khai thác theo đúng thiết kế và quy chuẩn đã quy định.

3. Sở Xây dựng:

a) Chủ trì phối hợp cùng các ngành liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân ban hành quy định về quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật khai thác mỏ phù hợp với đặc điểm địa hình, địa mạo và cấu trúc địa chất khoáng sản của Tỉnh. Nghiên cứu, đề xuất việc sử dụng khoáng sản của tỉnh một cách hợp lý, hiệu quả nhất.

b) Phối hợp chặt chẽ với Sở Tài nguyên và Môi trường và các ngành liên quan trong quá trình góp ý thiết kế cơ sở cho các công trình khai thác khoáng sản đảm bảo phải phù hợp với Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản của tỉnh, đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật đúng quy định và phù hợp tình hình thực tế. Tăng cường việc giám sát khai thác theo đúng thiết kế và quy chuẩn đã quy định; xử lý dứt điểm việc khai thác bị chập tầng (nhất là trong khai thác đá), gây mất an toàn trong khai thác khoáng sản.

c) Triển khai thực hiện và quản lý chặt chẽ Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Bình Dương đến năm 2020 đã được phê duyệt.

d) Tổ chức lấy ý kiến Sở Tài nguyên và Môi trường về khoáng sản trước khi trình cấp thẩm quyền phê duyệt các quy hoạch: Quy hoạch xây dựng đô thị, Quy hoạch xây dựng điểm dân cư tập trung…. Lưu ý vấn đề hạ cote trong xây dựng đối với các công trình lớn để đảm bảo giữ tối đa địa hình và môi trường tự nhiên.

4. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy định về an toàn trong hoạt động khai thác mỏ trên địa bàn tỉnh. Yêu cầu và hướng dẫn các doanh nghiệp khắc phục những mặt còn tồn tại về an toàn vệ sinh lao động trong khai thác, chế biến khoáng sản. Xử lý nghiêm các vi phạm, đình chỉ khai thác đối với những mỏ có nguy cơ mất an toàn cho người và tài sản. Chỉ cho phép tiếp tục khai thác lại sau khi các mỏ này đã đáp ứng đủ các điều kiện an toàn trong hoạt động khai thác; trường hợp vi phạm nghiêm trọng, báo cáo đề xuất với Ủy ban nhân dân tỉnh thu hồi giấy phép khai thác theo quy định.

5. Sở Giao thông Vận tải:

a) Rà soát, sắp xếp, quy hoạch lại các cảng xuất khoáng sản dọc sông Đồng Nai, sông Sài Gòn để có ý kiến với Chi cục Đường thủy nội địa Phía Nam về việc cấp phép hoạt động cho các bến cảng này.

b) Phối hợp với cơ quan Công an thường xuyên tuần tra, xử lý nghiêm các phương tiện vận chuyển khoáng sản vi phạm trật tự an toàn giao thông, vệ sinh môi trường, nhất là các phương tiện vận chuyển quá khổ, quá tải, không thực hiện việc vệ sinh xe trước khi ra khỏi mỏ làm rơi vãi đất, cát trên đường.

6. Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp cùng các ngành, địa phương liên quan kiểm tra, chấn chỉnh lại việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh vật liệu xây dựng cho các doanh nghiệp, cơ sở ven các sông, rạch lớn nhằm tránh việc lợi dụng giấy phép này để hình thành các bến bãi kinh doanh vật liệu trái phép.

7. Công an tỉnh chỉ đạo các đơn vị chức năng tích cực phối hợp cùng cơ quan Thuế, cơ quan Quản lý thị trường, cơ quan Tài nguyên và Môi trường trong việc kiểm tra và ngăn chặn, xử lý triệt để việc khai thác, vận chuyển khoáng sản trái phép trên địa bàn.

8. Báo Bình Dương, Đài Phát thanh truyền hình Bình Dương: phối hợp với các ngành liên quan thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về quản lý khoáng sản, cũng như tác hại của việc khai thác khoáng sản trái phép, các hình thức xử lý theo quy định của pháp luật nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ tài nguyên khoáng sản, bảo vệ môi trường trong nhân dân.

9. Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố và xã, phường, thị trấn:

a) Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về khoáng sản trong nhân dân nhằm nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa của khoáng sản và công nghiệp khoáng sản đối với sự phát triển của đất nước nói chung và của tỉnh Bình Dương nói riêng, từ đó huy động sự tham gia của mọi người dân trong việc quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản.

b) Tiếp tục củng cố, kiện toàn các Đoàn kiểm tra hoạt động khoáng sản liên ngành của huyện, thị, thành phố; thực hiện việc trang bị những máy móc, thiết bị, công cụ hỗ trợ đảm bảo gọn nhẹ và hoạt động có hiệu quả.

c) Phối hợp cùng chính quyền các huyện, thị giáp ranh thuộc các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Phước, thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra, xử lý việc khai thác, vận chuyển, tập kết cát dọc sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và khu vực hồ Dầu Tiếng.

d) Phối hợp chặt chẽ với các Sở, ban ngành trong công tác quản lý, bảo vệ, khai thác, chế biến khoáng sản. Thường xuyên tổ chức giám sát việc chấp hành các quy định của pháp luật đối với tổ chức, cá nhân được cấp phép hoạt động khoáng sản trên địa bàn; bảo đảm môi trường, an ninh trật tự xã hội, bảo vệ tài nguyên khoáng sản của Nhà nước, tính mạng và sức khoẻ của nhân dân. Trường hợp vượt thẩm quyền phải báo cáo kịp thời và đề xuất với Ủy ban nhân dân cấp trên có biện pháp xử lý phù hợp.

đ) Nắm vững địa bàn, thường xuyên tổ chức tuần tra, kịp thời phát hiện và ngăn chặn việc khai thác, mua, bán, tàng trữ, vận chuyển khoáng sản trái phép diễn ra trên địa bàn mình quản lý. Xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật. Trường hợp không ngăn chặn, không xử lý mà bị phát hiện hoặc gây bức xúc trong nhân dân thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, phải kiểm điểm làm rõ và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, phải kiểm điểm làm rõ và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.

10. Các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản:

a) Tăng cường hợp tác trong việc quản lý khai thác, vận chuyển khoáng sản, bảo vệ môi trường; tự giác, chủ động thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo vệ, xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong khu vực; chấp hành nghiêm giờ giấc hoạt động khai thác, vận chuyển khoáng sản như đã cam kết; phát huy hiệu quả hoạt động và vai trò của Ban quản lý các cụm mỏ, đảm bảo quyền lợi của người dân địa phương nơi có hoạt động khoáng sản.

b) Khai thác, chế biến khoáng sản phải tuân thủ nghiêm theo thiết kế, dự án đầu tư đã duyệt và giấy phép đã được cấp. Tích cực áp dụng công nghệ khai thác tiên tiến, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường. Nhanh chóng khắc phục những tồn tại, thiếu sót đã được các đoàn kiểm tra nhắc nhở. Thực hiện nghiêm túc các quy định về bảo hộ, an toàn – vệ sinh lao động, an toàn sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường, đóng cửa mỏ phục hồi môi trường, đất đai sau khai thác. Chủ mỏ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật khi để xảy ra mất an toàn lao động, sự cố cháy nổ.

c) Thực hiện nghiêm túc việc kê khai sản lượng khai thác, chế biến, nộp đủ, đúng hạn các khoản thuế, phí vào ngân sách nhà nước theo quy định.

11. Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu thủ trưởng các sở, ngành liên quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố, các tổ chức và cá nhân hoạt động khoáng sản thực hiện nghiêm túc các nội dung trên. Định kỳ hàng năm tổ chức tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường trước ngày 5 tháng 12.

Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm triển khai, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện; trường hợp có vướng mắc chủ động cùng với các ngành liên quan tháo gỡ kịp thời, nếu vượt thẩm quyền thì báo cáo đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, xử lý. Cuối năm tổng hợp, đánh giá kết quả thực hiện Chỉ thị này báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh trước ngày 20 tháng 12 hàng năm.

Chỉ thị này có hiệu lực sau 10 ngày, kể từ ngày ký và thay thế Chỉ thị số 10/2009/CT-UBND ngày 18/5/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc tiếp tục tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản./.

 

 

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
KT.CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH




Trần Văn Nam

 

 

Đã xem:

Đánh giá:  
 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 11/2012/CT-UBND

Loại văn bảnChỉ thị
Số hiệu11/2012/CT-UBND
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành13/08/2012
Ngày hiệu lực23/08/2012
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcBộ máy hành chính, Tài nguyên - Môi trường
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực 15/05/2017
Cập nhật3 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 11/2012/CT-UBND

Lược đồ Chỉ thị 11/2012/CT-UBND tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản được dẫn chiếu

              Văn bản hướng dẫn

                Văn bản được hợp nhất

                  Văn bản được căn cứ

                    Văn bản hợp nhất

                      Văn bản gốc Chỉ thị 11/2012/CT-UBND tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước

                      Lịch sử hiệu lực Chỉ thị 11/2012/CT-UBND tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước