Quyết định 1858/QĐ-UBND

Quyết định 1858/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2025

Nội dung toàn văn Quyết định 1858/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch phát triển thương mại Bến Tre


UỶ BAN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 1858/QĐ-UBND

Bến Tre, ngày 27 tháng 9 năm 2012

 

QUYẾT ĐỊNH

PHÊ DUYỆT QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI TỈNH BẾN TRE GIAI ĐOẠN 2011-2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2025

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 9 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP;

Căn cứ Thông tư số 17/2010/TT-BCT ngày 05 tháng 01 năm 2010 của Bộ Công Thương quy định về nội dung, trình tự, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch phát triển ngành thương mại;

Căn cứ Quyết định số 4021/UBND-KTN ngày 06 tháng 10 năm 2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc duyệt chủ trương lập Quy hoạch phát triển thương mại tỉnh giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2025;

Căn cứ Biên bản họp Hội đồng thẩm định số 15/BB-HĐ ngày 25 tháng 5 năm 2012 về việc họp Hội đồng thẩm định Quy hoạch phát triển thương mại tỉnh giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2025;

Căn cứ Công văn số 3276/UBND-TH ngày 23 tháng 7 năm 2012 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc trích biên bản họp thành viên Uỷ ban nhân dân tỉnh tháng 7 năm 2012;

Căn cứ Công văn số 1221-CV/TU ngày 06 tháng 9 năm 2012 của Tỉnh uỷ về việc trích biên bản họp Ban Thường vụ;

Xét đề nghị của Giám đốc Sở Công Thương tại Tờ trình số 633/TTr-SCT ngày 19 tháng 9 năm 2012,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch Phát triển thương mại tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2025 (kèm theo) với một số nội dung chủ yếu sau:

1. Mục tiêu:

Tăng GDP của ngành thương mại đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP của tỉnh góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp; thương mại thực sự là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, dẫn dắt sản xuất theo nhu cầu thị trường trong nước và thế giới, góp phần định hướng tiêu dùng; xây dựng thương hiệu sản phẩm của tỉnh, mở rộng thị trường và đẩy mạnh xuất khẩu; góp phần tạo việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống của lao động trong ngành nói riêng và dân cư trong tỉnh nói chung.

Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP ngành thương mại giai đoạn 2011-2015 là 14,8%/năm, giai đoạn 2016-2020 tăng bình quân 16,4%/năm; mức đóng góp của ngành thương mại vào GDP toàn tỉnh 11,8% năm 2015 và 12,8% năm 2020; ngành thương mại góp phần đưa GDP khu vực III bằng hoặc vượt chỉ tiêu tỉnh đề ra, cụ thể là: Tốc độ tăng trưởng trên 16,2% toàn giai đoạn 2011-2020, chiếm tỷ trọng 42,3% trong GDP toàn tỉnh năm 2015 và trên 48,2% năm 2020; kim ngạch xuất khẩu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 20%/năm, giai đoạn 2016-2020 đạt 22%/năm và toàn tỉnh giai đoạn 2011-2020 là 21%/năm; tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2015 là 20%/năm và giai đoạn 2016-2020 là 22%/năm và toàn giai đoạn 2011-2020 là 21%/năm; tỷ trọng vốn đầu tư cho hạ tầng thương mại hiện đại đạt trên 60% tổng vốn đầu tư cho các công trình hạ tầng thương mại chủ yếu được quy hoạch trong giai đoạn 2011-2015 và 80% giai đoạn 2016-2020.

2. Định hướng phát triển thương mại đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025:

a) Định hướng phát triển các mặt hàng chủ lực, xây dựng phát triển thương hiệu mạnh, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường: Tập trung theo hướng nâng dần quy mô sản xuất và tiêu thụ, quan tâm đến quy hoạch, đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu; đa dạng h và nâng cao chất lượng sản phẩm; khuyến khích các doanh nghiệp tiếp cận công nghệ tiên tiến; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm quốc tế; xây dựng thương hiệu, đầu tư sản xuất mặt hàng mới theo nhu cầu của thị trường.

b) Định hướng phát triển thị trường và cơ cấu các loại hình thương mại: Phát triển hệ thống thị trường hàng công nghiệp tiêu dùng, hàng tư liệu sản xuất, hàng nông thủy sản, cân đối hợp lý giữa các trung tâm thương mại, siêu thị, trung tâm mua sắm, chuỗi cửa hàng tiện ích, các chợ truyền thống; kết hợp hài hoà mạng lưới bán buôn, bán lẻ, các tổng đại lý, đại lý và nhượng quyền thương mại.

c) Định hướng phát triển xuất nhập khẩu: Đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao, tăng sản phẩm chế biến, chế tạo sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần tỷ trọng hàng thô; phát huy thế mạnh của các sản phẩm nông nghiệp, thuỷ hải sản… những mặt hàng Bến Tre có thế mạnh về vùng nguyên liệu, các sản phẩm chủ lực đã có thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước; nâng dần tỷ trọng của nhóm hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong cơ cấu hàng xuất khẩu.

d) Định hướng phát triển các loại hình doanh nghiệp, các thành phần kinh tế tham gia hoạt động thương mại trên địa bàn: Phát triển các doanh nghiệp thương mại có vốn Nhà nước có đủ năng lực và uy tín giữ vai trò hướng dẫn thị trường và là công cụ của Nhà nước can thiệp khi thị trường có biến động; khuyến khích việc thu hút các tập đoàn phân phối đa quốc gia đầu tư các cơ sở kinh doanh hiện đại trên địa bàn tỉnh. Các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được hình thành và phát triển theo mối liên kết kinh tế xuyên suốt quá trình sản xuất - phân phối - tiêu dùng và giữa các khâu trong quá trình phân phối.

đ) Định hướng phát triển hệ thống phân phối hàng hoá hiện đại và truyền thống: Xây dựng hệ thống phân phối hàng hoá hiện đại như: Trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm, siêu thị tổng hợp và chuyên doanh, cửa hàng tiện ích... với phương thức kinh doanh hiện đại, quản lý chuyên nghiệp kết hợp với sự duy trì, phát triển các chợ truyền thống phục vụ dân cư nông thôn.

e) Định hướng phát triển thương mại điện tử: Đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử, trong đó chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng, hoàn thiện khung pháp lý…; khuyến khích các doanh nghiệp và người tiêu dùng mua bán trực tuyến; nâng cao năng lực quản lý nhà nước về thương mại điện tử; xây dựng các cơ sở dữ liệu sử dụng chung cho các lĩnh vực quản lý doanh nghiệp, quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, thống kê…

g) Định hướng phát triển các dịch vụ phụ trợ cho phân phối hàng hoá: Phát triển đa dạng và chuyên nghiệp hóa các dịch vụ phụ trợ cho quá trình phân phối hàng hoá như: Vận chuyển, phân loại, đóng gói, bảo quản, lưu kho, lưu bãi, dịch vụ giao hàng…; khuyến khich các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, kinh doanh các dịch vụ phụ trợ trong lưu thông phân phối.

h) Định hướng phát triển xúc tiến thương mại: Đa dạng các hoạt động xúc tiến thương mại; xây dựng các hoạt động xúc tiến thương mại gắn với phát triển thị trường; trước hết tập trung vào khách hàng, thị trường truyền thống, mặt hàng chủ lực có sức cạnh tranh cao của tỉnh; tích cực tìm kiếm thị trường mới; từng bước đa dạng hoá thị trường tránh phụ thuộc vào một thị trường nhất định nhằm hạn chế rủi ro khi thị trường có biến động. Xây dựng cơ sở dữ liệu, hệ thống cung cấp thông tin, dự báo thị trường; hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu cho một số sản phẩm chủ lực của tỉnh, tổ chức quảng bá và lập chương trình bảo vệ thương hiệu. Hình thành và khuyến khích phát triển các hiệp hội, làng nghề và các tổ chức xã hội nghề nghiệp khác trong việc hỗ trợ phát triển thương hiệu, mở rộng thị trường.

3. Quy hoạch phát triển các loại hình thương mại chủ yếu:

a) Quy hoạch phát triển 01 trung tâm hội chợ triển lãm tại thành phố Bến Tre, 05 trung tâm thương mại tại thành phố Bến Tre và các huyện: Ba Tri, Bình Đại, Mỏ Cày Nam.

b) Quy hoạch phát triển 05 trung tâm mua sắm tại thị trấn các huyện: Giồng Trôm, Châu Thành, Chợ Lách, Thạnh Phú, Mỏ Cày Bắc.

c) Quy hoạch phát triển 23 siêu thị các loại; kể cả siêu thị tổng hợp và siêu thị chuyên doanh trên địa bàn tỉnh.

d) Quy hoạch mới 65 chợ, nâng cấp 51 chợ đạt chuẩn theo tiêu chí nông thôn mới; TCXDVN: 361 chợ - tiêu chuẩn thiết kế và các quy định khác của Nhà nước về phát triển chợ; đến năm 2020, phấn đấu tại thành phố, thị xã có ít nhất 01 chợ hạng 1; tại thị trấn các huyện có 1 chợ hạng 2 trở lên; các chợ xã, phường đạt chuẩn chợ hạng 3; từng bước nâng cấp các chợ tạm và xoá bỏ chợ tự phát.

4. Dự kiến tổng nhu cầu vốn đầu tư:

a) Tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển thương mại tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011 -2020 là 39.362,5 tỷ đồng theo giá thực tế, trong đó: Giai đoạn 2011-2015 cần 9.350,5 tỷ đồng; giai đoạn 2016-2020 cần 30.012 tỷ đồng.

b) Vốn đầu tư cho kết cấu hạ tầng thương mại: Hệ thống chợ, trung tâm hội chợ triển lãm, trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm và siêu thị trong giai đoạn 2011-2020 cần 1.418,5 tỷ đồng; trong đó đầu tư cho hệ thống các công trình thương mại hiện đại khoảng 1.077 tỷ đồng và hệ thống chợ khoảng 341,5 tỷ đồng.

Dự kiến nguồn ngân sách hỗ trợ cho kết cấu hạ tầng thương mại chiếm khoảng 25% nhu cầu vốn đầu tư là 354 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách địa phương chiếm 70% khoảng 248 tỷ đồng, ngân sách Trung ương chiếm 30% khoảng 106 tỷ đồng; vốn từ các nguồn khác (vốn doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, vốn PDI, vốn hỗ trợ của các tổ chức trong chiếm khoảng 75% nhu cầu vốn đầu tư là 1.064 tỷ đồng.

5. Nhu cầu đất đầu tư: Tổng nhu cầu đất cần bổ sung trong kỳ quy hoạch đối với các công trình hạ tầng thương mại toàn tỉnh khoảng 35,44ha.

6. Các giải pháp chủ yếu: Bao gồm 08 giải pháp chủ yếu về: Vốn đầu tư; hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm trong nước và xuất khẩu; phát triển nguồn nhân lực thương mại; phát triển khoa học - công nghệ; phát triển các phương thức kinh doanh hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp; đẩy mạnh quá trình liên kết giữa hoạt động thương mại tỉnh Bến Tre với hoạt động thương mại các địa phương và ngoài nước; đổi mới phương thức và tăng cường năng lực quản lý nhà nước đối với thương mại trên địa bàn tỉnh và giải pháp về hạ tầng thương mại.

7. Chính sách phát triển thương mại: Bao gồm 04 chính sách chủ yếu về: Ưu đãi đu tư vào kết cấu hạ tầng thương mại trong tỉnh; chính sách về đất đai; chính sách về tài chính tín dụng và các chính sách khác.

Điều 2. Các ngành, các địa phương phải căn cứ vào nội dung Quy hoạch này khi xây dựng phát triển ngành, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương trong từng kỳ 5 năm và hàng năm nếu có liên quan đến phát triển thương mại để đảm bảo tính thống nhất chung trong toàn tỉnh.

Điều 3. Giao Giám đốc Sở Công Thương có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh tổ chức quán triệt nội dung và triển khai, cụ thể h thực hiện Quy hoạch này.

Điều 4. Các ông (bà) Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Giám đốc các Sở: Công Thương, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Giao thông vận tải, Khoa học và Công nghệ, Lao động - Thương binh và Xã hội, Thông tin và Truyền thông, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thủ trưởng các cơ quan có liên quan và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký./.

 

 

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH




Nguyễn Văn Hiếu

 

QUY HOẠCH

PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI TỈNH BẾN TRE GIAI ĐOẠN 2011-2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2025
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1858/QĐ-UBND ngày 27 tháng 9 năm 2012 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre)

MỞ ĐẦU

Ngành thương mại Bến Tre những năm qua đã có những bước phát triển khá, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu cho sản xuất và đời sống của nhân dân. Thị trường đô thị phát triển nhanh, thị trường nông thôn đang từng bước mở rộng, xuất khẩu tăng trưởng, xúc tiến thương mại được chú trọng, sản phẩm hàng hoá ngày càng nâng cao vị thế và năng lực cạnh tranh… Thương mại đã đóng góp tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng thương mại - dịch vụ trong GDP toàn tỉnh.

Tuy vậy, trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều thay đổi: Cả nước và các địa phương đang trong quá trình hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới; tiến trình hội nhập kinh tế đặt ra những cơ hội cũng như thách thức lớn cho sự phát triển của ngành thương mại, đòi hỏi định hướng phát triển thương mại vừa phải tập trung khai thác lợi thế từ những cơ hội này, vừa phải giảm thiểu được các rào cản, rủi ro...

Mặt khác, các yếu tố về hạ tầng kinh tế - xã hội trong tỉnh đang được đầu tư phát triển. Cầu Rạch Miễu và cầu Hàm Luông được đưa vào sử dụng đã tạo điều kiện kết nối Bến Tre với các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Sắp tới, cầu Cổ Chiên sẽ được hoàn thành nối liền Bến Tre với các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và các tỉnh ven biển Đông… là những điều kiện và nền tảng cơ bản để Bến Tre phát triển kinh tế toàn diện tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, đô thị hoá và hiện đại hoá.

Trước những yêu cầu phát triển mới của tỉnh, để phát huy mạnh mẽ vai trò của thương mại trong việc hình thành và mở rộng thị trường cả trong và ngoài nước; để định hướng sản xuất thích ứng nhanh với những thay đổi của thị trường; để phục vụ tốt nhu cầu tiêu dùng của tỉnh; để hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại phát triển các hệ thống phân phối hàng hoá văn minh, hiện đại đủ sức cạnh tranh trong điều kiện thị trường dịch vụ phân phối đã được mở cửa, đồng thời khắc phục một số tồn tại, hạn chế trong thời gian qua… việc xây dựng quy hoạch phát triển ngành thương mại của tỉnh giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2025, trên cơ sở phát huy các lợi thế phát triển, thích ứng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và phù hợp với các mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời kỳ đến năm 2020 là công việc hết sức quan trọng và cần thiết.

Mục tiêu nghiên cứu:

Từ phân tích bối cảnh trong nước và quốc tế theo xu thế hội nhập tác động đến ngành thương mại; phân tích đánh giá các nguồn lực; phân tích thực trạng phát triển ngành thương mại những năm qua để xác định:

- Quan điểm, mục tiêu phát triển, định hướng phát triển thương mại của tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2025;

- Phân bố kết cấu hạ tầng chủ yếu của ngành thương mại theo không gian thị trường, theo địa bàn lãnh thổ của tỉnh giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2025;

- Đề xuất các chính sách, giải pháp phát triển thương mại.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động thương mại hàng hoá và dịch vụ thương mại trên địa bàn tnh Bến Tre gắn với quan hệ vùng kinh tế đồng bằng sông Cửu Long và hoạt động thương mại cả nước.

Phạm vi nghiên cứu: Các điều kiện, yếu tố thuận lợi, khó khăn, quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển thương mại; phân bố kết cấu hạ tầng thương mại chủ yếu trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Thời gian lập quy hoạch đến năm 2020, các định hướng phát triển có tầm nhìn đến năm 2025.

Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp điều tra, khảo sát; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê; phương pháp chuyên gia.

Những căn cứ lập quy hoạch:

Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 9 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP;

Quyết định số 83/QĐ-TTg ngày 13 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre đến năm 2020;

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010-2015;

Tờ trình số 843/TTr-SCT ngày 23 tháng 9 năm 2010 của Sở Công Thương, được UBND tỉnh Bến Tre phê duyệt tại Công văn số 4021/UBND-KTN về việc duyệt chủ trương lập quy hoạch phát triển thương mại tỉnh giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2025;

Công văn số 4372/UBND-KTN ngày 28 tháng 10 năm 2010 của UBND tỉnh Bến Tre về việc phê duyệt Đề cương chi tiết quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2025;

Thông tư số 17/2010/TT-BCT ngày 05 tháng 5 năm 2010 của Bộ Công Thương quy định về nội dung, trình tự, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch phát triển thương mại;

Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ; Nghị định số 114/2009/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ;

Quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24 tháng 9 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) về việc ban hành Quy chế siêu thị, trung tâm thương mại;

Quyết định số 23/QĐ-TTg ngày 06 tháng 01 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010-2015 và định hướng đến năm 2020”;

Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10 tháng 9 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành Tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn;

Nguồn số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thống kê tỉnh, các sở, ngành và các huyện, thành phố thuộc tỉnh; thông tin của Bộ Công Thương, Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại, Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ Công Thương);

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre đến năm 2020 - báo cáo tổng hợp, chương trình phát triển xuất khẩu của tỉnh, các quy hoạch đô thị, giao thông vv…

Biên bản làm việc với UBND các huyện, thành phố trong thời gian điều tra khảo sát thực tế;

Ý kiến đóng góp trực tiếp và bằng văn bản của đại diện các sở, ban ngành và UBND các huyện, thành phố của tỉnh;

Biên bản họp Hội đồng thẩm định quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2025;

Biên bản họp thành viên Uỷ ban về quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2025;

Biên bản họp Thường vụ Tỉnh uỷ về quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2025,

Nội dung quy hoạch ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 5 phần:

Phần 1: Tổng quan về hiện trạng và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre.

Phần 2: Hiện trạng phát triển thương mại tỉnh Bến Tre và tình hình thực hiện quy hoạch giai đoạn trước.

Phần 3: Phân tích, dự báo xu hướng phát triển thương mại tỉnh Bến Tre.

Phần 4: Quy hoạch phát triển thương mại giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2025.

Phần 5: Các chính sách và giải pháp thực hiện quy hoạch phát triển thương mại giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2025.

Phần I

TỔNG QUAN HIỆN TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH BẾN TRE

I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, TÀI NGUYÊN TỰ NHIÊN, TIỀM NĂNG KINH TẾ

Bến Tre thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía Tây và Nam giáp các tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 65km.

Bến Tre có tổng diện tích tự nhiên 2.360,6km2, chiếm 5,8% diện tích vùng ĐBSCL. Tỉnh có 9 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm thành phố Bến Tre và 8 huyện: Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Giồng Trôm, Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú.

Bến Tre có hệ thống giao thông đường thuỷ thuận lợi với 4 sông chính chảy ra biển Đông (cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông và cửa Cổ Chiên) và hệ thống kênh, rạch chằng chịt phủ khắp 3 dãy cù lao, là các trục giao thông đối ngoại quan trọng gắn kết kinh tế Bến Tre với các tỉnh trong vùng ĐBSCL và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Các trục đường bộ quan trọng (quốc lộ 60, quốc lộ 57, đường tỉnh 883, 885, 887) phục vụ tốt cho giao lưu nội tỉnh là chính.

Bến Tre có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình hàng năm 26-27oC; độ ẩm trung bình 76-86%; có 2 loại gió mùa Tây - Tây Nam và gió Đông - Đông Bắc. Nói chung, thời tiết khá thuận lợi, ít có những diễn biến đột ngột bất thường.

Bến Tre được cung cấp nước ngọt từ sông Tiền và sông Hậu. Nhưng do địa hình nằm dưới mực nước biển trung bình, nhiều sông rạch lớn, nên nước sông bị nhiễm mặn, đặc biệt vào mùa khô, gây nên tình trạng thiếu nước ngọt gay gắt.

Các nguồn tài nguyên chủ yếu và quan trọng của Bến Tre là tài nguyên đất nông nghiệp và tài nguyên biển. Diện tích đất giồng cát chiếm 6,8% diện tích đất tự nhiên, phù hợp với trồng rau, màu và một số cây ăn trái; diện tích đất phù sa ngọt chiếm 34% tập trung ở các vùng nước ngọt như: Chợ Lách, Châu Thành, Mỏ Cày Bắc, có độ phì từ khá đến cao, thích hợp canh tác lúa, rau màu, cây lâu năm và cây ăn trái; đất phù sa nhiễm mặn có diện tích chiếm đến 50% phân bố tập trung ở các huyện ven biển như: Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, thích hợp trồng lúa, dừa, mía, cây ăn trái, trồng rừng và nuôi trồng thuỷ sản; nhóm đất phèn chiếm khoảng 9,4% diện tích, phân bố rải rác trên toàn địa bàn tỉnh, đang được cải tạo để canh tác các loại cây như: Lúa, mía, dừa.

Tài nguyên biển có tiềm năng khá phong phú với các loại tôm, cua, nghêu, sò huyết, cá khoảng 120 loài, trong đó có cả các loại cá nước mặn và nước lợ.

Tài nguyên du lịch có tiềm năng với du lịch vườn, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng và du lịch văn hoá, lịch sử.

Như vậy, tiềm năng phát triển kinh tế dựa vào tài nguyên của Bến Tre tập trung vào các ngành kinh tế nông nghiệp, ngư nghiệp và các ngành chế biến sản phẩm nông nghiệp, thuỷ sản. Ngoài ra, nếu được đầu tư đúng mức thì Bến Tre có thể phát triển mạnh du lịch. Đây là những yếu tố quan trọng để tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ của ngành thương mại, đồng thời tạo nguồn cung ứng hàng h có lợi thế và sức cạnh tranh cao cho ngành thương mại để mở rộng hệ thống phân phối không chỉ thị trường trong tỉnh, trong vùng mà cả nước và thế giới.

II. HIỆN TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI

1. Tăng trưởng GDP và cơ cấu GDP:

Năm 2000, GDP toàn tỉnh giá thực tế là 5.417 tỷ đồng, tương đương giá so sánh 1994 là 4.050,9 tỷ đồng, năm 2005 là 9.940,8 tỷ đồng, tương đương giá so sánh là 6.255,7 tỷ đồng và năm 2010 là 22.012,8 tỷ đồng, tương đương giá so sánh là 9.787,9 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng bình quân GDP giai đoạn 2001-2005 là 9,1%/năm và giai đoạn 2006-2010 là 9,4%/năm; cơ cấu kinh tế tỉnh có sự chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng khu vực I từ 67,7% năm 2000, còn 58,4% năm 2005 và đến năm 2010 còn 46,5%; khu vực II, năm 2000 đạt tỷ trọng 11,2%, năm 2005 là 15,9% và năm 2010 tăng lên 17,9%; khu vực III cũng tăng dần tỷ trọng, năm 2000 là 21,1%, năm 2005 là 25,7% và năm 2010 là 35,6%. Năm 2011, GDP toàn tỉnh giá thực tế đạt 29.783,7 tỷ đồng tương đương giá so sánh 1994 là 10.643,4 tỷ đồng, tăng trưởng 8,7% so với năm 2010. Khu vực I tăng 7,1%, khu vực II tăng 12,7% và khu vực III tăng 8,5%.

Bảng 1: GDP toàn tỉnh và các khu vực giai đoạn 2000-2010 và năm 2011

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Chỉ tiêu

2000

2005

2010

Sơ bộ 2011

TĐTTBQ

(% năm)

TĐTT (%)

‘01-‘05

‘06-‘10

‘11/‘10

GDP toàn tỉnh giá SS 1994

4.050,9

6.255,7

9.787,9

10.643,4

9,1

9,4

8,7

GDP khu vực I

2.672,4

3.561,1

4.272,8

4.576,5

5,9

3,7

7,1

GDP khu vực II

548,9

1.062

1.964,1

2.214,2

14,1

13,1

12,7

GDP khu vực III

829,5

1.632,6

3.551

3.852,7

14,5

16,8

8,5

GDP toàn tỉnh giá thực tế

5.417

9.940,8

22.012,8

29.783,7

 

 

 

GDP khu vực I

3.665,7

5.809,3

10.234,4

15.116,7

 

 

 

GDP khu vực II

608,6

1.581

3.940,7

4.934,5

 

 

 

GDP khu vực III

1.142,7

2.550,5

7.837,7

9.732,5

 

 

 

Cơ cấu GDP (%)

100

100

100

100

 

 

 

Khu vực I

67,7

58,4

46,5

50,7

 

 

 

Khu vực II

11, 2

15,9

17,9

16,6

 

 

 

Khu vực III

21,1

25,7

35,6

32,7

 

 

 

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre

Về cơ cấu thành phần kinh tế trong GDP, năm 2000, kinh tế Nhà nước chiếm tỷ trọng 14%, năm 2005 là 18%, năm 2010 là 19% và năm 2011 là 17,3%; năm 2000, kinh tế ngoài Nhà nước chiếm tỷ trọng 86%, năm 2005 là 82%, năm 2010 là 79,6% và năm 2011 là 80,3%. Trong đó kinh tế tư nhân và cá thể chiếm tỷ trọng chủ yếu trong kinh tế ngoài Nhà nước, kinh tế tư nhân có tỷ trọng tăng dần, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng nhỏ trong GDP toàn tỉnh nhưng tăng dần, năm 2010 là 1,3%, năm 2011 tăng lên đạt 2,3%.

GDP bình quân đầu người theo giá thực tế là 4,2 triệu đồng năm 2000, tăng lên 7,8 triệu đồng năm 2005, đạt 17,5 triệu đồng năm 2010 và đạt 23,7 triệu đồng năm 2011.

2. Tình hình thu, chi ngân sách:

Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh năm 2000 là 744,2 tỷ đồng, năm 2005 là 1.571,9 tỷ đồng và năm 2010 là 5.168,8 tỷ đồng. Năm 2010, tổng thu ngân sách gấp gần 7 lần năm 2000 và 3,3 lần năm 2005, chiếm 23,5% GDP. Năm 2011, tổng thu ngân sách là 5.292,1 tỷ đồng, chiếm 17,8% GDP.

Chi ngân sách của tỉnh năm 2000 là 707,5 tỷ đồng, năm 2005 là 1.529,2 tỷ đồng, năm 2010 là 5.048,4 tỷ đồng, năm 2011 là 5.215,5 tỷ đồng. Trong đó chi cho đầu tư phát triển năm 2000 chiếm 30%, năm 2005 chiếm 22,3%, năm 2010 chiếm 23,2% và năm 2011 chiếm 18,4% tổng chi.

Nhìn chung, từ năm 2000 đến nay, công tác quản lý điều hành thu, chi ngân sách chuyển biến tích cực. Đó là, thu ngân sách đều vượt dự toán; thu luôn cao hơn chi, chi thường xuyên luôn bảo đảm kịp thời tiền lương, các khoản có tính chất lương, chi hoạt động của các đơn vị theo dự toán… Tuy nhiên, chi đầu tư phát triển của tỉnh còn thấp, là hạn chế lớn đối với việc đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội.

Bảng 2: Thu, chi ngân sách năm 2000, 2005, 2010 và 2011

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Chỉ tiêu

2000

2005

2010

Sơ bộ 2011

Tổng thu ngân sách

744,2

1.571,9

5.168,8

5.292,1

Tổng chi ngân sách

707,5

1.529,2

5.048,4

5.215,5

Chi đầu tư phát triển

212,3

341,5

1.173,4

959,1

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre

3. Dân số, lao động, thu nhập và mức sống:

Dân số tỉnh Bến Tre năm 2000 là 1.297.875 người, năm 2005 là 1.273.184, giai đoạn 2001-2005 giảm bình quân 0,38%/năm, năm 2010 là 1.256.707 người, giai đoạn 2006-2010 giảm bình quân 0,26%/năm, năm 2011 là 1.257.782 người tăng 0,086% so với năm 2010. Cơ cấu dân số đô thị - nông thôn thay đổi theo hướng dân số đô thị tăng từ 8,5% năm 2000 lên 9,3% năm 2005, 10,01% năm 2010 và 10,03% năm 2011. Tốc độ tăng bình quân dân số đô thị giai đoạn 2001-2005 là 1,5%/năm và 1,2%/năm giai đoạn 2006-2010, năm 2011 tăng 0,2% so với năm 2010; dân số nông thôn giảm 0,56%/năm giai đoạn 2001-2005 và 0,41%/năm giai đoạn 2006-2010, năm 2011 tăng 0,07% so với năm 2010. Nhìn chung, tốc độ đô thị h trên địa bàn tỉnh diễn ra chậm, tỷ lệ dân số đô thị còn thấp. Giai đoạn 2001-2010, dân số giảm một mặt do kế hoạch hoá gia đình, mặt khác, do một bộ phận lao động trẻ di chuyển đến các địa phương khác đi học, tìm việc làm và sinh sống, đến năm 2011 dân số đã tăng hơn kế hoạch phát triển dân số của tỉnh (0,4%).

Bảng 3: Phát triển dân số giai đoạn 2000-2010 và năm 2011

Đơn vị tính: Người

Chỉ tiêu

2000

2005

2010

Sơ bộ 2011

TĐTTBQ (%/năm)

TĐTT(%)

’01-‘05

’06-‘10

‘11/’10

Tổng dân số

1.297.875

1.273.184

1.256.707

1.257.782

- 0,38

- 0,26

0,086

Dân số nông thôn

1.187.621

1.154.592

1.130.851

1.131.669

- 0,56

- 0,42

0,07

Tỷ trọng (%)

91,5

90,7

89,99

89,97

 

 

 

Dân số đô thị

110.254

118.592

125.856

126.113

1,5

1,2

0,2

Tỷ trọng (%)

8,5

9,3

10,01

10,03

 

 

 

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre

Cơ cấu lao động của tỉnh có sự giảm mạnh khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, tăng dần khu vực công nghiệp, xây dựng và thương mại, dịch vụ. Tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản giảm từ 82,5% năm 2000 xuống 74,3% năm 2005, 56,4% năm 2010 và 55,9% năm 2011; tỷ trọng lao động khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 6,0% năm 2000 lên 10,3% năm 2005, 17,4% năm 2010 và 17,7% năm 2011; tỷ trọng lao động khu vực thương nghiệp, sửa chữa, khách sạn, nhà hàng từ 5,4% năm 2000 lên 8,1% năm 2005, 15,5% năm 2010 và năm 2011; tỷ trọng lao động khu vực dịch vụ kho bãi, vận tải, tài chính vv… tăng từ 6,1% năm 2000 lên 7,3% năm 2005, 10,7% năm 2010 và 10,9% năm 2011.

Thực trạng trên cho thấy lao động có xu hướng tăng phục vụ cho ngành công nghiệp xây dựng, thương mại và dịch vụ ở đô thị.

Bảng 4: Lao động và cơ cấu lao động giai đoạn 2000-2010 và năm 2011

Đơn vị tính: Người

Năm

Tổng số

Trong đó

Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

Công nghiệp và xây dựng

Thương mại - dịch vụ

Thương nghiệp, SC, KS nhà hàng

Dịch vụ khác

2000

645.251

532.045

38.840

34.821

39.545

2005

697.716

518.368

72.043

56.186

51.119

2010

752.018

424.110

130.685

116.550

80.673

Sơ bộ 2011

759.194

424.659

134.345

117.611

82.579

Cơ cấu (%)

2000

100

82,5

6,0

5,4

6,1

2005

100

74,3

10,3

8,1

7,3

2010

100

56,4

17,4

15,5

10,7

Sơ bộ 2011

100

55,9

17,7

15,5

10,9

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre

Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh Bến Tre luôn tăng trong 10 năm trở lại đây, năm 2002 là 302,8 nghìn đồng/người/tháng năm 2006 là 614 nghìn đồng, năm 2008 là 872,2 nghìn đồng và năm 2010 là 1.199,9 nghìn đồng/người/tháng, tuy vẫn thấp so với thu nhập bình quân đầu người của cả nước và của vùng ĐBSCL, nhưng vài năm gần đây, khoảng cách đó đã ngày càng được rút ngắn. Nếu năm 2002, chỉ bằng 85% so với cả nước, bằng 81,6% so với vùng ĐBSCL thì năm 2010, bằng 86,5% và 96,2%. Đó là một bước tiến lớn trong việc cải thiện mức sống dân cư của tỉnh Bến Tre.

Mặc dù, tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người của Bến Tre khá cao trong giai đoạn 2006 đến năm 2010, nhưng về mức thu nhập vẫn thấp. Mặt khác, đến năm 2010 và 2011 tỷ lệ dân cư nông thôn của Bến Tre vẫn chiếm tới 90%, dân số đô thị chỉ chiếm khoảng 10%; thu nhập bình quân đầu người từ các hoạt động nông, lâm nghiệp, thủy sản ở địa bàn này cũng ở mức cao, tỷ lệ này năm 2002 của Bến Tre là 36,9%, năm 2008 là 33,3%, năm 2010 là 29,4%. Trong khi đó, thu nhập từ tiền công, tiền lương, các hoạt động phi nông nghiệp vẫn còn ở mức thấp với tỷ trọng trên tổng thu nhập những năm gần đây là: 51,4% năm 2002, 42,6% năm 2006, 45,5% năm 2008 và 55,5% năm 2010. Điều đó, đồng nghĩa với tỷ lệ thu nhập chung của dân cư Bến Tre bằng hiện vật phục vụ trực tiếp cho tiêu dùng vẫn khá cao.

4. Phát triển các ngành kinh tế:

4.1. Ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản:

Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng tưởng bình quân 5,1%/năm giai đoạn 2001-2005 và 4,9%/năm giai đoạn 2006-2010, năm 2011 tăng 2,8% so với năm 2010. Trong đó ngành trồng trọt tăng trưởng tương ứng thời gian trên là 4,1%/năm, 2,6%/năm và 0,6%; ngành chăn nuôi tăng trưởng 7,0%/năm, 9,8%/năm và 8,5%; dịch vụ nông nghiệp tăng trưởng mạnh đạt 16,0%/năm, 15,9%/năm và 4,8%. Năm 2005, trồng trọt chiếm 62,5%, chăn nuôi chiếm 29,5% và dịch vụ nông nghiệp chiếm 8,0% trong ngành nông nghiệp; tỷ số tương ứng năm 2010 với trồng trọt 59,0%, chăn nuôi 28,3% và dịch vụ 12,7%; năm 2011 trồng trọt 58,9%, chăn nuôi 28,3% và dịch vụ 12,8%.

Sản lượng lúa cả năm của tỉnh khá ổn định đạt bình quân 360.000 tấn/năm (năm 2010 đạt 366.810 tấn), trong đó tập trung ở các huyện: Ba Tri, Giồng Trôm, Thạnh Phú, Bình Đại, Châu Thành; sản lượng rau đậu đạt bình quân những năm qua khoảng 66.220 tấn, có xu hướng tăng, năm 2010 đạt 97.960 tấn, tập trung ở các huyện: Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, Mỏ Cày Bắc; sản lượng dừa đạt trung bình 350 nghìn tấn, năm 2010 đạt 420,2 nghìn tấn, trong đó tập trung ở tất cả các huyện, thành phố, nhiều nhất ở huyện: Giồng Trôm, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Châu Thành, Bình Đại.

Từ năm 2005 đến 2010, đàn trâu trung bình 1990 con, năm 2010 có 1.807 con, tương ứng đàn bò là 159 nghìn và 166.451 con, đàn heo 329 nghìn và 431.562 con, đàn gà 2,2 triệu và 2,9 triệu con, đàn vịt 1,2 triệu và 1,7 triệu con. Năm 2011, đàn heo tăng 3,5%, gà tăng 16,8% và vịt tăng 12,1% so với năm 2010.

Giá trị ngành lâm nghiệp giảm bình quân 8,7%/năm giai đoạn 2006-2010, năm 2011 giảm 12,9% so với năm 2010; giá trị khai thác lâm sản chiếm chủ yếu trong giá trị ngành lâm nghiệp khoảng 90,6% năm 2010, 87,2% năm 2011, còn lại là giá trị trồng, nuôi rừng và dịch vụ lâm nghiệp.

Giá trị thuỷ sản của tỉnh tăng trưởng liên tục, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2001-2005 đạt 10,5%/năm, giai đoạn 2006-2010 đạt 13,9%/năm, năm 2011 tăng 12,2% so với năm 2010. Trong đó nuôi trồng tăng liên tục, khai thác và dịch vụ giai đoạn đầu giảm, giai đoạn 2006-2010 tăng mạnh, dịch vụ tăng 18,8%/năm, khai thác tăng 11,1%/năm. Năm 2011, dịch vụ tăng 10,6%, khai thác tăng 2,9% so với năm 2010, tăng chậm hơn so với bình quân giai đoạn trước; sản lượng thuỷ sản nuôi trồng tăng mạnh trong những năm gần đây, năm 2010 đạt 169.571 tấn trong đó cá đạt 124.850 tấn, tôm 29.208 tấn, năm 2011 đạt 195.028 tấn trong đó cá 142.451 tấn và tôm 38.337 tấn đều tăng khá so với năm 2010; thuỷ sản nuôi trồng tập trung nhiều nhất ở các huyện: Bình Đại, Ba Tri, Giồng Trôm, Chợ Lách; huyện Bình Đại, Ba Tri chiếm gần 50% tổng sản lượng thuỷ sản khai thác của tỉnh.

Bảng 5: Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản (giá SS 1994)

 Đơn vị tính: Tỷ đồng

Chỉ tiêu

2000

2005

2010

Sơ bộ 2011

TĐTTBQ (%/năm)

TĐTT (%)

’01-‘05

’06-‘10

‘11/‘10

I. NÔNG NGHIẼP

2.522,2

3.225,3

4.094,5

4.208,9

5,0

4,9

2,8

1. Trồng trọt

2.017,7

2.464,6

2.802,2

2.819,3

4,1

2,6

0,6

2. Chăn nuôi

428,8

601,6

958,1

1039,4

7,0

9,8

8,5

3. Dịch vụ

75,7

159,1

334,2

350,2

16,0

16,0

4,8

II. LÂM NGHIỆP

52,6

50,2

31,8

27,7

- 0,9

- 8,7

- 12,9

III. THUỶ SẢN

1.373

2.264

4.334,6

4.862,4

10,5

13,9

12,2

1. Nuôi trồng

454,6

1.383,3

2.825,3

3.305,4

24,9

15,4

16,9

2. Khai thác

918,3

856,7

1.452,5

1.494,2

- 1,4

11,1

2,9

3. Dịch vụ

0,14

24

56,8

62,8

- 29,9

18,8

10,6

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre

4.2. Ngành công nghiệp:

Giá trị sản xuất ngành công nghiệp tăng liên tục giai đoạn từ 2006-2010, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 12,8%/năm, năm 2011 tăng 21,8% so với năm 2010. Trong đó công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng 94,2% năm 2005, 93,7% năm 2010 và 95,0% năm 2011, tăng trưởng với tốc độ bình quân 12,5%/năm giai đoạn 2006-2010, năm 2011 tăng mạnh lên 23,4% so với năm 2010; sản xuất thực phẩm và đồ uống tăng trưởng liên tục và chiếm tỷ trọng cao nhất (65,6% năm 2005, 47,9% năm 2010, 55,7% năm 2011) trong giá trị sản xuất ngành công nghiệp.

Bảng 6. Giá trị sản xuất ngành công nghiệp (giá SS 1994)

 Đơn vị tính: Tỷ đồng

Chỉ tiêu

2005

2010

Sơ bộ 2011

TĐTTBQ 2006-2010 (%/năm)

TĐTT 2011/2010

(%)

Tổng giá trị

2.596,3

4.740,4

5.775,6

12,8

21,8

1. Công nghiệp khai thác

52,6

148,2

137,4

23,0

-7,3

2. Công nghiệp chế biến

2.449,1

4.406,1

5.438,8

12,5

23,4

3. Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước

94,6

186,1

199,4

14,5

7,2

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre

Thuỷ sản chế biến, nước mắm, bánh kẹo, đường là những sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh. Giai đoạn 2006-2010, sản lượng thuỷ sản chế biến tăng với tốc độ bình quân 6,9%/năm, nước mắm tăng 3,5%/năm, quần áo may sẵn tăng mạnh đạt tốc độ tăng trưởng 36,6%. Kẹo các loại, đường giảm về sản lượng và tốc độ giảm bình quân trên 6%/năm. Năm 2011, các mặt hàng sản lượng đều tăng so với năm 2010, trong đó thuỷ sản chế biến, nước mắm tăng khoảng 6%, quần áo may sẵn tăng trên 10%.

5. Phát triển đô thị, giao thông:

Đô thị trên địa bàn tỉnh bao gồm: TP.Bến Tre và 8 thị trấn huyện lỵ, mật độ dân số năm 2011 là 533 người/km2. TP.Bến Tre có mật độ dân số cao nhất toàn tỉnh (1.733 người/km2), là khu vực đô thị phát triển nhanh và có hiện trạng kết cấu hạ tầng vượt hơn hẳn các khu đô thị khác trong tỉnh.

Nhìn chung, kết cấu hạ tầng đô thị tại các thị trấn còn yếu, nhất là hệ thống giao thông, hệ thống thoát nước và xử lý rác thải, hệ thống chợ và các điểm thương mại dịch vụ. Các công trình dân dụng chưa phát triển, mặc dù, nhà ở của dân cư đã được cải thiện nhưng nhìn chung còn chật hẹp.

Bến Tre có 5.043km đường bộ, trong đó có 2 tuyến quốc lộ (QL.60 và QL.57); đường tỉnh có 6 tuyến (ĐT.882, 883, 884, 885, 886, 887); 33 tuyến đường huyện; ngoài ra còn có hệ thống đường đô thị, đường nông thôn. Mạng lưới đường bộ phân bố đều khắp các địa phương trong tỉnh. Trên các tuyến giao thông đường bộ có 2.873 cây cầu đã góp phần làm cho giao thông đường bộ thông suốt và thuận tiện.

Tỉnh có khoảng 4.600km đường sông, trong đó sông cho tàu có trọng tải 1.000 -2.000 tấn đi lại được có 168,7km; sông cho tàu 100-600 tấn có khoảng 62,06km; trên 4.000 kênh rạch lớn nhỏ cho ghe thuyền từ 10-20 tấn. Trên địa bàn tỉnh có 6 tuyến kênh, sông do Trung ương quản lý với tổng chiều dài 282,6km. Tuy có nhiều sông rạch nhưng vận tải đường thuỷ của tỉnh mới chỉ khai thác dưới dạng tự nhiên, chưa chủ động nạo vét luồng lạch.

Bến Tre đã và đang xây dựng cảng sông gồm: Cảng Giao Long (Châu Thành) với năng lực thông qua cảng năm 2010 đạt 191.500 tấn/năm, đến năm 2020, dự kiến đạt 255.155 tấn/năm; Cảng Bình Thắng (Bình Đại), công suất 21.600 tấn/năm; Cảng An Thuỷ (Ba Tri) công suất 16.000 tấn/năm; Cảng cá An Nhơn (Thạnh Phú) công suất 8.000 tấn/năm.

III. VỊ TRÍ KINH TẾ CỦA TỈNH TRONG TỔNG THỂ VÙNG LÃNH THỔ

Bến Tre là tỉnh nông nghiệp, đa dạng về tài nguyên đất đai nông nghiệp và biển, có khả năng hình thành các vùng chuyên canh kinh tế vườn và kinh tế biển… tạo ra hàng hoá chất lượng cao và tập trung, có khả năng tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Hệ canh tác chuyên canh và xen canh trong kinh tế vườn đã hình thành và đang lớn mạnh có khả năng tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Hệ canh tác vườn kết hợp du lịch sinh thái cũng đã hình thành, biểu trưng của vùng sông nước.

Bến Tre hiện đứng đầu vùng ĐBSCL về diện tích và sản lượng dừa, sản xuất cây giống và hoa kiểng, chăn nuôi bò; đứng thứ 2 về diện tích cây ăn trái; đứng thứ 3 về sản lượng khai thác thuỷ sản và đứng thứ 4 về sản lượng tôm nước mặn, nước lợ.

Bến Tre có điều kiện thuận lợi để phát triển đồng bộ các khu vực kinh tế, xây dựng các khu kinh tế theo tính chất tiểu vùng như: Khu công nghiệp theo hướng chế biến nông, thuỷ sản và phục vụ nông ngư nghiệp, khu liên hợp cảng cá - công nghiệp - dịch vụ - dân cư ven biển, khu thương mại tập trung, khu dân cư mới… phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Quy mô GDP của Bến Tre thấp hơn bình quân toàn vùng ĐBSCL. Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của Bến Tre tuy tiếp cận ngưỡng 10%/năm nhưng vẫn ở vào mức thấp so với toàn vùng. Nguyên nhân là do tốc độ tăng trưởng khu vực II chậm hơn các tỉnh khác trong khu vực. Ngành thương mại dịch vụ tuy có nhiều nỗ lực nhưng chưa hình thành được các trung tâm lớn, chưa xây dựng được chiến lược sản phẩm và thị trường, xuất khẩu chủ yếu là nông sản sơ chế, giá cả chưa cao vv…

Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, xếp hạng về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (viết tắt là PCI, đây là chỉ số đánh giá và xếp hạng công tác quản lý và điều hành kinh tế các tỉnh thành của Việt Nam trong việc xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp dân doanh) thì năm 2005, Bến Tre đứng thứ 4, năm 2009, đứng thứ 15, năm 2010 đứng thứ 10 và năm 2011 đứng thứ 30 trong 63 tỉnh thành cả nước; tương ứng Bến Tre đứng thứ 2 năm 2005 và thứ 5 trong 3 năm 2009, 2010 và 2011 trong vùng ĐBSCL.

Tóm lại, trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL, Bến Tre chiếm vị trí trung bình về quy mô nền kinh tế; cơ cấu kinh tế còn nặng về nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng thấp, thương mại, dịch vụ phát triển ở mức trung bình khá so với toàn vùng; các chỉ tiêu kết cấu hạ tầng ở mức trung bình. Tuy nhiên, Bến Tre giàu tiềm năng, có vai trò quan trọng cả về kinh tế - xã hội đối với tiểu vùng ven biển ĐBSCL, nếu được tập trung đầu tư xây dựng và phát triển nhanh, toàn diện, Bến Tre sẽ tăng trưởng nhanh và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 và là một điểm động lực phát triển của tiểu vùng.

IV. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH ĐẾN NĂM 2020

1. GDP và cơ cấu GDP:

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân tăng 13,8%/năm trong thời kỳ 2011-2020, trong đó giai đoạn 2011-2015 đạt 13%/năm và giai đoạn 2016-2020 đạt 14,5%/năm. GDP bình quân đầu người đạt khoảng 1.600USD vào năm 2015 và 3.300USD vào năm 2020.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp và thuỷ sản. Dự kiến đến năm 2015, tỷ trọng cơ cấu các ngành nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ là 30,3%-27,4%-42,3%; đến năm 2020 là 19,2%-32,6%-48,2%.

2. Dân số, lao động, việc làm, đời sống:

Dân số tăng bình quân thời kỳ 2011-2020 đạt tốc độ tăng bình quân 0,4%/năm; đến 2020, mật độ điện thoại đạt 90 máy/100 dân; tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 99%; tỷ lệ cấp nước sạch khu tập trung đạt 100% tại khu vực đô thị và 95% hộ dân nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; hình thành các khu đô thị và khu dân cư nông thôn, phấn đấu đảm bảo các tiêu chí về nhà ở, trường học, y tế… xây dựng xã nông thôn mới; đến năm 2020, toàn tỉnh có 02 trường đại học, 02 trường dạy nghề, 03 trường cao đẳng, 09 trung tâm giáo dục thường xuyên, 10 trung tâm dạy nghề; thực hiện chương trình phổ cập nghề nghiệp và đào tạo tay nghề cho người lao động, số lao động được đào tạo so với lao động trong độ tuổi chiếm khoảng 66,3%.

3. Đô thị và giao thông:

Đến năm 2020 TP.Bến Tre (hiện là đô thị loại III) có khả năng đạt chuẩn đô thị loại II; Ba Tri, Mỏ Cày, Bình Đại đạt đô thị loại IV (thị xã) và có 22 đô thị loại V.

Gắn kết với mạng lưới giao thông của vùng ĐBSCL và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam:

- Phát triển hệ trục giao thông Tây Bắc - Đông Nam nối liền các cù lao bao gồm: Tuyến quốc lộ 60 kết hợp với nâng cấp các tuyến đường huyện thành đường tỉnh: Đường huyện 14, Bình Đại - Ba Tri - Thạnh Phú, Thạnh Hải - Mỹ An, Phong Nẫm - thị trấn Mỏ Cày Nam.

- Phát triển hệ trục giao thông Đông Bắc - Tây Nam, bao gồm tuyến quốc lộ 57 kết hợp với nâng cấp các tuyến đường tỉnh: ĐT.882, 883, 884, 885, 886, 887 và nâng cấp tuyến ĐH.10 thành đường tỉnh.

- Nâng cấp các tuyến đường cấp huyện và liên xã; phát triển đồng bộ các tuyến đường đô thị.

- Đầu tư nâng cấp Cảng Giao Long, Cảng Bình Thắng, An Thuỷ và hoàn chỉnh Cảng An Nhơn.

4. Định hướng phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ:

4.1. Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản:

- Phát triển kinh tế vườn và kinh tế biển, phấn đấu tăng trưởng với tốc độ bình quân 6,3%/năm; hình thành và phát triển bền vững các vùng nuôi trồng chuyên canh, hướng đến sản xuất nông - thuỷ sản, hàng hoá quy mô tập trung, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường, tạo nền tảng ổn định của tăng trưởng kinh tế; phát triển các sản phẩm có tính chiến lược và đặc thù là: Trái cây, dừa, tôm, cá, giống cây ăn trái, hoa kiểng, thịt heo, thịt bò.

- Đổi mới phương thức sản xuất làng nghề kết hợp với kỹ thuật canh tác theo công nghệ - kỹ thuật cao đối với sản xuất hoa kiểng và giống cây ăn trái tại Cái Mơn nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và vị thế trên thị trường.

- Phát triển đàn heo cả về số lượng và chất lượng trên cơ sở tăng quy mô, đẩy mạnh chăn nuôi trang trại, nuôi tập trung; phát triển mạnh nuôi bò lên quy mô hàng đầu vùng ĐBSCL, hình thành vùng chăn nuôi và cung ứng giống bò tập trung; phát triển ổn định gia cầm, chú trọng phát triển hình thức nuôi công nghiệp kết hợp vệ sinh phòng dịch.

- Hình thành và ổn định trên 31.100ha mặt nước chuyên nuôi cá tại vùng ngọt hoá, nuôi tôm biển tại vùng mặn lợ, các vùng nuôi luân canh và xen canh lúa - tôm, rừng - tôm.

- Phát triển đánh bắt thuỷ sản theo hướng xa bờ, bảo vệ nguồn lợi thuỷ hải sản khu vực nội địa và ven bờ.

4.2. Công nghiệp và xây dựng:

- Tăng trưởng với tốc độ bình quân 22%/năm, là cơ sở đảm bảo tốc độ phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

- Các ngành công nghiệp chủ đạo là chế biến nông - thuỷ - súc sản, đồ uống từ trái cây, dừa, tôm cá, thịt heo, ngành cơ khí và chế tạo tàu thuyền, hoá chất, may mặc, thủ công mỹ nghệ và các sản phẩm điện, điện tử.

- Sản phẩm công nghiệp chủ yếu có lợi thế phát triển là thuỷ sản đông lạnh, trái cây sơ chế, chế phẩm từ trái dừa, đường tinh khiết, bánh kẹo, thịt chế biến, thức ăn gia súc và thuỷ sản, hàng may mặc, giày xuất khẩu, sản phẩm cơ khí, máy móc các loại, sản phẩm điện tử.

- Đối với ngành xây dựng, tập trung vào công tác chỉnh trang, sửa chữa và xây dựng mới các công trình công cộng và dân dụng, chủ yếu là các cơ quan nhà nước, các công trình phúc lợi công cộng, các khu dân cư mới, các khu tái định cư và nhà ở trong dân, các khu cụm công nghiệp và các cơ sở công nghiệp, thương mại - dịch vụ.

4.3. Thương mại và dịch vụ:

- Tăng trưởng với tốc độ bình quân 16,2%/năm; phấn đấu đến năm 2020, phát triển ở mức độ khá so với các địa phương trong vùng về các lĩnh vực thương mại, du lịch, dịch vụ giáo dục và đào tạo, vận tải, tài chính, ngân hàng.

- Phát triển các khu thương mại tại TP.Bến Tre và các khu thương mại cấp tiểu vùng (Ba Tri, Mỏ Cày Nam, Bình Đại), chợ đầu mối, chợ bán buôn, tiếp nhận và cung ứng hàng hoá cho các chợ và khu vực lân cận; khuyến khích hộ kinh doanh cá thể đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo nâng cấp cơ sở kinh doanh hiện có thành các cửa hàng tự chọn, cửa hàng tiện ích tại các thị trấn huyện và nội ô thành phố; khuyến khích và có chính sách ưu tiên các doanh nghiệp đầu tư xây dựng siêu thị, các cơ sở kinh doanh hàng cao cấp. Đồng thời, chú trọng phát triển đồng bộ hệ thống chợ trong đó cần chú trọng xây dựng chợ dân sinh tại các xã nông thôn vùng sâu, vùng xa.

- Phấn đấu kim ngạch xuất khẩu đạt trên 575 triệu USD năm 2015 và khoảng 1,4 tỷ USD năm 2020, tốc độ tăng trưởng bình quân 20%/năm thông qua việc mở rộng quan hệ hợp tác, liên doanh, liên kết kinh tế với các địa phương khác, đặc biệt với các tỉnh khu vực ĐBSCL và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

V. TRIỂN VỌNG HỢP TÁC KINH TẾ VỚI CÁC TỈNH LÂN CẬN

Bến Tre có vị trí nằm sát vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và là địa bàn trung chuyển giữa các tỉnh ven biển Đông vùng ĐBSCL hướng về vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với mạng lưới giao thông thuỷ, bộ phong phú, thuận lợi. Sau khi cầu Cổ Chiên và tuyến đường quốc gia ven biển hoàn thành, sẽ tạo điều kiện thuận lợi để Bến Tre kết nối trực tiếp với ĐBSCL, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, thu hút đầu tư, phát triển kinh tế biển, kinh tế vườn và mở rộng hoạt động thương mại, dịch vụ, trở thành trung tâm trung giao lưu hàng hoá giữa các tỉnh, thành duyên hải ĐBSCL với TP.Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Bến Tre có thể coi là vùng nguyên liệu nông nghiệp quan trọng, cánh tay nối dài hướng ra biển Đông và cũng là địa bàn nhận chuyển dịch đầu tư, chuyển giao công nghệ, tăng cường giao lưu kinh tế và phát huy điều kiện thị trường tiêu thụ. Ngoài ra, Bến Tre cũng có thể trở thành địa bàn trung chuyển quan trọng từ các tỉnh ven biển Đông vùng ĐBSCL (Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau) hướng về vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Sau khi cầu Cổ Chiên hoàn thành, việc kết nối giữa các tỉnh thuận lợi hơn thì khả năng tăng trưởng kinh tế của Bến Tre trong thời kỳ đến năm 2020 sẽ có điều kiện phát triển nhanh.

Phần II

HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUY HOẠCH GIAI ĐOẠN 2006-2010

I. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI CỦA TỈNH

1. Vị trí, vai trò, quy mô và tốc độ tăng trưởng của ngành thương mại:

1.1. GDP của ngành thương mại:

Năm 2005, GDP của ngành thương mại là 872 tỷ đồng giá thực tế tương đương giá so sánh 1994 là 557 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 34,2% của khu vực III và 8,8% tổng GDP; ngành thương mại đóng góp 34,1% vào GDP khu vực III và 8,9% vào GDP toàn tỉnh; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001-2005 là 8,7%/năm. Năm 2010, GDP ngành thương mại đạt 2.859,7 tỷ đồng giá thực tế tương đương 1.067,9 tỷ đồng giá so sánh 1994, chiếm tỷ trọng 36,5% của khu vực III và 13,0% GDP toàn tỉnh; ngành thương mại đóng góp 30,1% vào GDP khu vực III và 10,9% vào GDP toàn tỉnh; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-2010 là 13,9%/năm. Năm 2011, ngành thương mại tăng trưởng 5% so với năm 2010, đóng góp 29,1% vào GDP khu vực III và 10,5% vào GDP toàn tỉnh.

Bảng 7: GDP ngành thương mại giai đoạn 2000-2010 và năm 2011

 Đơn vị tính: Tỷ đồng

Chỉ tiêu

2000

2005

2010

Sơ bộ 2011

TĐTTBQ (%/năm)

TĐTT (%)

‘01-'05

‘06-'10

‘11/-'10

GDP toàn tỉnh giá SS 1994

4.050,9

6.255,7

9.787,9

10.643,4

9,1

9,4

8,7

GDP KV III giá SS

829,5

1.632,7

3.551

3.852,7

14,5

16,8

9,5

GDP thương mại giá SS

367

557

1.067,9

1.121,2

8,7

13,9

5,0

Đóng góp GDP TM/GDP toàn tỉnh (%)

9,1

8,9

10,9

10,5

 

Đóng góp GDP TM/GDP KV III (%)

44,2

34,1

30,1

29,1

GDP toàn tỉnh giá thực tế

5.417

9.940,8

22.012,8

29.783,7

GDP KV III giá TT

1.142,7

2550.5

7.837,7

9.732,5

GDP thương mại giá TT

504

872

2.859,7

3.496,4

Cơ cấu (%)

GDP TM trong GDP toàn tỉnh

9,3

8,8

13,0

11,7

 

GDP TM trong GDP KV III

44, 1

34,2

36,5

35,9

Nguồn: Tính toán theo niên giám thống kê tỉnh Bến Tre

Với sự phát triển không ngừng, ngành thương mại đã đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng của khu vực III cũng như đóng góp vào tăng trưởng GDP toàn tỉnh; tỷ trọng của khu vực III trong GDP toàn tỉnh cũng tăng nhanh từ 21,1% năm 2000 lên 25,7% năm 2005, 35,6% năm 2010 và 32,7% năm 2011; khu vực III phát triển nhanh nhất trong 3 khu vực; tốc độ tăng trưởng bình quân của khu vực III trong giai đoạn 2001-2005 là 14,5%/năm và giai đoạn 2006-2010 là 16,8%/năm; khu vực III ngày càng phát triển góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng giảm dần khu vực nông - lâm - thuỷ sản, tăng dần khu vực công nghiệp, xây dựng và tăng nhanh khu vực thương mại, dịch vụ.

1.2. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng:

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (TMBLHH&DTDVTD) năm 2000 đạt 2.177,1 tỷ đồng, năm 2005 đạt 5.458 tỷ đồng, năm 2010, đạt 15.547,5 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001-2005 đạt 20,2%/năm và đạt 23,3%/năm trong giai đoạn 2006-2010. TMBLHH&DTDVTD do ngành thương mại thực hiện năm 2000 đạt 2.019,7 tỷ đồng, năm 2005 đạt 5.336,3 tỷ đồng, năm 2010 đạt 14.637,1 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 93%-97% TMBLHH&DTDVTD của tỉnh; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001-2005 đạt 21,5%/năm và đạt 22,4%/năm trong giai đoạn 2006-2010. Năm 2011, TMBLHH&DTDVTD do ngành thương mại thực hiện tăng 19,3% so với năm 2010.

Bảng 8: Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giai đoạn 2000 -2010 và năm 2011

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Chỉ tiêu

2000

2005

2010

Sơ bộ 2011

TĐTTBQ (%/năm)

TĐTT (%)

‘01-'05

‘06-'10

‘11/'10

Tổng số

2.177,1

5.458

15.547,5

18.603,1

20,2

23,3

19,7

Nhà nước

784,9

485,3

1.043,5

1.174,4

 

 

 

Tỷ trọng (%)

36,0

8,9

6,7

6,3

 

 

 

Ngoài Nhà nước

1.392,2

4.972,7

14.504

17.428,7

 

 

 

Tỷ trọng (%)

64,0

91,1

93,3

93,7

 

 

 

Thương mại, KS, NH

2.019,7

5.336,3

14.637,1

17.456,7

21,5

22,4

19,3

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre

MBLHH&DTDVTD bình quân đầu người của tỉnh năm 2000 là 1,7 triệu đồng, năm 2005 là 4,3 triệu đồng, năm 2010 là 12,4 triệu đồng, năm 2011 là 14,8 triệu đồng; MBLHH&DTDVTD bình quân đầu người năm 2010 gấp 2,88 lần so với năm 2005. MBLHH&DTDVTD bình quân đầu người của tỉnh thấp hơn so với bình quân chung vùng ĐBSCL (16,4 triệu năm 2010) và cả nước (17,7 triệu đồng).

Tốc độ tăng trưởng MBLHH&DTDVTD bình quân đầu người tăng với nhịp độ nhanh, liên tục và trong thời gian dài có thể nhìn ở hai khía cạnh là năng lực phục vụ của đội ngũ doanh nghiệp và cơ sở kinh tế thương mại cá thể đã có sự vươn lên, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của người tiêu dùng. Mặt khác, thu nhập bình quân đầu người tăng đã tác động làm tăng nhu cầu tiêu dùng, tăng khả năng thanh toán, thể hiện mức sống dân cư không ngừng được nâng lên.

Tỷ trọng MBLHH&DTDVTD của doanh nghiệp có vốn Nhà nước có chiều hướng giảm từ 36,1% năm 2000, 8,9% năm 2005, 6,7% năm 2010 và 6,3% năm 2011; tỷ trọng của kinh tế ngoài quốc doanh là 64% năm 2000, 93,3% năm 2010 và 93,7% năm 2011. Nguyên nhân do sự phát triển nhanh cả về số lượng và quy mô kinh doanh của kinh tế dân doanh, trong khi đó các doanh nghiệp có vốn Nhà nước chậm phát triển. Đến nay, kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng khẳng định vị thế tuyệt đối trên lĩnh vực bán lẻ và kinh doanh dịch vụ.

1.3. Lao động ngành thương mại:

Tổng số lao động hoạt động trong lĩnh vực thương mại năm 2005 là 43.711 người chiếm 47,2% trong tổng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp và cơ sở kinh tế cá thể của tỉnh. Đến năm 2010, số lượng lao động thương mại tăng lên 80.952 người gấp 1,85 lần so với năm 2005 và chiếm tỷ trọng 52,2% lao động trong các doanh nghiệp và cơ sở kinh tế của tỉnh; tốc độ tăng trưởng bình quân lao động thương mại trong giai đoạn 2006-2010 là 13,1%/năm. Năm 2011 số lao động ngành thương mại tăng 1,6% so với năm 2010 và chiếm tỷ trọng 52,8% lao động trong các doanh nghiệp và cơ sở kinh tế của tỉnh.

Về chất lượng lao động, có 100% công chức làm việc ở cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh có trình độ đại học; 60% có trình độ tin học chứng chỉ A, B, hầu hết có khả năng ứng dụng tin học trong xử lý các nghiệp vụ chuyên môn; 25% cán bộ có trình độ ngoại ngữ chứng chỉ A, 25% B và 5% C; 75% công chức làm việc ở cơ quan quản lý nhà nước về thương mại cấp huyện có trình độ đại học; 30% có trình độ tin học chứng chỉ A, B; 30% cán bộ có trình độ ngoại ngữ chứng chỉ A, B. Ngoài ra, cán bộ, công chức được đào tạo trung cao cấp chính trị và kiến thức quản lý nhà nước.

Phần lớn cán bộ nghiệp vụ làm việc tại doanh nghiệp có trình độ cao đẳng, đại học trở lên, sử dụng thành thạo vi tính, 30% cán bộ nghiệp vụ có trình độ ngoại ngữ đạt chứng chỉ A, B. Đội ngũ lao động đã qua đào tạo 38%, trong đó đào tạo nghề là 12,5%.

2. Tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá:

2.1. Xuất khẩu:

Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá thực hiện 10 năm (2001-2010) là 1.253,3 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân 23,3%/năm, trong đó, giai đoạn 2001-2005 là 24%/năm và giai đoạn 2006-2010 là 22,7%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (17,5%/năm và 17,3%/năm giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010). Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu tăng 39,4% so với năm 2010.

Bảng 9: Kim ngạch và cơ cấu xuất khẩu

 Đơn vị tính: Triệu USD

Diễn giải

2000

2005

2010

Sơ bộ 2011

TĐTTBQ (%/năm)

TĐTT (%)

‘01-'05

‘06-'10

‘11/’10

Kim ngạch xuất khẩu

32,5

95,1

264

367,9

24,0

22,7

39,4

Trực tiếp

27,4

79

249,5

340,7

23,6

25,9

36,6

Uỷ thác

5,1

16,1

14,5

27,2

25,9

-2

87,6

Cơ cấu (%)

100

100

100

100

 

 

 

Trực tiếp

84,3

83,1

94,5

92,6

 

 

 

Uỷ thác

15,7

16,9

5,5

7,4

 

 

 

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre

Kim ngạch xuất khẩu trực tiếp ngày càng chiếm tỷ trọng cao, đặc biệt trong giai đoạn 2006-2010; năm 2000, kim ngạch xuất khẩu trực tiếp chiếm 84,3% tổng kim ngạch xuất khẩu; năm 2010, tỷ trọng đó là 94,5% và năm 2011 là 92,6%. Tổng số doanh nghiệp xuất khẩu năm 2010 là 55, tăng gấp đôi so với năm 2000. Kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp ngoài Nhà nước năm 2010 gấp hơn 11 lần năm 2005 và của doanh nghiệp có vốn đẩu tư nước ngoài gấp 7,1 lần; kim ngạch xuất khẩu của khối doanh nghiệp ngoài Nhà nước chiếm tỷ trọng 17,2% vào năm 2005 và tăng lên 69,1% vào năm 2010, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 62%/năm giai đoạn 2006-2010; kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn 2006-2010 đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 48,1%/năm, đưa tỷ trọng từ 9,9% năm 2005 lên 26,2% vào 2010. Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 59,1% so với năm 2010 và vươn lên chiếm tỷ trọng 29,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu.

Mặt hàng xuất khẩu: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu gồm: Thuỷ sản, sản phẩm dừa, gạo, may mặc và thủ công mỹ nghệ; các mặt hàng xuất khẩu truyền thống ngày càng được quan tâm đầu tư, phát triển nhanh trong giai đoạn 2006-2010; các sản phẩm chỉ xơ dừa, than thiêu kết, lưới xơ dừa, kẹo dừa, cơm dừa nạo sấy không ngừng phát triển; đặc biệt, cơm dừa nạo sấy tăng trưởng nhanh về số lượng và mang lại hiệu quả cao; hàng may mặc xuất khẩu có mức tăng trưởng cao kể từ khi các doanh nghiệp may xuất khẩu trong Khu công nghiệp Giao Long đi vào hoạt động; các mặt hàng xuất khẩu chủ lực nêu trên có thị trường xuất khẩu tương đối ổn định và ngày càng phát triển. Ngoài ra, các sản phẩm trái cây như: Chôm chôm, nhãn được cung ứng và xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc, Campuchia. Năm 2011, hầu hết sản lượng xuất khẩu của các mặt hàng xuất khẩu chính của tỉnh đều giảm do khủng hoảng kinh tế thế giới, nhưng gạo, dệt may, nghêu đông lạnh và cơm dừa nạo sấy vẫn tăng trưởng mạnh.

Bảng 10: Mặt hàng xuất khẩu

Chỉ tiêu

ĐVT

2000

2005

2010

Sơ bộ 2011

TĐTTBQ (%/năm)

TĐTT (%)

‘01-'05

‘06-'10

‘11/’10

Thuỷ sản

tấn

1.170

9.278

21.007

16.204

51,3

17,8

- 22,9

Tôm đông lạnh

tấn

889

2.218

-

8

20,1

-

 

Cá đông lạnh

tấn

-

3.578

13.913

9.451

-

31,2

- 32

Nghêu đông lạnh

tấn

271

2.799

4.372

6.745

59,5

9,3

54,3

Thuỷ sản khác

tấn

 

503

2.723

-

 

40,2

 

Gạo

tấn

12.912

9.097

15.623

34.540

- 6,8

11,4

2,2 lần

Dừa khô

1000 tấn

64

72

112

85

2,4

9,2

- 24,1

Chỉ xơ dừa

tấn

30.120

65.501

78.077

66.819

16,8

3,6

- 14,4

Than thiêu kết

tấn

13.739

13.745

16.031

6.203

0,01

3,1

- 61,3

Hàng thủ công MN

1000USD

-

228

88

64

-

- 17,3

- 27,3

Cơm dừa nạo sấy

tấn

-

13.402

16.906

17.855

-

4,8

5,6

Lưới bảo hiểm CN

tấn

-

4.900

8.008

6.388

-

10,3

- 20,2

Hàng dệt may

1000USD

-

2.197

36.398

51.110

-

75,3

40,4

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre

Thị trường xuất khẩu:

Hàng hoá của Bến Tre đã được xuất khẩu sang 80 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm: Thị trường châu Á (chiếm 53,8%), châu Mỹ (18,4%), châu Âu (16,1%), châu Phi, Nga… So với năm 2000 số lượng thị trường tăng gấp 4 lần và tăng 1,5 lần so với năm 2005.

+ Thị trường Nhật: Là thị trường lớn và ổn định; kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Nhật năm 2010 là 63,6 triệu USD, tăng gấp 4,5 lần so với năm 2005, năm 2011 đạt 84 triệu USD tăng 32,1% so với năm 2010. Hiện nay, Nhật là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Bến Tre với tỷ trọng trên 22% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh và là thị trường còn nhiều tiềm năng.

+ Thị trường Trung Quốc: Là thị trường xuất khẩu truyền thống của các doanh nghiệp tỉnh Bến Tre do điều kiện địa lý thuận lợi và tập quán mua bán gắn bó với nhau, vẫn là một trong các thị trường lớn của Bến Tre. Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu tăng 67% so với năm 2000 và năm 2010 tăng 97% so với năm 2005, nhưng giảm dần tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, từ 60,1% năm 2000 còn 34,9% năm 2005, 21,6% vào năm 2010 và 19,4% năm 2011.

Bảng 11: Một số thị trường xuất khẩu chủ yếu

  Đơn vị tính: Triệu USD

Chỉ tiêu

2005

2010

Sơ bộ 2011

TĐTTBQ 2006-2010

(%/năm)

TĐTT 2011/2010 (%)

Trung Quốc

27,6

54,3

71,4

14,5

31,5

Đài Loan

1,7

1,4

2

-3,8

42,9

Hồng Kông

0,2

1,7

2

53,4

17,7

Nhật

13,9

63,6

84

35,6

32,1

Hàn Quốc

3,4

7,9

13,9

18,4

76

Singapore

0,9

8,5

5,9

56,7

-30,6

Mỹ

4,8

11,2

18,8

18,5

67,9

Tây Ban Nha

4,2

9,2

9,4

17,0

2,2

Ai Cập

-

9,5

18,5

-

94,7

Liên Bang Nga

-

3,3

3,6

-

9,1

Anh, Pháp, Bỉ, Bồ, Hà Lan, Ý v.v.

38,2

93,4

138,4

19,6

48,2

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre

+ Thị trường Hoa Kỳ: Là thị trường mới được doanh nghiệp tiếp cận từ sau năm 2000 nhưng đã liên tục phát triển; kim ngạch xuất khẩu sang thị trưng này năm 2010 đạt 18,8 triệu USD, tăng gấp hơn 3,3 lần so năm 2005 và chiếm t trọng 4,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, năm 2011 kim ngạch vào thị trường này tăng 67,9% so với năm 2010 và chiếm tỷ trọng 5,1% tổng kim ngạch xuất khẩu.

+ Thị trường Ai Cập: Kim ngạch xuất khẩu năm 2010 của thị trường Ai Cập là 9,5 triệu USD, tăng trưởng gấp hơn 90 lần so năm 2005, năm 2011 tăng 94,7% so với năm 2010. Các doanh nghiệp đã nhanh chóng thâm nhập thị trường Ai Cập và đã giành được cơ hội bán hàng cơm dừa nạo sấy cho đối tượng có nhu cầu lớn và có khả năng thanh toán. Năm 2010, khối lượng cơm dừa nạo sấy xuất khẩu vào thị trường này là 6.139 tấn, với kim ngạch xuất khẩu trên 7 triệu USD.

2.2. Nhập khẩu:

Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá giai đoạn 2001-2010 đạt 353,2 triệu USD, tăng trưởng bình quân 22%/năm, trong đó trên 98% là kim ngạch nhập khẩu trực tiếp.

Hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, phụ liệu và máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất, trong đó, kim ngạch nhập khẩu năm 2010 nhóm hàng máy móc, thiết bị tăng 22,6 lần so 2005 do yêu cầu đầu tư các nhà máy mới; kim ngạch nhập khẩu vải và phụ liệu may mặc cũng tăng trưởng nhanh, gấp 26,2 lần so năm 2005 do phát triển nhanh của ngành may mặc xuất khẩu.

Bảng 12: Kim ngạch, mặt hàng nhập khẩu

Chỉ tiêu

ĐVT

2005

2010

Sơ bộ 2011

TĐTTBQ 2006-2010 (%/năm)

TĐTT 2011-2010 (%)

Kim ngạch nhập khẩu

1.000USD

22.642

88.171

120.139

31,3

36,3

Nguyện phụ liệu t/lá

1.000USD

506

2.914

462

41,9

- 84,2

Vải, phụ liệu dệt may

1.000USD

549

14.410

21.356

92,2

48,2

Dược liệu

1.000USD

332

594

738

12,3

24,2

Tân dược

1.000USD

4.804

6.716

9.931

6,9

47,9

Máy móc thiết bị

1.000USD

309

6.974

12.794

86,5

83,5

Lưới bảo hiểm công nghiệp

tấn

4.993

29.998

9.686

43,1

- 67,7

Giấy các loại

tấn

-

5.258

11.936

-

2,3 lần

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre

Nhìn chung, trong 10 năm qua hoạt động xuất nhập khẩu của Bến Tre đã phát triển liên tục với tốc độ khá cao, đặc biệt là giai đoạn 2006-2010; đã tập trung khai thác có hiệu quả các nguồn lực, tiềm năng, lợi thế của địa phương; tập trung sản xuất, chế biến và xuất khẩu các mặt hàng theo nhu cầu của thị trường với chất lượng ngày càng tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng về chất lượng, khối lượng, thời gian giao hàng và đảm bảo được uy tín trong kinh doanh. Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng liên tục với tốc độ khá nhanh; cơ cấu hàng xuất khẩu có sự chuyển dịch theo hướng tăng sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao; sản phẩm truyền thống được giữ vững với số lượng, quy mô ngày càng lớn; phát triển được nhiều sản phẩm mới. Thị trường xuất khẩu ngày càng mở rộng, hàng hoá xuất khẩu sang các thị trường truyền thống tăng trưởng với nhịp độ cao; tiếp cận và thâm nhập được các thị trường mới có nhiều tiềm năng và triển vọng.

Bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động xuất khẩu còn một số hạn chế: Cơ sở chế biến hàng xuất khẩu còn ở quy mô nhỏ, đầu tư công nghệ mới, nghiên cứu thiết kế mẫu mã, tiêu chuẩn hoá vệ sinh thực phẩm, bao bì, xây dựng thương hiệu hàng hoá… tuy có tiến bộ nhưng chưa kịp thời và đúng mức. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm còn yếu; thị trường xuất khẩu có nhiều biến động phức tạp về nhu cầu, giá cả trong khi đó khả năng dự báo và thích ứng của các doanh nghiệp còn yếu; trình độ của đội ngũ lao động làm công tác xuất nhập khẩu còn yếu cả về nghiệp vụ, chuyên môn, ngoại ngữ, luật pháp quốc tế và khả năng giao tiếp, đàm phán ký kết hợp đồng.

3. Tình hình phát triển các loại hình doanh nghiệp thương mại:

Theo số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư, đến năm 2010 cơ cấu các loại hình doanh nghiệp của tỉnh Bến Tre như sau: Công ty cổ phần 3%, công ty trách nhiệm hữu hạn 24%, doanh nghiệp tư nhân 73%. Năm 2010, số doanh nghiệp thương mại là 863 gấp hơn 1,5 lần năm 2005.

- Vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong tỉnh:

Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có vốn Nhà nước trong những năm qua tăng không đáng kể. Vốn của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng khá nhanh, năm 2010 là 531,5 tỷ đồng tăng 3,6 lần so với năm 2005; vốn của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước có sự phát triển khá nhanh, năm 2010 là 5.858,4 tỷ đồng tăng gấp 5,27 lần so với năm 2005.

- Vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thương mại:

Vốn hoạt động của ngành thương mại chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tng vốn sản xuất kinh doanh của tỉnh. Năm 2005, vốn kinh doanh của ngành thương mại chỉ chiếm 18,7% tổng vốn sản xuất kinh doanh của tỉnh thì đến 2010 đã tăng lên 28%. Điều này cho thấy trong 5 năm qua, các doanh nghiệp kinh doanh thương mại đã có nhiều nỗ lực tập trung đầu tư phát triển và đã giữ vai trò khá quan trọng trong hệ thống sản xuất kinh doanh của tỉnh. Tuy vậy, vốn sản xuất kinh doanh bình quân đầu người tỉnh Bến Tre vẫn còn nhỏ so với mức bình quân chung của ĐBSCL. Năm 2010, vốn sản xuất kinh doanh bình quân đầu người tỉnh Bến Tre là 8,5 triệu đồng, tăng gấp hơn 3 lần so với năm 2005 nhưng so với vốn sản xuất kinh doanh bình quân đầu người của ĐBSCL là 11,95 triệu đồng thì còn khiêm tốn. Vì vậy, việc mở rộng kinh doanh, đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hoá, thu mua nông thuỷ sản trên địa bàn tỉnh của các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn.

Bên cạnh, lực lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cơ sở kinh doanh cá thể cũng giữ vai trò quan trọng trong phục vụ tiêu dùng và sản xuất ở rộng khắp các địa bàn trong tỉnh. Số cơ sở kinh doanh cá thể trong lĩnh vực thương mại năm 2010 là 46.066 cơ sở chiếm tỷ trọng 70,4% trong tổng số cơ sở kinh tế cá thể toàn tỉnh, năm 2011 có 47.621 cơ sở tăng 1.555 cơ sở so với năm 2010.

Quy mô doanh nghiệp thương mại phần lớn là nhỏ, lao động bình quân trong một doanh nghiệp là 7 lao động trong khi bình quân chung của một doanh nghiệp trong tỉnh là 24 lao động. Với quy mô nhỏ doanh nghiệp thương mại cũng có thuận lợi trong việc thích nghi nhanh với sự biến đi của môi trường kinh doanh; tuy nhiên sẽ có nhiều bất lợi do khả năng đổi mới công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Nhìn chung, trong những năm vừa qua hệ thống kinh doanh thương mại trên địa bàn tỉnh đã có bước phát triển đáng kể về quy mô, phạm vi hoạt động, không gian thị trường cũng như việc đa dạng về loại hình tổ chức của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Sự phát triển nhanh của thương mại tư nhân phản ánh quy luật tất yếu của nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường. Lực lượng thương mại tư nhân cần được tổ chức theo hướng liên kết, hợp tác phát triển cả về quy mô kinh doanh, phạm vi hoạt động, năng lực tài chính… để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của dân cư và góp phần phục vụ cho sản xuất, lưu thông hàng h ngày càng phát triển.

4. Phát triển hạ tầng thương mại tỉnh:

4.1. Các trung tâm thương mại và siêu thị:

Trên địa bàn tỉnh có một trung tâm thương mại được xây dựng từ năm 1986, đến nay được cải tạo, nâng cấp khá khang trang, công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có tính thẩm mỹ, đảm bảo các yêu cầu phòng cháy, chữa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh, an toàn, thuận tiện cho khách hàng và người kinh doanh trong khu vực. Trung tâm (không đạt tiêu chuẩn quy định, thực chất là chợ) có diện tích kinh doanh khoảng 2.000m2, với khoảng 250 hộ kinh doanh. Đây là nơi giao dịch mua bán các mặt hàng có giá trị trung bình và cao như: Kim khí điện máy, vải, quần áo may sẵn… để phát luồng hàng đi các chợ trong tỉnh. Để đáp ứng nhu cầu nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, UBND tỉnh đã cho phép xây dựng Siêu thị Co.opmart tại TP.Bến Tre, diện tích khoảng 20.000m2, với số vốn đầu tư trên 40 tỷ đồng; siêu thị hoạt động từ năm 2008. Siêu thị sách được xây dựng, cũng hoạt động từ năm 2008. Ngoài ra, huyện Ba Tri, Bình Đại đang triển khai xây dựng các khu trung tâm thương mại. Đây là tiền đề cho việc phát triển thương mại hiện đại trong tương lai.

4.2. Hệ thống chợ truyền thống:

Đến nay, tỉnh có 170 chợ, tổng diện tích là 321.313,4m2 với 11.120 quầy, sạp bán hàng, trong đó có 3 chợ hạng 1, 11 chợ hạng 2 và 136 chợ hạng 3.

Thực hiện quy hoạch phát triển chợ, trong các năm qua, tỉnh Bến Tre đã xây dựng được 79 chợ kiên cố, 47 chợ bán kiên cố, trong đó 21 chợ có hệ thống cấp thoát nước, thu gom xử lý rác thải hàng ngày và có nhà vệ sinh công cộng. Bình quân mỗi xã có 1 chợ, những nơi có điều kiện kết hợp sử dụng liên xã, khu vực thì vận dụng linh hoạt để xây dựng chợ quy mô lớn, khang trang hơn. Các chợ được nâng cấp, xây dựng mới có vị trí phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và của các địa phương; được xây dựng kiên cố, khang trang, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật; được sắp xếp nơi mua bán; kiểm soát an ninh trật tự, vệ sinh môi trường; tiện lợi cho người mua, người bán, phù hợp với tập quán mua bán của dân cư và có tính dẫn dắt, định hình cho khuynh hướng tiêu dùng hiện đại, văn minh thương mại. Hầu hết các chợ được xây dựng mới hoặc nâng cấp đều phát huy tác dụng trong việc phục vụ tiêu dùng dân cư và mở rộng giao lưu hàng hoá.

Bên cạnh đó, một số chợ đã hình thành theo tập quán của dân cư địa phương một cách tự phát, mang tính chất phục vụ tạm thời nên thường gọi là chợ tạm. Những chợ này có diện tích nhỏ, nằm trên trục giao thông, nằm trên địa bàn xã, nơi đã có 1 chợ được quy hoạch phát triển ổn định. Do vậy, hầu hết các chợ tạm chưa được đầu tư hạ tầng, không có nhà lồng chợ, chỉ sử dụng mặt bằng công cộng để mua bán, không có hệ thống chiếu sáng, nước sạch, hệ thống thu gom rác thải…

Trên địa bàn TP.Bến Tre đã xây dựng và đưa vào hoạt động một chợ đầu mối nông - thuỷ sản từng bước đi vào nền nếp và phát huy tác dụng phát luồng hàng bán buôn và tham gia bán lẻ hàng nông sản đáp ứng tốt nhu cầu dân cư thành phố.

Lực lượng kinh doanh trong các chợ của tỉnh chủ yếu là các hộ kinh tế cá thể kinh doanh các mặt hàng có chất lượng trung bình, với quy mô nhỏ. Mô hình tổ chức bộ máy quản lý chợ phổ biến hiện nay là các Ban quản lý, Tổ quản lý, một số chợ do doanh nghiệp hoặc HTX quản lý.

Nhìn chung, hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh không ngừng phát triển về số lượng, cơ sở vật chất kỹ thuật, giữ gìn an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường, xây dựng văn minh thương mại. Đặc biệt, chủ trương xã hội h trong đầu tư xây dựng chợ trên địa bàn tỉnh đã gặt hái được những thành công nhất định, góp phần phát triển cơ sở hạ tầng thương mại và tạo được nguồn thu từ chợ để phát triển chợ.

Tuy vậy, công tác quản lý chợ còn một số hạn chế: Bộ máy quản lý chợ vẫn còn thiếu tính chuyên nghiệp; công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong chợ còn nhiều bất cập, còn hiện tượng sử dụng hoá chất bảo quản thực phẩm quá liều lượng cho phép, kinh doanh hàng giả, gian lận thương mại… Một số chợ chưa được công nhận chợ văn minh, nhất là ở khu vực nông thôn; một số chợ được xây dựng cách nay khá lâu, đã xuống cấp cần phải được đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, sửa chữa theo hướng xây dựng nông thôn mới; một số chợ tự phát cần sắp xếp lại theo đúng quy hoạch phát triển chợ.

4.3. Các cửa hàng thương mại:

Mạng lưới cửa hàng bán lẻ không ngừng phát triển về số lượng, quy mô và chất lượng phục vụ. Tuy vậy, ở thành phố, thị trấn các cửa hàng có quy mô lớn hơn, khang trang, phong phú hơn, đã xuất hiện một số cửa hàng chuyên doanh với hàng hoá có chất lượng cao và một số thương hiệu có uy tín… đáp ứng được nhu cầu nâng cao chất lượng tiêu dùng của một bộ phận dân cư. Ở những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, thương nhân cũng đã tổ chức các cơ sở đại lý, cửa hàng uỷ thác, bán hàng lưu động phục vụ tận nhà, dịch vụ mua hàng qua điện thoại… Bên cạnh đó, các nhà sản xuất ngày càng chú trọng nhiều hơn việc phát triển mạng lưới phân phối riêng thông qua đại lý uỷ thác và các nhà phân phối lớn, các công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể. Vì vậy, các cửa hàng, cửa hiệu kinh doanh độc lập đang có xu hướng phát triển theo phân khúc thị trường, phân chia lĩnh vực và địa bàn hoạt động. Cửa hàng tiện ích, cửa hàng tự chọn đang hình thành và phát triển với quy mô nhỏ làm tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ và lâu dài trong giai đoạn sau.

5. Trình độ công nghệ:

Trình độ công nghệ của ngành thương mại thể hiện tập trung nhất ở công nghệ quản lý bán hàng và trang thiết bị bán hàng.

Siêu thị Co.opmart Bến Tre kinh doanh khoảng trên 20.000 tên hàng, có nhà sách Fahasa, khu vui chơi giải trí, nhà hàng, các shop điện tử, thời trang. Với trang thiết bị hiện đại như hệ thống thang cuốn, thang máy, điều hoà nhiệt độ, tủ đông, tủ mát… Co.opmart Bến Tre đang hướng người tiêu dùng làm quen và từng bước mở rộng nhu cầu mua sắm trong môi trường thương mại văn minh, hiện đại. Cùng với hạ tầng khang trang, Siêu thị Co.opmart Bến Tre đã ứng dụng công nghệ thông tin trong các lĩnh vực quản lý kinh doanh, đi kèm theo là các máy móc, trang thiết bị văn phòng, các thiết bị in, đọc mã vạch, máy tự động in hoá đơn… giúp cho việc quản lý bán hàng mang tính chuyên nghiệp cao.

Tác động mạnh của công nghệ thông tin, thương mại điện tử… tạo nên kênh bán lẻ qua mạng trực tuyến, qua các phương tiện thông tin truyền thông đang dần trở thành phổ biến.

Tuy vậy, ở Bến Tre, mua sắm tại chợ vẫn chiếm tỷ trọng khoảng 50-60% lưu chuyển hàng hoá lưu thông trên địa bàn tỉnh, do chợ vẫn giữ được vị thế và sức hút riêng đối với cư dân nông thôn và cả đô thị Bến Tre, với đa số dân cư còn trong nhóm có thu nhập thấp. Tuy vậy, dù số lượng chợ có tăng trưởng nhanh song quy mô, cơ sở vật chất của chợ vẫn còn ở mức khiêm tốn.

Các cơ sở kinh doanh nhỏ chưa thể có sự chuyển biến nhanh trong việc đầu tư trang thiết bị công nghệ bán hàng.

Do vậy, để chuyển dịch ngành phân phối, nhất là bán lẻ từ quy mô, cấu trúc, hệ thống và tập quán kinh doanh truyền thống sang hoạt động chuyên nghiệp hiệu quả, năng suất cao, công nghệ hiện đại còn phải có thời gian.

6. Tình hình đầu tư phát triển hạ tầng thương mại:

Trong giai đoạn 2006-2010, tổng vốn đầu tư xây dựng, nâng cấp mạng lưới trung tâm thương mại, siêu thị và hệ thống chợ truyền thống là 126,58 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư cho mạng lưới bán lẻ hiện đại là 48,9 tỷ đồng, chiếm 38,63%. Nhìn chung, các địa phương đều nỗ lực trong xây dựng và phát triển chợ.

- Thành phố Bến Tre: Là địa phương có vốn đầu tư tương đối khá, với 57,3 tỷ đồng. Mạng lưới thương mại được hình thành từ trung tâm thành phố đến các xã, phường thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá; hệ thống chợ phát triển; các khu phố thương mại dần hình thành; hoạt động thương mại phát triển theo hướng văn minh hiện đại. Trong giai đoạn 2006-2010, thành phố đã xây dựng mới 2 siêu thị và 6 chợ; mở rộng và nâng cấp 5 chợ, phát triển 3 cửa hàng tiện ích, hình thành 2 khu vực chợ chiều bán trái cây và quần áo may sẵn. Khu mua bán trung tâm TP.Bến Tre được chỉnh sửa khang trang, nhiều cửa hàng, cửa hiệu phát triển về quy mô, hàng hoá phong phú, phong cách phục vụ văn minh. Tất cả các chợ đều được công nhận là chợ văn minh.

Huyện Ba Tri: Đã đầu tư nhiều chợ nông thôn với tổng vốn là 36,71 tỷ đồng, góp phần tích cực vào việc cải thiện bộ mặt nông thôn cũng như đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm và tiêu dùng hàng hoá của dân cư. Trong giai đoạn 2006-2010, huyện đã xây dựng mới 17 chợ. Hầu hết các chợ được xây dựng và đưa vào sử dụng bằng kinh phí huy động từ chợ; có 13 chợ được công nhận là chợ văn minh; có 3 chợ do tư nhân đầu tư xây dựng và khai thác (chợ Mỹ Chánh, chợ Bãi Ngao và chợ Tân Xuân).

Huyện Chợ Lách: Là địa phương có nhiều cố gắng trong việc đầu tư quỹ đất để phát triển chợ (tổng diện tích đất dành để xây dựng chợ là 73.475m2), vấn đề còn lại là chính sách thu hút đầu tư và khả năng đầu tư, tổ chức kinh doanh của các doanh nghiệp trong xây dựng chợ ở giai đoạn 2011-2020.

7. Thuận lợi và khó khăn đối với phát triển thương mại:

7.1. Thuận lợi:

- Nền kinh tế tiếp tục phát triển, GDP bình quân đầu người tăng khá trong giai đoạn 2001-2010, cho thấy thu nhập dân cư được cải thiện, là cơ sở để tăng trưởng nhu cầu có khả năng thanh toán.

- Chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế theo hướng đổi mới, sắp xếp khu vực kinh tế Nhà nước, khai thác mạnh mẽ tiềm lực kinh tế dân doanh, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện phát triển nhanh sản xuất hàng hoá theo hướng gắn liền với thị trường, phát triển sản xuất hàng xuất khẩu là điều kiện để phát triển thương mại nội địa và xuất khẩu.

- Các ngành dịch vụ có ảnh hưởng trực tiếp đến thương mại như: Ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, vận tải… có sự phát triển nhanh cả về quy mô và trình độ công nghệ đã tạo nên những cộng hưởng để hoạt động thương mại phát triển.

- Hạ tầng giao thông của Bến Tre đã và đang được tập trung đầu tư, khai thác tạo điu kiện cho vận chuyển hàng hoá và giao lưu kinh tế trong khu vực, đưa Bến Tre vào giai đoạn phát triển mới.

7.2. Khó khăn:

- Trong những năm qua, tình hình lạm phát có diễn biến phức tạp, hầu hết các doanh nghiệp thương mại phải vay vốn kinh doanh với lãi suất cao nên hiệu quả kinh doanh thấp, khả năng tích luỹ để tái đầu tư mở rộng rất hạn chế.

- Hệ thống luật pháp của Nhà nước đang từng bước được hoàn thiện, nhưng trong quá trình triển khai còn nhiều bất cập, chồng chéo gây không ít khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp.

- Hạ tầng thương mại được đầu tư theo chủ trương xã hội hoá, các công trình trong diện được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách chậm được triển khai và mức quá thấp so với mục tiêu của quy hoạch. Điều đó phần nào làm cho hạ tầng của ngành thương mại phát triển chậm và thiếu những công trình có quy mô lớn mang tính tầm vóc, đầu tàu lôi kéo.

- Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, công chức của ngành thương mại cơ bản đạt yêu cầu về trình độ chuyên môn. Tuy nhiên, một số lĩnh vực hoạt động còn thiếu tính chuyên nghiệp, kiến thức cũng như năng lực thực tế của một bộ phận công chức cũng còn có những hạn chế.

- Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thương trường ngày càng gay gắt, điều đó là động lực thúc đẩy doanh nghiệp phát triển. Song cũng mang lại nhiều rủi ro đối với những doanh nghiệp nhỏ, tiềm lực kinh tế yếu và chậm đổi mới không theo kịp với xu thế chung của thời đại.

II. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI CỦA TỈNH GIAI ĐOẠN 2006-2010

1. Kết quả thực hiện các mục tiêu phát triển thương mại giai đoạn 2006- 2010:

- Tỷ trọng GDP dịch vụ/GDP đạt 35,6% so với quy hoạch là 34% tăng 1,6%.

- GDP của ngành thương mại năm 2010 chiếm tỷ trọng 13,0% trong GDP của tỉnh, so với quy hoạch là 10,6%, vượt 2,4%.

- Tỷ trọng GDP thương mại/GDP dịch vụ năm 2010 đạt 36,5%, so với quy hoạch là 35%, vượt 1,5%.

- TMBLHH&DTDVTD đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 22,4%/năm, so với quy hoạch là 16%/năm, vượt 6,4%/năm.

- Tổng vốn đầu tư kết cấu hạ tầng thương mại: Chợ, trung tâm thương mại và siêu thị là 126,84 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư thương mại hiện đại: Siêu thị Co.opmart và siêu thị sách là 48,90 tỷ đồng, đạt 38,6% theo kế hoạch.

- Kim ngạch xuất khẩu đạt 902,7 triệu USD, so với mục tiêu là 750 triệu USD, vượt 152,7 triệu USD, tăng trưởng bình quân 22,7%/năm.

2. Thực hiện các nhiệm vụ của ngành thương mại:

2.1. Tạo điều kiện để hình thành và phát triển các loại hình doanh nghiệp thương mại:

Thực hiện tốt mô hình doanh nghiệp chuyên doanh, công ty mẹ, công ty con (Công ty Xăng dầu, Công ty Lương thực, Công ty Thuốc lá…); tạo điều kiện để phát triển mạng lưới cơ sở trực thuộc, phát triển các mối liên kết trong ngoài hệ thống công ty; phát triển các công ty thương mại đa ngành, kinh doanh nhiều lĩnh vực khác nhau, có tính chất liên kết mặt hàng, bổ sung và hỗ trợ cho việc kinh doanh; tạo mối liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất, các trang trại, cơ sở sản xuất tập thể, cá thể để tạo nguồn hàng ổn định.

2.2. Tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp tổ chức lưu thông hàng hoá, chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng đảm bảo văn minh, hiện đại và hiệu quả của đầu tư:

Xây dựng mới và nâng cấp các chợ ở đô thị, nông thôn tạo điều kiện mua bán hàng hoá, phục vụ nhu cầu tiêu dùng dân cư; xây dựng các chợ bán buôn nông sản gắn kết nhà buôn với nhà nông, người kinh doanh bán buôn và bán lẻ…; khuyến khích, tạo điều kiện cho thành lập doanh nghiệp, HTX quản lý, khai thác chợ theo quy định của Chính phủ.

Tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng siêu thị Co.opmart loại hình bán lẻ hiện đại, chuyên nghiệp phục vụ tốt cho các tầng lớp dân cư, đáp ứng sự mong đợi của người tiêu dùng và thực hiện văn minh thương mại, có tác dụng dẫn đường cho việc phát triển mạng lưới bán lẻ hiện đại.

Hình thành một số cửa hàng tiện ích, tự chọn với quy mô nhỏ, làm tiền đề phát triển rộng rãi mô hình cửa hàng tiện ích có quy mô lớn hơn.

Tăng cường quản lý thị trường nội địa tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho doanh nghiệp, đồng thời bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Chuẩn bị quỹ đất để phát triển các trung tâm thương mại, siêu thị, các loại hình bán lẻ hiện đại trong tương lai tại các đô thị mới của tỉnh.

2.3. Đẩy mạnh phát triển sản xuất hàng xuất khẩu và tổ chức xuất khẩu:

Tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tăng nhanh khối lượng hàng hoá xuất khẩu, phát triển xuất khẩu với nhịp độ cao, đầu tư đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu; phát triển thị trường xuất khẩu theo hướng giữ vững thị trường truyền thống, mở thêm thị trường mới, đa dạng hoá thị trường tạo ra giá trị gia tăng mới, tránh lệ thuộc và rủi ro trong xuất khẩu.

3. Đánh giá thành tựu và hạn chế:

3.1. Thành tựu:

Trong 10 năm qua, đặc biệt là giai đoạn 2006-2010, cùng với những chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bến Tre, hoạt động thương mại của tỉnh đã đạt được những thành tựu căn bản:

- Tạo ra GDP ngày càng lớn, góp phần đáng kể vào tăng trưởng GDP toàn tỉnh. Đồng thời đảm bảo cung ứng đủ vật tư cho sản xuất và hàng hoá phục vụ cho tiêu dùng của xã hội; tổ chức tiêu thụ sản phẩm cho nông dân; góp phần cải thiện thu nhập, thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của dân cư.

- TMBLHH&DTDVTD, kim ngạch xuất nhập khẩu có nhịp độ tăng trưởng cao hơn kế hoạch đề ra. Thị trường xuất nhập khẩu không ngừng phát triển; các mặt hàng xuất khẩu không ngừng được mở rộng cả về khối lượng và chủng loại.

- Thu hút nhiều lao động xã hội tham gia vào quá trình lưu thông hàng hoá, tạo việc làm cho lao động xã hội, góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu lao động của tỉnh.

- Mạng lưới kinh doanh thương mại tiếp tục được mở rộng trên cả địa bàn đô thị và nông thôn, thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế với nhiều loại hình và phương thức kinh doanh linh hoạt phù hợp với năng lực và trình độ của doanh nghiệp. Một số loại hình thương mại văn minh hiện đại như: Siêu thị, cửa hàng tự chọn đang hình thành và phát huy hiệu quả…; đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tập đoàn bán lẻ hàng đầu của Việt Nam xây dựng thành công siêu thị Co.opmart Bến Tre; thực hiện tốt chủ trương xã hội hoá trong đầu tư xây dựng mới và nâng cấp chợ góp phần thực hiện chủ trương xây dựng nông thôn mới. Doanh nghiệp phát triển về số lượng, quy mô, trình độ quản lý, hiệu quả kinh doanh.

- Hoạt động xúc tiến thương mại có những bước phát triển căn bản hỗ trợ các doanh nghiệp cơ hội tìm kiếm khách hàng và mở rộng thị trường.

- Công tác quản lý nhà nước không ngừng đổi mới, nâng cao năng lực, hiệu lực quản lý.

3.2. Hạn chế:

Bên cạnh những thành quả đạt được, hoạt động thương mại còn những hạn chế:

Thực trạng tình hình về quy mô ngành thương mại phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và chưa khai thác lợi thế so sánh của tỉnh để phát triển bền vững. Thời gian qua, tuy doanh nghiệp có tìm kiếm thị trường mới nhưng chưa nhiều, cơ cấu sản phẩm xuất khẩu chưa đa dạng, phong phú; hệ thống phân phối ngành thương mại có chuyển động theo hướng phát triển hạ tầng giao thông nhưng chưa kịp thời theo nhu cầu mức sống của người dân. Mối quan hệ giữa quy mô thương mại và thương mại - dịch vụ chưa được quan tâm đúng mức, hiệu quả chưa cao; đội ngũ cán bộ ngành thương mại thiếu năng động, sáng tạo; công tác xúc tiến thương mại chưa thường xuyên.

Doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và cơ sở kinh tế cá thể tuy năng động, nhưng vốn ít, quy mô nhỏ, năng lực còn yếu, chưa đủ khả năng, trình độ để có thể làm thay đổi diện mạo thương mại trên địa bàn tỉnh trong thời gian ngắn.

Mạng lưới bán lẻ hiện đại còn mỏng, một số trung tâm thương mại, trung tâm hội chợ triển lãm đã được quy hoạch, nhưng chưa triển khai được trong giai đoạn 2006-2010 do thiếu vốn và thiếu nhà đầu tư. Trung tâm thương mại hiện có chưa đảm bảo tiêu chuẩn của một trung tâm thương mại theo quy định.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tuy tăng trưởng nhanh, nhưng về quy mô vẫn còn thấp hơn so bình quân chung của ĐBSCL và cả nước.

4. Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế:

4.1. Nguyên nhân của những thành tựu:

- Cơ chế, chính sách của Nhà nước ngày càng hoàn thiện khắc phục những hạn chế trong quản lý, điều hành.

- Sự năng động, tích cực, sự phối hợp chặt chẽ của ngành công thương với các ngành, các cấp trong các lĩnh vực được giao.

- Sự phấn đấu không ngừng của các doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh dưới áp lực cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.

- Trình độ nhận thức, thu nhập của dân cư, người tiêu dùng không ngừng được nâng lên.

4.2. Nguyên nhân của những hạn chế:

- Quy mô nền kinh tế còn nhỏ, thu nhập dân cư thấp, đang trong giai đoạn đầu của sự phát triển.

- Các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh cá thể quy mô nhỏ, nhiều cơ sở quá nhỏ.

- Hiệu quả đầu tư vào lĩnh vực thương mại thấp hơn so với đầu tư vào các ngành kinh tế khác; cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực thương mại chưa trội hơn so với các ngành kinh tế khác. Do vậy, chưa hấp dẫn được nhiều nhà đầu tư, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế lớn.

- Trình độ quản lý, điều hành của ngành công thương, các ngành, các cấp trong một số lĩnh vực có liên quan chưa theo kịp sự phát triển của xã hội và yêu cầu hội nhập.

5. Bài học kinh nghiệm:

- Ngành công thương cần tranh thủ sự quan tâm và tuân thủ sự chỉ đạo sâu sát của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, Bộ Công Thương và các Bộ, ngành khác.

- Ngành công thương cần phát huy sự phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp trong tỉnh để thực hiện nhiệm vụ bằng các kế hoạch phối hợp cụ thể.

- Cải cách hành chính, tạo môi trường lành mạnh, thông thoáng cho các nhà đầu tư, có cơ chế hấp dẫn các nhà đầu tư trong lĩnh vực thương mại, hướng đến các tập đoàn lớn chuyên nghiệp.

- Quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước, cán bộ quản lý doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu phát triển và hội nhập của nền kinh tế.

- Tăng cường hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp và xúc tiến thương mại.

Phần III

PHÂN TÍCH, DỰ BÁO XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI

I. DỰ BÁO CÁC YẾU TỐ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC ẢNH HƯỞNG ĐẾN THƯƠNG MẠI BẾN TRE TRONG THỜI KỲ 2011-2020

1. Môi trường quốc tế ảnh hưởng đến thương mại tỉnh:

1.1. Tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu:

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), GDP toàn cầu sẽ từ 32 nghìn tỷ USD tăng lên 42 nghìn tỷ USD vào năm 2015 và 53 nghìn tỷ USD (theo giá năm 2000) vào năm 2020. Ngân hàng thế giới (WB) dự báo, kinh tế thế giới sẽ đạt tốc độ tăng trưng từ 4-4,5%/năm trong giai đoạn 2011-2015. Các nước phát triển sẽ đạt tốc độ tăng trưởng từ 2,7-2,9%/năm, các nước đang phát triển đạt tốc độ phát triển cao hơn từ 5,8-6,2%/năm. Sự tăng trưởng đó kéo theo tốc độ tăng trưởng thương mại toàn cầu từ 7-8% trong giai đoạn 2011-2015, giai đoạn 2011-2020 đạt tốc độ 7,5%/năm chiếm 45% GDP.

Nền kinh tế thế giới đã và đang vận động theo xu hướng chuyển dịch từ Tây sang Đông, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, từ chỗ chỉ chiếm gần 21% tỷ trọng thương mại quốc tế vào năm 1990, đến nay, đã được coi là khu vực phát triển sôi động nhất thế giới và chiếm tới trên 30% xuất nhập khẩu toàn cầu. Theo báo cáo mới nhất của Citigroup, Mỹ đứng đầu thế giới về tỷ trọng thương mại với 10,7%, nhưng 2030, chỉ còn 7,6%. Nhật Bản năm 2010, đạt doanh thu 1,78 nghìn tỷ USD chiếm tỷ trọng 4,8% thương mại thế giới, nhưng đến năm 2030, còn 3,3%. Vào năm 2015, Trung Quốc nền kinh tế dẫn đầu về thương mại và châu Á là hành lang thương mại lớn nhất thế giới. Trung Quốc hiện chiếm tỷ trọng 9,5% trong thương mại toàn cầu, năm 2015, sẽ vượt qua Mỹ để đứng đầu và đến 2030, sẽ chiếm 16,7% thương mại thế giới với 24,9 nghìn tỷ USD. Không chỉ có Nhật Bản, Trung Quốc mà Hàn Quốc, Ấn Độ đã đang và sẽ nổi lên trở thành các quốc gia có vị thế và tầm ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế thế giới. Năm 2015, Ấn Độ sẽ chiếm tỷ trọng 2,7% thương mại toàn cầu và năm 2030, tỷ trọng đó sẽ là 5,3%; Hàn Quốc, năm 2010 doanh thu 1,05 nghìn tỷ USD chiếm tỷ trọng 2,8% thương mại toàn cầu thì năm 2030, được dự báo sẽ đạt 8,4 nghìn tỷ USD chiếm tỷ trọng 5,3%.

Nằm trong khu vực năng động này, hoạt động ngoại thương của Việt Nam nói chung, Bến Tre nói riêng sẽ bị ảnh hưởng bởi những ngoại ứng tích cực. Mặt khác, quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại và đầu tư quốc tế phát triển, cùng với nó là sự đa dạng hoá của nguồn đầu tư cũng như hướng đầu tư; các thị trường mới nổi lên sẽ là những mục tiêu chủ yếu thu hút đầu tư toàn cầu và chính các quốc gia này cũng trở thành những nguồn đầu tư chủ yếu ra thị trường quốc tế.

Từ những xu hướng đó, Bến Tre có thể tranh thủ thời cơ để tăng cường thu hút FDI, phục vụ cho mục tiêu phát triển xuất khẩu nói riêng và thương mại nói chung.

Việt Nam đã gia nhập khối ASEAN, tham gia AFTA, ký kết các hiệp ước song phương, đa phương, tham gia AC-AFTA, Hiệp định Việt Mỹ, Hiệp ước Việt Nhật, Việt EU, tham gia diễn đàn APEC… và gia nhập WTO… xu hướng tự do h thương mại với việc cắt giảm các rào cản thương mại cho các sản phẩm nông nghiệp, dệt may, da giày… tạo điều kiện cho Việt Nam nói chung, Bến Tre nói riêng trong giai đoạn quy hoạch, tranh thủ cơ hội để tiếp tục tăng trưởng kinh tế.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ trên thế giới sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam đi tắt đón đầu để tiếp thu những tri thức và công nghệ tiên tiến trên thế giới. Đặc biệt, sự phát triển của công nghệ thông tin và thương mại điện tử sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Bến Tre nói riêng tham gia giao dịch trên thị trường thế giới một cách dễ dàng, tiện lợi với chi phí thấp.

Tuy nhiên, trong xu thế toàn cầu hoá thương mại hiện nay, sự xâm nhập lẫn nhau giữa các nền kinh tế càng trở nên sâu sắc hơn, những biến động thị trường ở một khu vực hay một quốc gia, nhất là các khu vực hay quốc gia có nền kinh tế cao trên thế giới sẽ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các quốc gia khác, Việt Nam nói chung hay Bến Tre nói riêng cũng sẽ chịu ảnh hưởng lan truyền của thị trường thế giới ở những định chế, cơ chế kinh tế, trong đó có lĩnh vực xuất nhập khẩu, sản xuất và cả tiêu dùng.

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới ở những tháng cuối năm 2008 vẫn tiếp tục tồn tại đến nay, cùng với tình trạng nợ công ở một số nước trong khối EU ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến kết quả xuất khẩu của Việt Nam và Bến Tre nói riêng. Bên cạnh đó, xu hướng ký kết các hiệp định thương mại tự do, nhất là giữa các nước và các khu vực với nhau là một thách thức lớn đối với các nước không tham gia hiệp định. Và ngay trong số các nước tham gia hiệp định thì các nền kinh tế kém phát triển hơn cũng thường phải chịu thiệt thòi nhiều hơn.

Toàn cầu hoá sẽ làm tăng sức ép cạnh tranh, nhất là sức ép đối với những nước có trình độ phát triển còn thấp như nước ta. Sự cạnh tranh kinh tế - thương mại, cạnh tranh thu hút vốn đầu tư và công nghệ càng trở nên gay gắt; các thị trường tài chính, tiền tệ và giá cả có nhiều khả năng sẽ diễn biến phức tạp hơn; giá cả thế giới ở một số mặt hàng chủ yếu có tác động mạnh đến kinh tế toàn cầu như năng lượng, nguyên liệu... có thể có những đột biến và phản ứng dây chuyền, bất lợi đối với các nước có nền kinh tế nhỏ, kém phát triển; chính sách tỷ giá, lãi suất của các nước lớn có những tác động rất mạnh đến nền kinh tế của nước ta nói chung và đến xuất nhập khẩu của Bến Tre nói riêng. Ngoài ra, các vấn đề mang tính toàn cầu như dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, khan hiếm các nguồn nguyên, nhiên liệu, khoảng cách giàu nghèo, những bất ổn về an ninh, chính trị… là mối nguy cơ tiềm ẩn và hoàn toàn có thể dẫn đến những khủng hoảng ở quy mô khu vực hay thế giới. Nếu điều đó xảy ra, chắc chắn ít nhiều sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động và kết quả xuất khẩu của Việt Nam.

Xu thế kinh tế thế giới sẽ giảm lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm hàng h dựa trên tài nguyên đất nông nghiệp, lao động giản đơn, giá rẻ, do vậy, nếu không có những giải pháp hữu hiệu để nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hoá của mình thì Bến Tre sẽ khó khăn trong việc thực hiện kế hoạch xuất khẩu.

Sự vận động của tình hình kinh tế thế giới trong thời gian tới sẽ có tác động đến sự phát triển kinh tế nước ta và hoạt động xuất khẩu của tỉnh, đòi hỏi ngành thương mại Bến Tre phải nắm bắt để hạn chế những tác động tiêu cực, đồng thời tranh thủ các yếu tố thuận lợi để gia tăng nhập khẩu tại một số nước, khu vực và thúc đẩy xuất khẩu.

1.2. Môi trường quốc tế ảnh hưởng đến thương mại nội địa của Bến Tre:

Thị trường bán lẻ của Việt Nam được đánh giá có sức hấp dẫn đứng thứ tư trên thế giới sau Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, vì vậy, nhiều tập đoàn và các công ty thương mại bán buôn, bán lẻ đa quốc gia trên thế giới đã, đang và sẽ nhắm tới. Bến Tre với những lợi thế riêng về thị trường sẽ thu hút được một số nhà đầu tư tạo thêm điều kiện phát triển thương mại. Tuy nhiên, cũng sẽ xảy ra những cạnh tranh giữa các nhà phân phối của nước ngoài và các doanh nghiệp Bến Tre cũng như các doanh nghiệp các tỉnh, thành phố khác của Việt Nam đang hoạt động trên thị trường Bến Tre.

Xu hướng phát triển ngành thương mại thế giới với những đặc trưng như: Mức độ tập trung hơn (nổi lên các doanh nghiệp thương mại lớn trong sản xuất, bán buôn, bán lẻ để tạo mạng lưới phân phối rộng rãi, xuất hiện các hệ thống siêu thị, trung tâm mua sắm, trung tâm thương mại); các cửa hàng nhỏ truyền thống được thay thế bằng các cửa hàng tổng hợp lớn hơn, quy mô các cửa hàng này về doanh thu, lao động, diện tích, số mặt hàng kinh doanh vv… sẽ tăng lên; mật độ phân bố các cửa hàng bán lẻ sẽ giảm xuống; các cửa hàng bán lẻ tham gia vào chuỗi cửa hàng hoặc hoạt động theo thoả thuận nhượng quyền của các công ty lớn, hướng tới các phân đoạn chuyên biệt hơn trên thị trường; vai trò của các nhà bán buôn truyền thống suy giảm, nhất là trên thị trường hàng hoá mà nhà sản xuất tự kiểm soát việc phân phối hoặc các nhà bán lẻ mở rộng buôn bán tận gốc, nhưng vai trò của các nhà bán buôn hiện đại tăng lên, nhất là đối với việc cung cấp trọn gói hàng tiêu dùng có giá trị cao và sản phẩm có số lượng lớn; thị trường bán buôn, bán lẻ có xu hướng cạnh tranh cao để giảm chi phí chủ yếu bằng quy mô phân phối lớn, trình độ chuyên nghiệp hoá cao và tiêu chuẩn hoá mạng lưới thương mại; tác động của thương mại điện tử đến sự thay đổi lĩnh vực thương mại, đặc biệt là sự xuất hiện các cửa hàng, siêu thị online mua bán và giao dịch trên mạng Internet.

Những xu hướng này sẽ có tác động và chi phối nhiều đến ngành thương mại Bến Tre, đòi hỏi ngành thương mại cần được định hướng phù hợp với những xu hướng phát triển của thế giới để chủ động hội nhập vào thị trường thương mại toàn cầu.

Những xu hướng phát triển này cũng cho thấy rõ hơn thách thức của ngành thương mại Bến Tre trong thời gian tới, đặc biệt, trong việc cải cách các nhà buôn bán truyền thống sang các doanh nghiệp bán hàng, cung cấp dịch vụ phân phối chuyên nghiệp; trong việc giải quyết những xung đột có thể xảy ra trong tương lai giữa các doanh nghiệp thương mại vừa và nhỏ trong tỉnh, trong nước với các tập đoàn phân phối nước ngoài; trong việc tạo môi trường cạnh tranh công bằng cho các doanh nghiệp thương mại trên thị trường Bến Tre; trong việc bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng.

2. Môi trường kinh tế trong nước, trong vùng, trong tỉnh ảnh hưởng đến phát triển thương mại Bến Tre:

2.1. Những thành tựu phát triển kinh tế, những mục tiêu phát triển kinh tế, cùng với những định hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá, mục tiêu phát triển thương mại hiện đại của nước ta và tỉnh Bến Tre đã, đang và sẽ có những tác động tích cực đến hoạt động thương mại:

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế nước ta, các điều kiện cơ bản về hạ tầng đã được đầu tư phát triển khá nhanh trên phạm vi cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Bến Tre nói riêng; các tuyến đường quốc lộ, đường tỉnh đã được đầu tư nâng cấp; những cây cầu kết nối giao thông đường bộ giữa tỉnh và các địa phương khác đã được đưa vào hoạt động hoặc sắp được khánh thành; các tuyến giao thông khác trong tỉnh đã phát triển khá nhanh tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế, vận chuyển hàng h trong tỉnh, giữa tỉnh với các địa phương khác, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế, thị trường Bến Tre, đồng thời, mang lại sự gắn kết càng chặt chẽ hơn giữa thị trường Bến Tre với thị trường các tỉnh, các vùng trong nước, với thị trường nước ngoài.

Nhịp độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao trong những năm qua đã làm tăng nhanh quy mô thị trường trong nước cả hai phía cung và cầu hàng hoá. Đồng thời, cơ cấu của cung và cầu hàng hoá trên thị trường trong nước không ngừng được điều chỉnh, phong phú và đa dạng hơn nhờ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế dựa trên những lợi thế phát triển khác nhau của mỗi vùng, mỗi tỉnh; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được hoàn thiện; mục tiêu giai đoạn 2011-2015 đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 7-7,5%/năm, GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt khoảng 2.000USD, năm 2020 đạt khoảng 3.000-3.200USD. Như vậy, khả năng thị trường và các hoạt động thương mại của cả nước, trong đó có Bến Tre tiếp tục được mở rộng do sự tăng lên và mở rộng của nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trên phạm vi cả nước.

Sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế nước ta được khởi động trong những năm qua sẽ có những bước phát triển mạnh mẽ trong những năm tới, cùng với xu hướng hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu của Việt Nam. Điều đó, tạo ra khả năng giải quyết việc làm phi nông nghiệp cho lao động khu vực nông thôn. Khi các ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam phát triển sẽ mở ra khả năng phát triển vùng nguyên liệu trên địa bàn tỉnh Bến Tre, tăng cơ hội để thu hút đầu tư trong và ngoài nước cho các ngành sản xuất trên địa bàn tỉnh.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010-2015 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh giai đoạn 2011-2015 đã đề ra nhiệm vụ và giải pháp để phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ thương mại và các dịch vụ có giá trị gia tăng cao để phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân; quan tâm thu hút đầu tư, hiện đại hoá hệ thống phân phối, bán lẻ, mở rộng hệ thống chợ đầu mối để tiêu thụ sản phẩm nông, thuỷ sản của địa phương; xây dựng thương hiệu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh để nâng cao giá trị xuất khẩu. Điều đó, tạo môi trường rất thuận lợi để ngành thương mại Bến Tre phát triển trong thời gian tới.

2.2. Tiềm năng, kết quả và triển vọng phát triển kinh tế của vùng ĐBSCL là cơ hội để Bến Tre phát triển hoạt động thương mại:

Vùng ĐBSCL bao gồm 13 tỉnh thành có mức thu nhập bình quân đầu người tương đối cao so với các vùng khác trong cả nước. Dự báo dân số đến năm 2015 là 18 triệu người, năm 2020 khoảng 20 triệu người; tăng trưởng GDP đạt mức cao hơn so với bình quân cả nước. Vùng ĐBSCL sẽ là thị trường tiềm năng tiêu thụ hàng hoá lớn của cả nước và là cơ hội cho các nhà sản xuất nói chung và của Bến Tre nói riêng.

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL đến 2020 dự kiến các khâu đột phá trong phát triển là: Đầu tư xây dựng mạng lưới các tuyến trục giao thông hiện đại như: Hoàn thành 5 trục chính nối ĐBSCL với ĐNB; nâng cấp tuyến đường thuỷ từ TP.Hồ Chí Minh đi miền Tây Nam Bộ; nâng cấp, hoàn thiện hệ thống thuỷ lợi, ưu tiên các công trình phục vụ nuôi trồng thuỷ sản, khu vực trồng cây ăn trái quy mô lớn; hình thành các vùng trọng điểm, phát triển các khu kinh tế ven biển vv... đó những nền tảng quan trọng để Bến Tre đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, thương mại với các tỉnh vùng ĐBSCL và miền ĐNB, nhất là với TP.Hồ Chí Minh.

Trong vùng ĐBSCL có vùng kinh tế trọng điểm bao gồm: TP.Cần Thơ, tỉnh An Giang, Kiên Giang và Cà Mau. Theo định hướng đến 2020, vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL tiếp tục là trung tâm lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thuỷ sản, đóng góp tích cực vào xuất khẩu nông thuỷ sản của cả nước; tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 2011-2020 gấp khoảng 1,25 lần tốc độ tăng trưởng bình quân cả nước; tăng mức đóng góp của vùng kinh tế trọng điểm trong thu ngân sách trên địa bàn của vùng ĐBSCL từ 37,7% năm 2007 lên 48% vào năm 2020. Ngoài ra, các tỉnh: Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp… là những trung tâm trái cây lớn của cả nước và có nhiều làng nghề truyền thống… Bên cạnh sự tương đồng về điều kiện tự nhiên, xã hội và điều kiện sản xuất, giữa các tỉnh trong vùng, còn có sự khác biệt về cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế. Đây là những yếu tố cơ bản để các tỉnh trong vùng có sự bổ sung lẫn nhau, tương hỗ trong quá trình phát triển kinh tế, thương mại.

2.3. Bên cạnh những tác động tích cực cũng sẽ có những tác động làm hạn chế sự phát triển hoạt động thương mại của Bến Tre:

Sức phát triển của vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL và một số tỉnh lân cận với Bến Tre như: Tiền Giang, Vĩnh Long sẽ thu hút đáng kể lực lượng lao động được đào tạo và có kỹ năng từ các tỉnh khác trong cả nước. Do đó, lực lượng lao động của Bến Tre cũng có nguy cơ bị thu hút bởi các vùng lân cận, gây ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phát triển các ngành kinh tế của Bến Tre, trong đó có ngành thương mại.

Trong giai đoạn tới, cả nước nói chung và khu vực ĐBSCL nói riêng vẫn trong tình trạng thiếu vốn đầu tư cho nhu cầu xây dựng và phát triển kinh tế. Hơn thế nữa, điều kiện kinh tế - xã hội của các tỉnh trong vùng ĐBSCL khá tương đồng nhau, nghĩa là, các hướng đầu tư được lựa chọn cũng tương đối giống nhau. Do đó, giữa Bến Tre với các tỉnh khác trong vùng sẽ có sự cạnh tranh trong việc thu hút các luồng vốn đầu tư từ ngoài tỉnh, ngoài nước. Thậm chí, nếu không có chính sách khuyến khích đầu tư phù hợp, không khai thác được lợi thế riêng có thì Bến Tre có thể còn có nguy cơ bị chảy vốn đầu tư ra các tỉnh khác có ưu thế hơn.

3. Vị trí, vai trò của ngành thương mại đối với kinh tế tỉnh:

Ngành thương mại, dịch vụ Bến Tre đã, đang và sẽ ngày càng chứng tỏ được vị trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế, cũng như trong sự phát triển xã hội. Năm 2000, GDP thương mại chiếm tỷ trọng 9,3% trong GDP toàn tỉnh, năm 2005 tỷ số đó là 8,8%, năm 2010 là 13,0%, năm 2011 là 11,7%, góp phần đưa tỷ trọng GDP khu vực III năm 2000 chiếm 21,1% GDP, năm 2005 chiếm 25,7%, năm 2010 chiếm đến 35,6% và năm 2011 là 32,7%; tốc độ tăng trưởng bình quân GDP thương mại giai đoạn 2001-2005 đạt 8,7%/năm, giai đoạn 2006-2010 đạt 13,9%/năm, góp phần đưa tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của khu vực III đạt tương ứng các giai đoạn trên là 14,5%/năm và 16,8%/năm, đưa GDP toàn tỉnh tăng bình quân là 9,1%/năm và 9,4%/năm. Trong giai đoạn 2011-2020 ngành thương mại dịch vụ Bến Tre sẽ tiếp tục tăng trưởng bình quân ở mức cao, đưa GDP của tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng bình quân theo mục tiêu của tỉnh từ 13,0%-14,5%/năm. Thương mại cũng góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh từ nông nghiệp - thương mại, dịch vụ - công nghiệp và xây dựng chuyển sang thương mại - dịch vụ đứng đầu với tỷ trọng chiếm trên 42,0% trong GDP toàn tỉnh năm 2015 và gần 50,0% năm 2020; thương mại sẽ đóng góp ngày càng cao vào GDP toàn tỉnh, nếu năm 2010 đóng góp 10,7% thì năm 2015 có thể đóng góp khoảng 12% và năm 2020 góp khoảng 13%, tỷ lệ đóng góp của GDP thương mại có thể cao hơn nữa vào năm 2025. Những chỉ tiêu thể hiện xu hướng phát triển, vị trí vai trò của ngành thương mại dựa trên những cơ sở hiện thực sau:

Điều kiện tự nhiên thuận lợi tạo cho tỉnh Bến Tre xây dựng vùng nguyên liệu nông sản, thuỷ sản, trái cây, dừa… đa dạng, phong phú có giá trị tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bến Tre trong thời gian qua là nền tảng quan trọng trong sự phát triển thương mại của tỉnh. Do tác động của tăng trưởng kinh tế nên thu nhập dân cư tăng; nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất và đời sống ngày càng tăng; quy mô và chất lượng sản xuất ngày càng cao hơn; lao động và nguyên liệu tại chỗ sẽ được khai thác quy mô lớn hơn và chất lượng tốt hơn; nguồn hàng hoá cung ứng từ bên ngoài vào tỉnh về các sản phẩm như vật liệu xây dựng, cơ khí, vật tư nông nghiệp, hàng công nghệ tiêu dùng tăng…

Trong điều kiện hiện nay, tỉnh Bến Tre có tốc độ phát triển trung bình trong khu vực, thời gian tới điều kiện giao thông thuận lợi sẽ xuất hiện nhân tố đô thị, khi đó sẽ ảnh hưởng đến phát triển thương mại, dịch vụ, địa thế kinh tế của tỉnh sẽ có nhiều thay đổi. Khi cầu Cổ Chiên hoàn thành sẽ mở rộng giao thương với các tỉnh trong khu vực, nhu cầu dịch vụ của tỉnh sẽ phát triển, hệ thống phân phối rộng mạnh hơn.

Việc hình thành mới và nâng cấp mạng lưới giao thông giữa TP.Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây Nam Bộ: đường cao tốc TP.Hồ Chí Minh - Trung Lương, Bến Tre, việc xây dựng mới cầu Rạch Miễu, cầu Hàm Luông, nâng cấp quốc lộ 57, quốc lộ 60… sẽ giúp tiết kiệm chi phí thời gian, chi phí vật chất, giảm chi phí lưu thông hàng h và tăng cường giao lưu kinh tế giữa Bến Tre và các tỉnh thành trong cả nước. Các hoạt động giao lưu kinh tế sẽ tạo cơ hội hợp tác chặt chẽ dựa trên những thế mạnh của các địa phương.

Thu hút đầu tư nước ngoài có triển vọng được cải thiện cùng với đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông hoàn chỉnh và thực hiện mạnh cải cách hành chính. Nguồn nhân lực và chất lượng giáo dục ngày càng được cải thiện là lợi thế để phát triển ngành thương mại…

Bối cảnh kinh tế thế giới khu vực, trong nước, trong vùng sẽ tạo thuận lợi cho ngành thương mại Bến Tre phát triển khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế - xã hội của tỉnh.

4. Xu hướng phát triển phương thức kinh doanh:

Thương mại vẫn luôn là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Thương mại sẽ mở đường cho ngành nông nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp định hướng đầu tư, sản xuất, đưa sản phẩm hàng hoá đến với thị trường trong nước và quốc tế đồng thời vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng vừa định hướng tiêu dùng theo hướng tiện lợi, văn minh, hiệu quả.

Phương thức kinh doanh được sử dụng linh hoạt thích hợp với từng ngành, hàng và từng môi trường kinh doanh; việc cung ứng hàng công nghiệp tiêu dùng chủ yếu do nhà sản xuất và các doanh nghiệp thương mại thực hiện; các doanh nghiệp thương mại Bến Tre sẽ là những đầu mối thu gom sản phẩm nông thuỷ sản đưa trực tiếp đến thị trường trong nước và thị trường thế giới bằng những đơn hàng mức độ vừa và nhỏ, hợp tác, liên kết hoặc là chân rết cho các tập đoàn bán buôn lớn trong nước và nước ngoài xuất khẩu sản phẩm của Bến Tre ra thị trường thế giới; phương thức thu mua tiêu thụ nông sản, thuỷ sản được thực hiện thông qua việc ký kết hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hai chiều giữa người sản xuất và doanh nghiệp thương mại. Khi nền công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp của Bến Tre trong giai đoạn quy hoạch phát triển, thương mại cũng sẽ góp phần mở thị trường tiêu thụ đưa hàng công nghiệp đến với người tiêu dùng.

Thương mại bán lẻ sẽ phát triển mạnh trên thị trường Bến Tre nhờ vào sự phát triển của quỹ mua dân cư, đời sống dân cư ngày càng cao; giao thông, đô thị phát triển sẽ tạo ra những trung tâm mua sắm theo quy luật cung cầu. Ở các thành phố, thị xã, thị trấn, các siêu thị, trung tâm mua sắm, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích sẽ được hình thành phục vụ nhu cầu ngày càng cao của dân cư. Xu hướng các khu phố thương mại chuyên doanh cũng tiếp tục phát triển, sẽ từng bước thay thế cho các cửa hàng tạp hoá và các loại chợ có quy mô nhỏ.

Tổng đại lý, đại lý bán lẻ đang là phương thức phổ biến và phát triển mạnh, phương thức này không đòi hỏi thương nhân phải có vốn kinh doanh lớn, bán hàng hưởng hoa hồng tho thuận với nhà sản xuất, hiệu quả kinh doanh cao, ít rủi ro.

Nhượng quyền thương mại cũng có nhiều tiềm năng phát triển. Theo đó, một chủ đầu tư hoặc nhiều chủ đầu tư cùng mua bản quyền kinh doanh của cùng một thương hiệu, hình thành nên chuỗi điểm bán lẻ trên cùng thị trường.

Người tiêu dùng ngày càng ít đến các cửa hàng, quầy hàng nhỏ lẻ ở các chợ do chất lượng hàng hoá không tương xứng với giá cả, giá cả không ổn định và họ sẽ tìm đến các loại hình thương mại hiện đại với cơ sở hạ tầng hiện đại, hàng hoá đa dạng, chất lượng đảm bảo, giá cả niêm yết công khai, chế độ hậu mãi được chú trọng và quyền lợi khách hàng được tôn trọng. Số lượng các điểm phân phối nhỏ lẻ sẽ giảm dần và được thay thế bằng các loại hình mới như: Siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm, cửa hàng tiện ích. Song, trong vòng 10 năm tới, hình thức phân phối nhỏ lẻ vẫn còn giữ được vai trò quan trọng trong đời sống dân cư, nhất là ở các vùng nông thôn, thu nhập thấp.

Thương mại điện tử và giao dịch thương mại thông qua Internet, các phương tiện thông tin truyền thông như báo chí, truyền hình cũng sẽ phát triển mạnh trong giai đoạn quy hoạch. Đây là một trong những phương thức kinh doanh hiện đại nhất nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin. Trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, phương thức bán hàng này đã trở nên phổ biến và sẽ được phát triển trong tương lai, bởi những ưu thế nhanh, kịp thời, sức lan toả rộng và đặc biệt giảm được nhiều chi phí…

5. Dự báo nhu cầu phát triển các loại hình hạ tầng thương mại:

Hệ thống hạ tầng thương mại sẽ đáp ứng được tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, phương thức, hình thức phục vụ văn minh, tiện lợi và hiệu quả nhất cho khách hàng.

* Khu vực đô thị.

+ Hệ thống phân phối hiện đại gồm: Các trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm, siêu thị, các cửa hàng tiện ích… sẽ được các tập đoàn kinh doanh, các doanh nghiệp, liên hiệp HTX vv… quan tâm đầu tư trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2011- 2020 và sau năm 2020.

+ Hệ thống phân phối phát triển theo “chuỗi” (“chuỗi” siêu thị, “chuỗi” trung tâm mua sắm, “chuỗi” trung tâm thương mại, “chuỗi” cửa hàng tiện ích...), từng bước liên kết, lôi kéo các cửa hàng bán lẻ độc lập, các hộ kinh doanh cá thể vào hệ thống “chuỗi“ của mình, kết hợp hài hoà giữa các loại hình thương mại truyền thống với thương mại hiện đại.

+ Hệ thống logistics gồm các đại lý kho vận, kho bán buôn, các trung tâm phân phối với công nghệ và kỹ thuật hiện đại sẽ từng bước phát triển.

+ Chợ ở đô thị sẽ giảm thiểu việc xây mới, chỉ từng bước nâng cấp, cải tạo các chợ truyền thống thành chợ trung tâm, trung tâm mua sắm của đô thị. Các chợ dân sinh (phường, liên phường) được sắp xếp lại trong mối tương quan với các loại hình phân phối hiện đại và từng bước được chuyển hoá thành các siêu thị, cửa hàng tiện ích.

+ Tại TP.Bến Tre và các thị xã trong tương lai sẽ phát triển mua bán qua mạng Internet, qua các phương tiện truyền thông, sàn thương mại điện tử như: B2B (giao dịch giữa doanh nghiệp - doanh nghiệp), B2C (giao dịch giữa doanh nghiệp - khách hàng, người tiêu dùng).

* Khu vực nông thôn.

+ Loại hình trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm, siêu thị sẽ được phát triển ở các thị trấn và trung tâm cụm xã. Tuy nhiên, loại hình này chỉ có thể phát triển ở giai đoạn sau năm 2015 và phát triển mạnh sau năm 2020.

+ Hệ thống chợ và cửa hàng mua bán truyền thống vẫn là kênh lưu thông hàng h chủ yếu trong suốt cả thời kỳ đến năm 2020. Chợ nông thôn sẽ được cải tạo, nâng cấp và xây mới để bảo đảm có đủ chợ dân sinh ở các cụm xã phục vụ nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân; ở trung tâm huyện, chợ trung tâm sẽ được nâng cấp, xây mới; các chợ đầu mối bán buôn sẽ hình thành tại những nơi có sản xuất hàng hoá tập trung và số lượng đủ lớn, có vị trí và điều kiện giao thông thuận lợi, gần các trung tâm tiêu thụ hoặc ở ngoại vi các thành phố, thị xã; hình thành một số sàn giao dịch, trung tâm đấu giá hoạt động theo hướng sử dụng các phương thức mua bán hiện đại tại các trung tâm huyện, nhất là sau năm 2020.

+ Các cửa hàng bán lẻ độc lập sẽ từng bước liên kết với nhau và thu hút các hộ kinh doanh cá thể ở các thị trấn vào “chuỗi” kéo dài các cửa hàng tiện ích từ các khu vực thành thị. Tuỳ thuộc vào quy mô, tốc độ phát triển của lưu thông hàng hoá, của nhu cầu bán buôn và bán lẻ trong và ngoài khu vực để xây dựng các kho hàng tại các trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm cho phù hợp.

II. PHÂN TÍCH, DỰ BÁO CUNG, CẦU THỊ TRƯỜNG

1. Căn cứ và phương pháp dự báo:

Căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020; căn cứ định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh; căn cứ vào các chương trình, đề án phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; căn cứ vào kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội thời gian qua và dự báo phát triển trong thời gian tới; trên cơ sở điều tra khảo sát và các phương pháp dự báo thống kê, phương pháp chuyên gia có thể dự báo cung và cầu hàng hoá của tỉnh trong giai đoạn quy hoạch.

2. Dự báo nhu cầu tiêu dùng một số hàng hoá chủ yếu:

Theo thống kê mức tiêu dùng của người dân tăng bình quân 8,1%/năm trong giai đoạn 2001-2005 và 8,8%/năm trong giai đoạn 2006-2010; với tỷ trọng tổng chi chiếm trong tổng thu nhập khá cao, năm 2002 là 84,3%, năm 2004 là 86,6%, năm 2006 là 77,1%, năm 2008 là 82,5% và năm 2010 là 93,1%. Trong tổng chi tiêu, chi cho đời sống chiếm khá cao năm 2002 là 100%, năm 2006 là 89,81% và năm 2010 là 94,19%. Khu vực nông thôn, tiêu dùng trong dân có khuynh hướng tăng nhanh và đều đạt tăng trưởng bình quân 11,2%/năm trong giai đoạn 2001-2005 và 13,5%/năm giai đoạn 2006-2010, do các tiện nghi sinh hoạt ngày càng đi sâu về thị trường nông thôn.

Thu nhập trong những năm sau sẽ tăng nhanh cùng với sự tăng trưởng của khu vực II và III, hơn thế nữa quá trình đô thị hoá diễn ra sẽ nhanh… tốc độ tăng trưởng của nhu cầu có khả năng thanh toán trong những năm tới ở địa bàn tỉnh Bến Tre sẽ cao. Khu vực nông thôn, nhu cầu tiêu dùng các loại hàng hoá có giá trị lâu bền sẽ tăng nhanh, khu vực đô thị, nhu cầu các mặt hàng này vẫn tăng theo xu hướng đổi mới những sản phẩm cũ, lỗi thời thay bằng sản phẩm mới tân tiến hoặc thêm những sản phẩm mới tính năng hiện đại hơn.

2.1. Nhu cầu hàng lương thực, thực phẩm:

Số liệu cho thấy mặc dù, tổng thu nhập và tổng chi của người dân Bến Tre theo giá thực tế luôn theo xu hướng tăng, nhưng số lượng tiêu thụ các mặt hàng lương thực, thực phẩm chủ yếu của toàn tỉnh có thay đổi theo các năm nhưng mức thay đổi không nhiều. Mặt khác, dân số đến thời kỳ quy hoạch chỉ tăng 0,4% năm, thu nhập dân cư tăng nhưng nhu cầu sẽ hướng vào các chi tiêu phi vật chất, vì vậy, nhu cầu lương thực, thực phẩm thời kỳ quy hoạch dự ước không tăng nhiều. Đây là những mặt hàng mà chính Bến Tre có thể cung cấp đáp ứng nhu cầu dân cư.

Bảng 13: Hiện trạng và dự báo nhu cầu tiêu dùng một số mặt hàng lương thực, thực phẩm chủ yếu

Mặt hàng

ĐVT

2006

2010

2015

2020

Gạo

tấn

171.813

164.381

167.695

171.076

Thịt các loại

tấn

23.761

21.867

22.308

22.758

Mỡ, dầu ăn

tấn

3.656

3.619

3.692

3.767

Cá các loại

tấn

39.298

30.162

30.769

31.390

Trứng gà, vịt

1000 quả

28.636

33.329

34.001

34.686

Đậu các loại

tấn

609,3

603,2

615,4

627,8

Rau các loại

tấn

40.363,9

25.637,5

26.154,3

26.681,6

Trái cây

tấn

13.556,2

16.588,9

16.923,4

17.264,6

Đường, sữa, bánh kẹo

tấn

11.271,4

13.421,9

13.692,6

13.968,6

Nước chấm các loại

1000 lít

6.092,7

5.730,7

5.846,3

5.964,1

Chè, cà phê

tấn

1.523,2

1.508,1

1.538,5

1.569.5

Nguồn: Tính toán theo số liệu niên giám thống kê tỉnh Bến Tre

2.2. Nhu cầu các sản phẩm lâu bền:

Trong giai đoạn 2001-2010, nhu cầu tiêu dùng của dân cư cả nước nói chung, vùng ĐBSCL và Bến Tre nói riêng về các sản phẩm lâu bền đã có bước gia tăng cùng với sự gia tăng về thu nhập và sự cải thiện về các điều kiện sinh hoạt, như điện năng, đường giao thông, diện tích phủ sóng phát thanh và truyền hình... Do đó, mức tiêu dùng hiện có của các hộ gia đình sẽ đạt tỷ lệ khá cao, riêng xe máy, tivi... gần như đã đạt đến giới hạn bão hoà. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2011-2020, nhu cầu về các sản phẩm lâu bền của các hộ dân cư của tỉnh vẫn gia tăng ở mức độ khá cao. Bởi lẽ: Một là, nhu cầu thay thế các sản phẩm hiện có, chất lượng thấp và đã hao mòn vô hình tăng mạnh cùng với mức độ cải thiện về thu nhập; hai là, diện tích và chất lượng nhà ở của dân cư được cải thiện hơn làm phá vỡ giới hạn bão hoà tiêu dùng trước đây, tăng thêm nhu cầu mua sắm các mặt hàng nội thất; ba là, những tiến bộ về công nghệ vừa làm giảm giá, vừa tạo ra các sản phẩm mới, hình thành nhu cầu mua sắm mới về thay thế các sản phẩm lâu bền của dân cư.

Trên cơ sở số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê, mức độ gia tăng về mức tiêu dùng của dân cư về sản phẩm lâu bền, sự gia tăng số hộ gia đình của tỉnh Bến Tre, bộ phận quỹ mua chi cho các sản phẩm này của dân cư Bến Tre trong giai đoạn vừa qua và những yếu tố khác, có thể dự ước mức tiêu dùng của dân cư về một số các sản phẩm máy vi tính, máy giặt, tủ lạnh máy điều hoà… sẽ tăng mạnh trong giai đoạn quy hoạch, mỗi hộ gia đình ở đô thị hầu như sẽ có 1 vật dụng trên, tivi, xe máy có thể mỗi hộ có từ 1 đến 3 chiếc…

Bảng 14: Tình hình sử dụng các sản phẩm lâu bền của hộ gia đình của tỉnh

Diễn giải

Tỷ lệ hộ sử dụng (%)

Tivi

Máy

vi tính

Máy giặt

Tủ lạnh

Máy

điều hoà

Xe máy

Toàn tỉnh

86,9

6,7

6,7

20,5

1,8

63,3

Thành thị

88,3

20,3

24,6

42,5

7,1

74,7

Nông thôn

86,8

5,1

4,7

18,0

1,2

62,0

Cả nước

Năm 2008

Năm 2010

 

92,1

85,9

 

11,5

17

 

13,3

17,6

 

32,1

39,7

 

5,5

9,4

 

89,4

96,1

ĐBSCL

Năm 2008

Năm 2010

 

85,6

80,3

 

6,5

10,2

 

5,1

8,4

 

22,4

29,9

 

2,3

4,5

 

61,3

81,3

Nguồn: Tổng cục Thống kê và niên giám thống kê tỉnh Bến Tre

Trong các yếu tố về phía cầu hàng hoá, bên cạnh quỹ mua dân cư về các mặt hàng lương thực, thực phẩm còn có nhu cầu của các ngành sản xuất thuộc các lĩnh vực trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Đối với Bến Tre, nhu cầu máy móc, nguyên nhiên vật liệu sử dụng cho các hoạt động sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, nông nghiệp, thuỷ hải sản, các ngành chế tác khác là rất lớn và chiếm phần lớn trong tổng cầu hàng hoá là nguyên, nhiên, vật liệu các loại trên địa bàn tỉnh Bến Tre và sẽ tiếp tục tăng lên trong những năm tới phù hợp với tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp và công nghiệp của tỉnh.

2.3. Nhu cầu của thị trường thế giới về các sản phẩm chủ lực của tỉnh:

+ Thuỷ sản: Theo tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO), tổng nhu cầu về thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản trên thế giới dự kiến sẽ đạt 183 triệu tấn vào năm 2015 với tốc độ tăng trưởng bình quân 2,1%/năm. Ước tính 73% sản lượng gia tăng sẽ là thuỷ sản nuôi; thuỷ sản nuôi sẽ chiếm 45% trong tổng sản lượng thuỷ sản toàn cầu vào năm 2015. Tiêu thụ thuỷ sản tính theo đầu người trên toàn cầu sẽ tăng bình quân 0,8% trong giai đoạn đến năm 2015; tiêu thụ cá và sản phẩm cá bình quân đầu người đạt 13,7kg vào năm 2010 thì dự báo đạt 14,3kg vào năm 2015, trong khi đó nhu cầu về shellfish (thuỷ sản có vỏ) và các sản phẩm nuôi khác sẽ đạt mức tương ứng 4,7 và 4,8kg/người. Tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2010 đến 2015 sẽ là 4,05%/năm với các nước đang phát triển, 1,88%/năm với các nước phát triển. Tiêu thụ thuỷ sản của các nước đang phát triển tăng với nhịp độ cao hơn là do sự gia tăng nhanh hơn về dân số và thu nhập. Đối với các nước phát triển những yếu tố hạn chế nhịp độ tăng sản lượng chính là nhịp độ tăng dân số thấp hơn và mức tiêu thụ thuỷ sản bình quân đầu người đã ở mức cao. Cùng với sự khác biệt về nhịp độ tăng tiêu thụ thuỷ sản theo nhóm nước phát triển và đang phát triển là sự thay đổi về cơ cấu tiêu thụ theo khu vực trong giai đoạn dự báo. Trong đó, khu vực Đông Bắc Á, ngoại trừ Nhật Bản, sẽ có nhịp độ tăng tiêu thụ thuỷ sản cao nhất (khoảng 30%/năm), tiếp đến là khu vực các nước ASEAN và các nước châu Á khác, các nước Tây Âu, Bắc Mỹ sẽ có nhịp độ tăng tiêu thụ thuỷ sản thấp nhất.

Về thị hiếu, tiêu thụ thuỷ sản thế giới sẽ chuyển sang hướng tiêu dùng nhiều thuỷ sản tươi, sống, đặc biệt là các loại có giá trị cao: Giáp xác, nhuyễn thể, cá ngừ, cá hồi...; tỷ trọng dầu cá, bột cá trong cơ cấu tiêu thụ vẫn ổn định, trong khi tỷ lệ tiêu thụ đồ hộp ngày càng giảm do nguy cơ bị nhiễm chất hoá học từ sản phẩm đồ hộp gia tăng. Đồng thời, nhu cầu về thực phẩm chế biến nhanh tăng, đòi hỏi thời gian chế biến tối thiểu và hương vị phải đặc sắc như thực phẩm chế biến tại gia; yêu cầu về an toàn thực phẩm ngày càng gia tăng và phổ biến rộng rãi trên khắp thế giới.

Những thị trường tiêu thụ thuỷ sản mạnh vẫn là Hoa Kỳ, EU, Đông Bắc Á, Đông Âu.

+ Rau quả: Theo dự báo của FAO, trong thời kỳ sau 2010 nhu cầu tiêu thụ rau quả thế giới tăng 3,5% hàng năm, riêng các nước phát triển tăng bình quân 3,6%, (đặc biệt là nhu cầu nhập khẩu quả nhiệt đới) trong khi sản lượng chỉ tăng 2,8%. Thái Lan là quốc gia sản xuất lớn nhất, chiếm 16% tổng sản lượng toàn cầu, kế tiếp là Philippin chiếm 12%.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang EU liên tục tăng; xuất khẩu rau quả sang thị trường Hà Lan tăng rất mạnh, luôn đạt kim ngạch cao nhất trong khối EU. Trong số những sản phẩm rau hoa quả xuất khẩu sang thị trường Hà Lan thì các sản phẩm nước ép trái cây, cơm dừa sấy khô… đạt kim ngạch cao nhất tiếp đến là nhóm trái cây tươi. Tiếp đến Đức cũng là thị trường truyền thống đối với các sản phẩm rau quả của Việt Nam như: Dứa khoanh đông lạnh, khoai, cơm dừa. Italia, Pháp, Cộng hoà Séc và Bỉ cũng là những thị trường liên tục tăng. Người tiêu dùng Tây Ban Nha thích các sản phẩm tự nhiên.

Hiện nay, rau quả của Việt Nam vẫn chủ yếu phục vụ thị trường trong nước và thường là mặt hàng rau quả tươi, chỉ có khoảng 10% đến 15% là cung ứng cho các nhà máy chế biến và xuất khẩu. Dự báo kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam đạt 760 triệu USD vào năm 2015 và đạt 1,2 tỷ USD vào năm 2020 chiếm khoảng 2,5% kim ngạch xuất khẩu của ngành nông sản.

+ Sản phẩm gia súc, gia cầm: Dân số tăng và thu nhập tăng sẽ tạo động lực cho thị trường thịt thế giới tăng trưởng khoảng 40% trong vòng 10-20 năm tới. Mức tăng trưởng lớn nhất là thịt gia cầm, tỷ trọng thịt heo vẫn duy trì ổn định, trong khi đó thịt bò giảm trong các bữa ăn. Trung Quốc sẽ là thị trường tiêu thụ thịt heo lớn nhất thế giới.

Tiêu dùng thịt tại các thị trường phát triển sẽ chú trọng nhiều tới chất lượng sản phẩm, cho dù giá thành có cao hơn. Tại những thị trường này, một vài quy định được ban hành nhất là vấn đề chất lượng nhằm hạn chế nhập khẩu từ các quốc gia sản xuất có chi phí thấp.

3. Dự báo sức cung các mặt hàng chủ yếu:

Dự báo giai đoạn quy hoạch diện tích lúa sẽ giảm để chuyển sang nuôi trồng các mặt hàng khác và do đô thị hoá… năm 2015 và 2020 còn khoảng 76.000ha, nên sản lượng lúa năm 2015 giảm nhưng không nhiều còn 355.000 tấn, do năng suất sẽ tăng lên, sản lượng lúa năm 2020 đạt khoảng 370.000 tấn, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt 0,8%/năm. Diện tích trồng màu, rau đậu và cây ăn trái tăng lên một chút, do sản xuất đáp ứng nhu cầu của thị trường và do đầu tư khoa học kỹ thuật, công nghệ vào trồng trọt nên hầu hết, rau đậu, màu đều tăng; dự báo sản lượng màu năm 2020 đạt 9.600 tấn và rau đậu đạt 187.000 tấn. Các loại cây ăn trái và dừa tiếp tục phát huy thế mạnh của tỉnh so với các tỉnh ĐBSCL, tuy diện tích có thể chỉ tăng thêm vài chục ha, song do người dân đầu tư khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học nên năng suất cao hơn và sản lượng dự báo năm cuối của kỳ quy hoạch đạt 476.000 tấn cây ăn trái và 522.000 tấn dừa.

Chăn nuôi gia súc gồm trâu, bò, heo, vẫn tương đối ổn định trong thời gian qua; dự báo đàn bò và heo tiếp tục tăng trưởng, đàn trâu có thể giảm trong thời gian tới do cơ giới hoá đã đều khắp địa bàn, song sản lượng gia súc vẫn tiếp tục tăng. Đàn gia cm liên tục tăng trong những năm vừa qua và trong thời gian tới sẽ còn tăng, nhất là đàn gà với xu hướng nuôi tập trung và nuôi bán công nghiệp, đàn vịt có thể giảm do quá trình phát triển kinh tế vườn và giảm diện tích lúa, mặt khác, vịt khó thích nghi với nuôi công nghiệp. Dự báo sản lượng thịt hơi xuất chuồng bao gồm trâu, bò, heo, gia cầm năm 2020 đạt 100.000 tấn tăng bình quân 1,4%/năm trong 10 năm thời kỳ quy hoạch. Trứng gia cầm sẽ đạt 134 triệu quả năm 2020.

Thuỷ sản nuôi trồng nhất là cá và tôm vẫn phát triển do diện tích nuôi thời quy hoạch có tăng lên, mặt khác, người dân đã biết áp dụng khoa học kỹ thuật để nuôi chuyên canh, xen canh, hạn chế dịch bệnh… lượng cá nuôi đạt 176.000 tấn và tôm đạt 33.000 tấn vào năm 2020; thuỷ sản đánh bắt sẽ có thể tăng phương tiện đánh bắt được đầu tư hiện đại hơn, kỹ năng đánh bắt cao và đa dạng hơn, nhưng có khả năng tăng không đáng kể do nguồn thuỷ sản có mức độ và sức cạnh tranh trong khai thác ngày càng cao; riêng cá đánh bắt sản lượng dự báo đạt 113.000 tấn tăng bình quân 1%/năm thời kỳ quy hoạch.

Sản lượng mặt hàng công nghiệp chủ yếu của tỉnh như nước mắm, đường, bánh kẹo, may mặc tiếp tục đà tăng trưởng khá cao do ngành công nghiệp sẽ phát triển trong kỳ quy hoạch và nhu cầu thị trường vẫn khá ổn định; sản lượng nước mắm dự báo đạt 5,6 triệu lít, kẹo các loại đạt 20.000 tấn, đường 29.000 tấn, quần áo may sẵn 50 triệu cái vào năm 2020.

Bảng 15: Dự báo mức cung sản phẩm chủ yếu của tỉnh

Tên hàng

ĐVT

2010

2015

2020

Tốc độ TTBQ (%/năm)

2011-2015

2016-2020

Lúa

tấn

366.810

355.000

370.000

- 0,65

0,8

Màu

tấn

7.542

9.000

9.600

3,6

12,9

Rau đậu

tấn

97.960

136.120

187.000

6,8

6,5

Dừa

1000 tấn

420,2

455

522

1,6

2,7

Cây ăn quả chủ yếu

tấn

318.040

420.000

476.000

5,7

2,5

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng

tấn

87.121

93.000

100.000

1,3

1,5

Trứng gia cầm

1000 quả

77.439

92.800

134.000

3,7

7,6

Cá biển

tấn

101.500

109.000

113.000

1,4

0,7

Cá nuôi

tấn

124.850

157.000

176.000

4,7

2,3

Tôm nuôi

tấn

29.207

32.000

33.000

1,8

0,6

Nước mắm

1000 lít

3.301

4.200

5.600

4,9

5,9

Kẹo các loại

tấn

12.579

17.000

20.000

6,2

3,3

Đường

tấn

17.544

22.000

29.000

4,6

5,7

Quần áo may sẵn

1000 cái

19.889

30.000

50.000

8,6

10,8

Nguồn: Tính toán theo niên giám thống kê và quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội Bến Tre đến 2020.

Từ thực tế thời gian qua, sức mua của thị trường và khả năng sản xuất cung ứng, dự báo nhu cầu sử dụng của tỉnh chỉ xoay quanh tỷ trọng 30%-75% so với sức sản xuất, số còn lại được đưa ra thị trường trong và ngoài nước.

Hàng hoá xuất khẩu của Bến Tre vẫn là những ngành hàng thế mạnh truyền thống như nông sản, thuỷ sản với các mặt hàng: Nghêu, tôm, cá, rau quả, dừa và các sản phẩm dừa với thị trường chính là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ, ASEAN và các thị trường mới là Trung Đông, châu Mỹ, Nga, các nước Đông Âu, châu Phi. Dự báo tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân trong giai đoạn quy hoạch mỗi mặt hàng khác nhau, có thể từ 01-25%/năm. Lượng hàng xuất khẩu chiếm khoảng 10-30% lượng sản phẩm do tỉnh sản xuất, riêng dừa các sản phẩm dừa có thể lên tới 70% sản lượng sản xuất. Ngoài ra, những sản phẩm Việt Nam xuất khẩu khá hiệu quả như: May mặc, giày dép, thủ công mỹ nghệ, điện tử, lao động, phần mềmcũng sẽ góp phần vào tăng trưởng kinh tế nếu được Bến Tre chú trọng, khuyến khích đầu tư.

Bảng 16: Dự kiến mặt hàng xuất khẩu chủ yếu 2011-2020

Mặt hàng

ĐVT

2010

2015

2020

Tốc độ TTBQ (%/năm)

2011-2015

2016-2020

Cá đông lạnh

tấn

13.913

27.000

45.000

14,2

10,8

Nghêu đông lạnh

tấn

4.372

11.000

30.000

20,3

22,2

Gạo

tấn

15.623

45.000

50.000

23,6

2,1

Dừa khô

1000 tấn

112

190

310

11,2

10,3

Chỉ xơ dừa

tấn

76.782

80.000

85.000

0,8

1,2

Than thiêu kết

tấn

16.031

20.000

30.000

4,5

8,5

Cơm dừa nạo sấy

tấn

16.472

35.000

55.000

16,3

9,5

Thạch dừa

tấn

4.115

6.500

9.000

9,6

6,7

Kẹo dừa

tấn

6.717

10.000

15.000

8,3

8,5

Lưới bảo hiểm CN

tấn

8.143

13.532

23.000

10,7

11,2

Hàng may mặc

triệu USD

36,4

80

130

17,1

10,2

Hàng TCMN

triệu USD

0,88

2

5

17,9

20,1

4. Dự báo về khả năng cạnh tranh một số sản phẩm chủ lực của tỉnh:

Hàng thuỷ sản: Là một trong những ngành lợi thế của Bến Tre, trong đó cả lĩnh vực đánh bắt và nuôi trồng. Các sản phẩm thuỷ sản chính là tôm, cá, nghêu, sò, cua…; sản lượng nuôi trồng tăng mạnh trong giai đoạn 2001-2010, tốc độ tăng trưởng bình quân của cá biển giai đoạn 2006-2010 là 13,8%/năm, cá nuôi là 44,3%/năm, tôm là 3,1%/năm. Nhu cầu trên thế giới và trong nước về các mặt hàng này có xu hướng cao. Dự báo, khối lượng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đạt từ 1,6-1,7 triệu tấn vào năm 2015; giá xuất khẩu thuỷ sản tăng bình quân từ 7-8%/năm giai đoạn 2011-2015; kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản tăng từ 5,01 tỷ USD năm 2010 lên 7,5 tỷ USD năm 2015. Từ 2016 đến 2020 sản lượng thuỷ sản cả nước sẽ tăng bình quân 5%/năm, tăng trưởng kim ngạch bình quân 7-9%/năm, đến 2020 đạt 10 tỷ USD.

Bến Tre đang chú trọng phát triển mạnh nghề nuôi trồng thuỷ sản trên nhiều loại hình thuỷ vực, với nhiều phương thức nuôi trồng như: Nuôi tôm công nghiệp, bán công nghiệp, nuôi tôm quảng canh cải tiến, nuôi tôm xen lúa, nuôi cá ao hầm tập trung, ao hầm thổ cư, trên vùng trũng, trên bãi bồi, nuôi đăng quần, nuôi bè… với việc đưa khoa học kỹ thuật để kiểm soát môi trường, dịch bệnh… Ngành đánh bắt với thế mạnh về phương tiện khai thác, đội ngũ ngư dân và cơ sở hậu cần ngày càng chuyên nghiệp… điều đó, sẽ góp phần làm nâng cao số lượng, chất lượng thuỷ hải sản của Bến Tre, nghĩa là năng lực cạnh tranh được nâng cao trên thị trường.

Nông sản, rau, trái cây: Cũng là thế mạnh của Bến Tre, mặc dù quỹ đất trồng trọt gần như đã được sử dụng toàn bộ nhưng những sản phẩm này vẫn có độ tăng trưởng. Giai đoạn 2006-2010 tăng trưởng bình quân năm của lúa là 1,4%/năm, rau đậu 1,2%/năm và dừa là 10,2%/năm; trái cây, lúa, dừa, hoa kiểng là những sản phẩm đứng hàng đầu trong ngành trồng trọt của tỉnh. Nhu cầu các sản phẩm này trên thế giới và trong nước luôn tăng, nhất là rau và trái cây sạch. Riêng gạo, dự báo trong 5 năm tới sản lượng lúa cả nước chỉ tăng khoảng 3%/năm, từ 38,9 triệu tấn năm 2009 lên 46 triệu tấn năm 2015. Tiêu dùng trong nước và dự trữ bắt buộc khoảng 36-37 triệu tấn, còn khoảng 9-10 triệu tấn dành cho chế biến, xuất khẩu; mức xuất khẩu gạo duy trì từ 5-6 triệu tấn/năm. Mục tiêu đến năm 2015, kim ngạch xuất khẩu đạt 3,5-4 tỷ USD. Thị trường chính vẫn là châu Á, châu Phi, trọng điểm là các nước ASEAN và khu vực Trung Đông.

Bộ Công Thương cho biết, nhu cầu về rau củ quả thế giới sẽ tăng mạnh, dự kiến đến năm 2020 kim ngạch nhóm hàng này đạt 1 tỷ USD. Riêng xuất khẩu rau quả sang Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand đang có nhiều thuận lợi do Hoa Kỳ vừa cấp phép cho nhập khẩu chôm chôm Việt Nam, Nhật và Hàn Quốc cấp phép cho nhập khẩu thanh long Việt Nam, New Zealand cấp phép cho nhập khẩu xoài tươi Việt Nam. Nhu cầu nhập rau quả Việt Nam của các nước Trung Quốc, Indonesia… cũng tăng mạnh. Dự kiến xuất khẩu rau quả năm 2015 sẽ đạt 650 triệu USD tăng so với 450 triệu USD năm 2010. Bến Tre có tiềm năng về đất đai, đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sẽ hình thành các vùng trồng rau chuyên canh, vùng trái cây đặc sản. Đồng thời với việc tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, đầu tư khoa học kỹ thuật về giống, quy trình sản xuất… các sản phẩm nhóm hàng này của Bến Tre tiếp tục giữ vị trí xứng đáng trên thị trường, đặc biệt dừa và các sản phẩm dừa của Bến Tre cần giữ vững và nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh để sản phẩm dừa của Bến Tre đứng đầu của Việt Nam và đạt thương hiệu nổi tiếng trên thế giới.

Sản phẩm gia súc, gia cầm: Cũng đạt được mức tăng trưởng cao trong giai đoạn 2000-2010. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng trưởng bình quân 8,7%/năm giai đoạn 2000-2005 và 3,1%/năm giai đoạn 2006-2010, riêng trứng gia cầm trong giai đoạn 2006-2010 tăng trưởng bình quân 25,6%/năm. Bò và gia cầm tăng nhanh, năm 2010 cả tỉnh có 184.384 đầu con bò, 4,3 triệu đầu con gia cầm; sản phẩm thịt gia cầm đạt 15.792 tấn thịt và 77 triệu quả trứng. Những mặt hàng này hiện chủ yếu tiêu thụ trên thị trường tỉnh, trong vùng, TP.Hồ Chi Minh, triển vọng thị trường tiêu thụ sẽ mở rộng ra cả các tỉnh trọng điểm phía Nam, cả nước và chế biến xuất khẩu.

Quần áo may sẵn: Năm 2010, tỉnh sản xuất và cung ứng 22,8 triệu sản phẩm ra thị trường, đạt kim ngạch xuất khẩu 36,4 triệu USD. Dệt may là ngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam đứng đầu là Tổng công ty Dệt may Việt Nam, Vinatex. Theo Vinatex, trong giai đoạn 2011-2020 tăng trưởng bình quân 12-14%/năm, xuất khẩu tăng 15%/năm. Đến năm 2020, sản lượng sợi đạt 650 ngàn tấn/năm; sản lượng vải dệt đạt 2 tỷ m2 vải; sản lượng may đạt 4 tỷ sản phẩm; kim ngạch xuất khẩu đạt 25 tỷ USD, tạo việc làm cho 3 triệu lao động. Với việc có doanh nghiệp liên doanh với Vinatex sản xuất hàng may xuất khẩu, một số doanh nghiệp đầu tư ngành may ở khu công nghiệp… Mặt khác, với chi phí lao động thấp, người lao động dần quen làm việc với guồng máy công nghiệp, những năm tới, năng lực cạnh tranh mặt hàng này của Bến Tre vẫn có nhiều ưu thế trên thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu.

5. Dự báo sức mua hàng hoá và các yếu tố ảnh hưởng:

Trong giai đoạn 2011-2020, những yếu tố làm cho sức mua trên địa bàn tỉnh tăng gồm: 1) Nhu cầu sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh tăng, tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên tăng. Do đó, thu nhập bình quân nhân khẩu tăng nhanh cùng với triển vọng tăng trưởng kinh tế của tỉnh. 2) Tính tự cấp, tự túc ở khu vực nông thôn giảm do sự thay đổi cơ cấu ngành nghề theo hướng gia tăng việc làm phi nông nghiệp.

Khi thu nhập được nâng cao, nhu cầu phi vật chất sẽ tăng đáng kể. Do vậy, dự báo quỹ mua vào khoảng 70-85% tổng thu nhập của dân cư trên địa bàn tỉnh Bến Tre trong giai đoạn quy hoạch. Trong tổng quỹ mua dân cư trên địa bàn, tỷ trọng quỹ mua nông thôn sẽ có xu hướng giảm. Xu hướng này sẽ diễn ra do những yếu tố như: 1) Do quá trình đô thị hoá, một phần khu vực nông thôn sẽ trở thành đô thị. 2) Xu hướng di cư của dân cư, nhất là lực lượng lao động trẻ - người tạo ra thu nhập chính - từ khu vực nông thôn ra thành thị vẫn diễn ra mạnh mẽ.

Tuy nhiên, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu những năm vừa qua, cùng với sự biến động của tỷ giá hối đoái liên tục giữa Việt Nam đồng với USD, EURO, Nhân dân tệ…, giá vàng tăng bất ổn định cả trên thị trường thế giới và trong nước, nên sức mua trong những năm đầu của kỳ quy hoạch có thể đạt tốc độ tăng chậm, sự ổn định tỷ giá, hạn chế ảnh hưởng của suy thoái toàn cầu nằm ngoài tầm tay của các nhà quản lý, doanh nghiệp và người dân Bến Tre. Tuy nhiên, việc nắm bắt quy luật, xu hướng, thông tin kịp thời sẽ giúp các doanh nghiệp và người dân giữ ổn định thu nhập, sức mua, kịp thời điều chỉnh được nhu cầu tiêu dùng và mức sống, góp phần tăng trưởng ổn định kinh tế của tỉnh nhất là giai đoạn giữa và cuối của kỳ quy hoạch.

Phần IV

QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN

I. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN

1. Phát triển thương mại phải gắn với quá trình chuyển dịch kinh tế và lợi thế so sánh sản phẩm của tỉnh. Sản xuất, phân phối, tiêu dùng gắn với hiện đại hoá phương thức phân phối theo yêu cầu mở rộng đô thị của địa phương, thích ứng với xu hướng hiện đại của đô thị. Quy hoạch phải gắn với phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long; tiếp tục đy mạnh xúc tiến đầu tư thương mại, chủ động xúc tiến dịch vụ đầu tư, nâng cao tỷ trọng hàng chế biến xuất khẩu.

2. Phát triển ngành thương mại trên cơ sở phát huy nội lực và sử dụng tốt mọi nguồn lực, tập trung khai thác có hiệu quả các tiềm năng và lợi thế so sánh của tỉnh để phát triển nhanh, bền vững, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển nông nghiệp hàng hoá, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu GDP.

3. Phát triển đồng bộ cơ cấu của ngành thương mại theo phân ngành bao gồm bán buôn, bán lẻ, đại lý, nhượng quyền thương mại… hợp lý cả về số lượng, loại hình và không gian.

4. Phát triển nhiều loại hình doanh nghiệp thương mại thuộc các thành phần kinh tế phù hợp với yêu cầu phát triển hợp lý giữa các doanh nghiệp thương mại có quy mô lớn với các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các hộ kinh doanh thương mại trên thị trường.

5. Phát triển đồng bộ và từng bước hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật thương mại đảm bảo xây dựng một nền thương mại văn minh, hiện đại, chuyên nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao và chú trọng bảo vệ môi trường.

6. Phát triển thương mại cần đặc biệt chú trọng đến yêu cầu nâng cao năng lực quản lý nhà nước với các hoạt động thương mại của tỉnh, đảm bảo vừa tuân thủ theo quy định pháp luật, vừa tạo ra môi trường thuận lợi cho các nhà kinh doanh cạnh tranh lành mạnh, công khai, bình đẳng, tạo môi trường pháp lý ổn định cho họ tham gia ổn định thị trường, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

7. Phát triển ngành thương mại của tỉnh trên cơ sở hài hoà, gắn bó chặt chẽ với sự phát triển chung của cả nước, nhất là của vùng ĐBSCL, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

II. CÁC MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG ÁN PHÁT TRIỂN ĐẾN NĂM 2020

1. Mục tiêu chung:

Tăng GDP của ngành thương mại đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP của tỉnh góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp.

Thương mại thực sự là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, dẫn dắt sản xuất theo nhu cầu thị trường trong nước và thế giới, góp phần định hướng tiêu dùng.

Xây dựng thương hiệu sản phẩm của tỉnh, mở rộng thị trường và đẩy mạnh xuất khẩu.

Góp phần tạo việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống của lao động trong ngành nói riêng và dân cư trong tỉnh nói chung.

2. Mục tiêu cụ thể:

Để góp phần vào thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, mục tiêu phát triển ngành thương mại cụ thể bằng các chỉ tiêu kinh tế phải phù hợp, bằng hoặc cao hơn so với mục tiêu và các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế mà Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ IX đề ra, cụ thể:

- Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP ngành thương mại giai đoạn 2011-2015 là 14,8%/năm, giai đoạn 2016-2020 tăng bình quân 16,4%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh; mức đóng góp của ngành thương mại vào GDP toàn tỉnh tăng từ 8,9% năm 2005, 10,7% năm 2010 lên 11,8% năm 2015 và 12,8% năm 2020; ngành thương mại góp phần đưa GDP khu vực III bằng hoặc vượt chỉ tiêu tỉnh đề ra, cụ thể là: Tốc độ tăng trưởng trên 16,2% toàn giai đoạn 2011-2020, chiếm tỷ trọng 42,3% trong GDP toàn tỉnh năm 2015 và trên 48,2% năm 2020.

- Kim ngạch xuất khẩu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 20%/năm, giai đoạn 2016-2020 đạt 22%/năm và toàn giai đoạn 2011-2020 là 21%/năm.

- Tổng mức bán lẻ hàng h và doanh thu dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2015 là 20%/năm và giai đoạn 2016-2020 là 22%/năm và toàn giai đoạn 2011-2020 là 21%/năm.

- Tỷ trọng vốn đầu tư cho hạ tầng thương mại hiện đại đạt trên 60% tổng vốn đầu tư cho các công trình hạ tầng thương mại chủ yếu được quy hoạch trong giai đoạn 2011-2015 và 80% giai đoạn 2016-2020.

3. Luận chứng và lựa chọn phương án phát triển:

+ Căn cứ Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; căn cứ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ IX; căn cứ Chương trình phát triển xuất khẩu Bến Tre giai đoạn 2011-2015, theo đó:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân tăng 13,8%/năm trong 10 năm, trong đó giai đoạn 2011-2015 đạt 13%/năm và giai đoạn 2016-2020 đạt 14,5%/năm; tốc độ tăng trưởng khu vực III đạt 16,2%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp; đến năm 2015, tỷ lệ cơ cấu các ngành nông nghiệp - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ là 30,3%-27,4%-42,3%; đến năm 2020 là 19,2%-32,6%-48,2%.

- Kim ngạch xuất khẩu đạt trên 575 triệu USD năm 2015 và khoảng 1,4 tỷ USD vào năm 2020, tăng trưởng bình quân 20%/năm.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng bình quân 20%/năm giai đoạn 2011-2015.

- Tốc độ tăng dân số bình quân 0,4%/năm.

+ Căn cứ vào dự báo phát triển thương mại trong nước và thế giới, những thuận lợi, khó khăn, những tác động ảnh hưởng đến ngành thương mại tỉnh.

+ Căn cứ vào sự phát triển ngành thương mại của tỉnh trong thời gian qua; vào đóng góp của ngành thương mại đối với nền kinh tế tỉnh.

Các phương án phát triển ngành thể hiện bằng các chỉ tiêu chủ yếu của ngành thương mại như: Tăng trưởng giá trị gia tăng ngành thương mại; đóng góp của ngành thương mại trong GDP toàn tỉnh; tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng; kim ngạch xuất khẩu hàng hoá...

- Trong giai đoạn 2001-2005 GDP ngành thương mại tăng trưởng thấp hơn tốc độ tăng trưởng tổng GDP toàn tỉnh, nhưng giai đoạn 2006-2010 tăng cao hơn tốc độ tăng GDP toàn tỉnh 1,037 lần, toàn giai đoạn 2001-2010, tốc độ tăng GDP ngành thương mại tăng cao hơn tốc độ tăng GDP toàn tỉnh 1,016 lần. Dự báo, tốc độ tăng GDP của ngành thương mại giai đoạn quy hoạch tăng cao hơn tốc độ tăng của tổng GDP toàn tỉnh với tỷ lệ tương đương giai đoạn trước khoảng 1,016 lần, nhưng mức đóng góp của ngành thương mại vào GDP toàn tỉnh giai đoạn quy hoạch cao hơn giai đoạn trước, đồng thời góp phần đưa cơ cấu GDP của khu vực III chiếm tỷ trọng cao theo đúng định hướng phát triển của tỉnh đến năm 2020.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng căn cứ thực trạng phát triển TMBLHH&DTDVTD của tỉnh giai đoạn 2001-2010; căn cứ vào triển vọng tăng GDP bình quân đầu người dẫn đến khả năng nâng cao thu nhập, mức sống của dân cư Bến Tre trong giai đoạn dự báo; căn cứ vào nhu cầu mở rộng tiêu dùng của sản xuất và đời sống và cơ hội khai thác các dịch vụ cung ứng hàng hoá và dịch vụ cho khách du lịch.

Trong giai đoạn 2001-2010, nhịp độ tăng TMBLHH&DTDVTD bình quân của ngành thương mại đạt 21,7%/năm, trong đó, giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân 21,5%, giai đoạn 2006-2010 đạt tốc độ nhanh hơn 22,4%/năm. Vì đã đạt mức xuất phát điểm khá cao nên dự báo tốc độ tăng của chỉ tiêu này trong thời kỳ quy hoạch sẽ đạt tăng trưởng thấp hơn hoặc bằng giai đoạn trước, nhưng số tuyệt đối vẫn đạt ở mức cao.

- Kim ngạch xuất khẩu: Căn cứ vào tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh trong giai đoạn 2001-2010 và giai đoạn 2006-2010; căn cứ vào triển vọng thị trường thế giới và khả năng gia tăng số lượng và giá trị của các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của tỉnh; căn cứ vào mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu của tỉnh đến năm 2015 và năm 2020.

Trong giai đoạn 2001-2010, tương quan tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu và tăng trưởng GDP thương mại của tỉnh là 1,07 lần, giai đoạn 2006-2010 tốc độ tăng trưởng xuất khẩu giảm so với giai đoạn 2001-2005. Dự báo trong giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020 tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sẽ thấp hơn giai đoạn trước, do xuất phát điểm kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đã ở mức cao; tương quan tỷ lệ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu và tăng trưởng GDP thương mại của tỉnh khoảng 1,045-1,05 lần.

Có 3 phương án phát triển ngành thương mại của tỉnh được đề xuất từ nay đến năm 2020 như sau:

Phương án I:

GDP của ngành thương mại đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011- 2015 là 13,9%/năm, giai đoạn 2016-2020 là 15,3%/năm; năm 2015, ngành thương mại đóng góp 11,4% cho GDP toàn tỉnh và 26,9% cho GDP KV III; năm 2020, tỷ số đó lần lượt là 11,7% và 25,2%; TMBLHH&DTDVTD do ngành thương mại thực hiện đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2015 là 19,0%/năm, giai đoạn 2016-2020 là 20,0%/năm; kim ngạch xuất khẩu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2015 là 16,1%/năm, giai đoạn 2016-2020 là 20,2%/năm.

Theo phương án này, tốc độ tăng trưởng bình quân GDP thương mại giai đoạn quy hoạch bằng và cao hơn giai đoạn trước; TMBLHH&DTDVTD tăng chậm hơn giai đoạn trước; kim ngạch xuất khẩu có số tuyệt đối đạt mục tiêu theo quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh đã được phê duyệt và Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ đề ra.

Tuy nhiên, với phương án này GDP của ngành thương mại và KV III giai đoạn 2011-2015 tăng trưởng với tốc độ chỉ bằng giai đoạn trước, trong khi GDP toàn tỉnh tăng với tốc độ cao hơn giai đoạn trước; đóng góp của ngành cho GDP toàn tỉnh thấp, năm 2015 chỉ tăng 0,5% và năm 2020 chỉ tăng 0,8% so với năm 2010 và tuy ngành thương mại có góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng KV III, nhưng không đạt mục tiêu của tỉnh; kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2011-2015 đạt tốc độ thấp hơn nhiều so với giai đoạn trước trong khi quy mô xuất khẩu của tỉnh còn nhỏ; TMBLHH&DTDVTD chưa tương xứng với thu nhập của tỉnh và sức đầu tư vào kết cấu hạ tầng thương mại dự báo tăng trong giai đoạn quy hoạch.

Phương án có thể thích hợp với bối cảnh suy thoái toàn cầu đang ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam và sẽ kéo dài trong vài năm tới. Tuy nhiên, khi các chính sách vĩ mô của nước ta kiềm chế được ảnh hưởng của suy thoái; hệ thống hạ tầng thương mại của tỉnh Bến Tre được đầu tư; sản xuất, xuất khẩu phát triển ổn định... thì các chỉ tiêu của phương án sẽ không tương xứng với khả năng của ngành thương mại trong giai đoạn quy hoạch và có thể sẽ làm hạn chế tính phấn đấu đối với ngành.

Bảng 17 A: Phương án I

  Đơn vị tính: Tỷ đồng

Chỉ tiêu

2005

2010

2015

2020

Tốc độ TTBQ (%/năm)

’06-‘10

‘11-‘15

‘16-‘20

GDP toàn tỉnh giá SS 1994

6.255,7

9.787,9

18.037,3

35.550

9,4

13,0

14,5

GDP KV III giá SS

1.632,6

3.551

7.620

16.567

16,8

16,5

16,8

GDP thương mại giá SS

557

1.067.9

2.047

4.171

13,9

13,9

15,3

Đóng góp GDP thương mại/GDP toàn tỉnh (%)

 8,9

10,9

11,4

11,7

 

 

 

Đóng góp GDP TM/GDP KV III (%)

34,1

30,1

26,9

25,2

 

 

 

GDP toàn tỉnh giá thực tế

9.940,8

22.012,8

51.406,3

124.425

 

 

 

GDP KV III giá thực tế

2.550,5

7.837,7

21.488,4

58.481,5

 

 

 

GDP thương mại giá thực tế

872

2.859,7

6.345,7

15.224,2

 

 

 

Cơ cấu (%)

GDP KV III/GDP toàn tỉnh

25,7

35,6

41,8

47,0

 

 

 

GDP TM/GDP KV III

34,2

36,5

29,5

26,0

 

 

 

TMBLHH&DTDVTD

5.336,3

14.637,1

34.929

86.915

22,4

19,0

20,0

Kim ngạch XK (triệu USD)

95,1

264

557

1.400

22,7

16,1

20,2

Phương án II:

GDP của ngành thương mại đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011- 2015 là 14,8%/năm, giai đoạn 2016-2020 là 16,4%/năm; năm 2015, ngành thương mại đóng góp 11,8% cho GDP toàn tỉnh và 27,6% cho GDP KV III; năm 2020, tỷ số đó lần lượt là 12,8% và 26,8%; TMBLHH&DTDVTD do ngành thương mại thực hiện đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2015 là 20,0%/năm, giai đoạn 2016-2020 là 22,0%/năm; kim ngạch xuất khẩu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2015 là 20,0%/năm, giai đoạn 2016-2020 là 22,0%/năm.

Theo phương án II, GDP thương mại có tốc độ tăng tương quan với GDP toàn tỉnh; ngành thương mại đóng góp cho GDP toàn tỉnh giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước khoảng 1%; góp phần GDP KV III tăng và chiếm cơ cấu ngày càng cao trong GDP toàn tỉnh, phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh; TMBLHH&DTDVTD đạt tốc độ tăng tương đương với cả nước đã quy hoạch, có quy mô phù hợp với thu nhập của nền kinh tế tỉnh và thể hiện được sức phục vụ nhu cầu tiêu dùng của hệ thống bán lẻ ngành thương mại đã được đầu tư; kim ngạch xuất khẩu có tốc độ phát triển tuy thấp hơn giai đoạn trước nhưng cao gấp 1,02 lần tốc độ tăng của cả nước đã được quy hoạch và đạt quy mô cao hơn so với phương án I và đạt mục tiêu của tỉnh theo quy hoạch kinh tế - xã hội đã được phê duyệt.

Bảng 17 B: Phương án II

  Đơn vị tính: Tỷ đồng

Chỉ tiêu

2005

2010

2015

2020

Tốc độ TTBQ (%/năm)

’06-‘10

‘11-‘15

‘16-‘20

GDP toàn tỉnh giá SS 1994

6.255,7

9.787,9

18.037,3

35.550

9,4

13

14,5

GDP KV III giá SS

1.632,6

3.551

7.719

16.996

16,8

16,8

17,1

GDP thương mại giá SS

557

1.067,9

2.129

4.549

13,9

14,8

16,4

Đóng góp GDP thương mại/GDP toàn tỉnh (%)

 8,9

10,9

11,8

12,8

 

 

 

Đóng góp GDP thương mại/GDP KV III (%)

34,1

30,1

27,6

26,8

 

 

 

GDP toàn tỉnh giá thực tế

9.940,8

22.012,8

51.406,3

124.425

 

 

 

GDP KV III giá thực tế

2.550,5

7.837,7

21.767,6

59.995,9

 

 

 

GDP thương mại giá thực tế

872

2.859.7

6.599,9

16.603,9

 

 

 

Cơ cấu (%)

GDP KV III/GDP toàn tỉnh

25,7

35,6

42,3

48,2

 

 

 

GDP TM/GDP KV III

34,2

36,5

30,3

27,7

 

 

 

TMBLHH&DTDVTD

5.336,3

14.637,1

36.422

98.438

22,4

20,0

22,0

Kim ngạch XK(triệu USD)

95,1

264

657

1.775

22,7

20,0

22,0

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phương án III:

GDP của ngành thương mại đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011- 2015 là 15,8%/năm, giai đoạn 2016-2020 là 17%/năm; năm 2015, ngành thương mại đóng góp 12,3% cho GDP toàn tỉnh, 28,3% cho KV III; năm 2020, tỷ số đó lần lượt là 13,7% và 27,2%; TMBLHH&DTDVTD đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2015 là 22,0%/năm, giai đoạn 2016-2020 là 23,0%/năm; kim ngạch xuất khẩu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2015 là 22,0%/năm, giai đoạn 2016-2020 là 23,0%/năm.

Bảng 17 C: Phương án III

 Đơn vị tính: Tỷ đồng

Chỉ tiêu

2005

2010

2015

2020

Tốc độ TTBQ (%/năm)

’06-‘10

‘11-‘15

‘16-‘20

GDP toàn tỉnh giá SS 1994

6.255,7

9.787,9

18.037,3

35.550

9,4

13,0

14,5

GDP KV III giá SS

1.632,6

3.551

7.852

17.963

16,8

17,2

18,0

GDP thương mại giá SS

557

1.067,9

2.224

4.876

13,9

15,8

17,0

Đóng góp GDP thương mại/GDP toàn tỉnh (%)

 8,9

10,9

12,3

13,7

 

 

 

Đóng góp GDP thương mại/GDP KV III (%)

34,1

30,1

28,3

27,2

 

 

 

GDP toàn tỉnh giá thực tế

9.940,8

22.012,8

51.406,3

124.425

 

 

 

GDP KV III giá thực tế

2.550,5

7.837,7

22.142,6

63.409,4

 

 

 

GDP TM giá thực tế

872

2.859.7

6.894,4

17.797,4

 

 

 

Cơ cấu (%)

GDP KV III/GDP toàn tỉnh

25,7

35,6

43,1

51,0

 

 

 

GDP TM/GDP KV III

34,2

36,5

31,1

28,1

 

 

 

TMBLHH&DTDVTD

5.336,3

14.637,1

39.560

111.373,5

22,4

22,0

23,0

Kim ngạch XK (triệu USD)

95,1

264

713

2.007

22,7

22,0

23,0

Theo phương án III, các chỉ tiêu kinh tế của ngành thương mại đều tăng trưởng khá cao; tốc độ tăng GDP thương mại của Bến Tre tăng gấp 2 lần mục tiêu tăng trưởng thương mại cả nước, TMBLHH&DTDVTD, kim ngạch xuất khẩu tăng cao hơn giai đoạn trước, giai đoạn mà quy mô nền kinh tế của tỉnh còn ở mức thấp, đồng thời cao hơn cả nước đã được quy hoạch. Đây là phương án tích cực mang tính đột phá với dự báo khủng hoảng tài chính toàn cầu phục hồi nhanh; Việt Nam có những giải pháp hữu hiệu đẩy mạnh phát triển nền kinh tế; hệ thống hạ tầng thương mại của tỉnh được đầu tư theo quy hoạch; các sản phẩm có tính cạnh tranh cao cả trên thị trường trong nước và nước ngoài; các quan hệ thương mại trong nước và quốc tế được khai thác tối đa, hiệu quả.

Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt việc thu hút vốn đầu tư vào phát triển ngành thương mại của tỉnh còn khó khăn; các doanh nghiệp của Bến Tre thực lực chưa mạnh; quy mô sản xuất hàng hoá của tỉnh và năng lực cạnh tranh hàng hoá chưa cao; thu nhập dân cư chưa thể đạt mức cao. Vì vậy, đây là phương án cao ngành thương mại khó thực hiện, có thể là phương án phấn đấu của ngành.

Phương án chọn:

Bến Tre thuộc vùng ĐBSCL, có lợi thế về kinh tế vườn và kinh tế biển. Trong những năm vừa qua, Bến Tre đã nỗ lực dựa vào những lợi thế sẵn có của mình để phát triển nền kinh tế. Tuy nhiên, nguồn lợi về nông nghiệp và thuỷ sản có giới hạn, khó có thể đạt tăng trưởng cao hơn. Do vậy, cần phải nỗ lực tìm kiếm giá trị gia tăng từ các ngành kinh tế của khu vực II và III. Hiện nay, Bến Tre đã thoát ra khỏi thế biệt lập, tuy nhiên, cần tính đến và cân đối cả các điều kiện khác trong nội tại nền kinh tế của tỉnh như: Khả năng đáp ứng khi nguồn vốn từ bên ngoài tỉnh đầu tư vào, cũng như khả năng đầu tư của chính Bến Tre cho ngành thương mại; mặt khác, phải tính đến những ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới và trong nước tác động vào tỉnh… Hơn thế nữa, trong 3 phương án thì phương án II, ngành thương mại góp phần thực hiện các chỉ tiêu kinh tế của tỉnh phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt, Nghị quyết Đại hội IX của Đảng bộ tỉnh Bến Tre và Chương trình phát triển xuất khẩu Bến Tre giai đoạn 2011-2015. Vì vậy, phương án II được đề xuất là phương án chọn.

III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2025

1. Định hướng phát triển các mặt hàng chủ lực, xây dựng phát triển thương hiệu mạnh, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường:

Phát triển các mặt hàng chủ lực, xây dựng phát triển thương hiệu mạnh để góp phần đạt mục tiêu, định hướng thúc đẩy tăng trưởng GDP, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đã định. Xuất phát từ thế mạnh của nền kinh tế nông nghiệp và kinh tế biển, định hướng phát triển các mặt hàng chủ lực của Bến Tre là: Một số sản phẩm của công nghiệp chế biến dừa và chế biến thuỷ sản bao gồm: Tôm, nghêu, sò, cua, cá; dừa trái, dầu dừa, cơm dừa nạo sấy, kẹo dừa, chỉ xơ dừa, thảm xơ dừa, lưới xơ dừa, than thiêu kết, thạch dừa. Ngoài ra, một số mặt hàng nông nghiệp mà Bến Tre có tiềm năng hoặc thế mạnh hơn đối với các tỉnh khác trong vùng là: Sầu riêng, nhãn, chôm chôm, bưởi da xanh và cây kiểng. Nhóm hàng công nghiệp mà Bến Tre có khả năng phát triển gồm: May mặc, giày dép, thực phẩm công nghệ, điện tử, linh kiện điện tử…

Cần tập trung theo hướng nâng dần quy mô sản xuất và tiêu thụ các mặt hàng nông sản, trong đó, cần đặc biệt quan tâm đến quy hoạch, đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu tập trung và khai thác nguồn nguyên liệu trên địa bàn một cách hợp lý, khoa học; mở rộng diện tích nuôi, trồng các mặt hàng chủ lực, đầu tư phương tiện đánh bắt xa bờ, nghiên cứu ngư trường đánh bắt tạo ra nguồn nguyên liệu ổn định, chất lượng cao.

Thực hiện đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm, không ngừng cải tiến và nâng cấp mặt hàng truyền thống, tích cực đầu tư, nâng cấp, đổi mới dây chuyền công nghệ trong chế biến hàng thuỷ sản, nông sản, gia công may mặc... giảm hàm lượng lao động giản đơn, nâng cao hàm lượng công nghệ, chất xám để tăng sức cạnh tranh của hàng hoá.

Khuyến khích các doanh nghiệp tiếp cận công nghệ tiên tiến; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm quốc tế theo tiêu chuẩn ISO, đạt tiêu chuẩn HACCP, code EU, SA 8000... khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đăng ký bản quyền, xây dựng thương hiệu để tránh hàng gian, hàng giả, tranh chấp thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước.

Cần khuyến khích mời gọi các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư sản xuất mặt hàng mới, có thị trường mà Bến Tre chưa sản xuất.

Tăng cường cải cách thủ tục hành chính, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm của bộ máy quản lý nhà nước, đơn giản hoá thủ tục hành chính để tiết kiệm thời gian và chi phí của doanh nghiệp; công khai các chính sách của địa phương và đảm bảo tính ổn định của chính sách; thường xuyên tiếp xúc với doanh nghiệp để xử lý những ách tắc…

2. Định hướng phát triển thị trường và cơ cấu các loại hình thương mại:

2.1. Phát triển hệ thống thị trường hàng công nghiệp tiêu dùng:

Ở đô thị:

- Tập trung đầu tư phát triển các loại hình thương mại hiện đại như: Trung tâm thương mại, siêu thị, trung tâm mua sắm, chuỗi cửa hàng tiện ích, cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng kinh doanh tổng hợp; các đường phố thương mại; các trung tâm bán buôn; các tổng đại lý, đại lý và nhượng quyền thương mại. Hình thành cấu trúc cân đối, hợp lý giữa các loại hình để hình thành mạng lưới thương mại với các trung tâm thương mại, siêu thị trung tâm mua sắm, ở thành phố, thị xã, thị trấn, khu dân cư có hạt nhân là các chợ, các dãy cửa hàng, đường phố thương mại.

- Phát triển các doanh nghiệp kinh doanh chuỗi để thu hút đầu tư từ nhiều nguồn cho mạng lưới phân phối hiện đại và thu hút nhiều hàng hoá có thương hiệu nổi tiếng, trong đó cần chú trọng phát triển các chuỗi liên kết theo phương thức nhượng quyền thương mại và các chuỗi liên kết tự nguyện của các siêu thị nhỏ, các cửa hàng chuyên doanh và cửa hàng tổng hợp để tăng cường năng lực cạnh tranh cho họ; có thể phát triển mạng lưới kinh doanh hàng vật liệu xây dựng, đồ dùng gia đình theo hướng phát triển kinh doanh theo chuỗi, quy mô lớn, tổng hợp.

- Trên các đường phố thương mại cần khuyến khích thương nhân cải tạo, nâng cấp cửa hàng, cửa hiệu để trở thành các cửa hàng tiện ích làm hạt nhân của các tụ điểm kinh doanh thương mại, đảm bảo các yêu cầu hiện đại và mang bản sắc văn hoá truyền thống.

- Đẩy mạnh thực hiện giao dịch thương mại qua mạng Internet, phương tiện truyền thông…

- Nâng cấp và đa dạng chức năng của các chợ bán buôn theo hướng thành lập công ty kinh doanh, áp dụng các phương thức giao dịch hiện đại.

- Chuyển đổi một số chợ bán lẻ ở đô thị thành các siêu thị tổng hợp hoặc chuyên doanh.

Ở nông thôn:

- Nâng cấp các chợ bán lẻ truyền thống; khuyến khích thương nhân hoạt động trong chợ thành lập liên minh mua bán hàng hoá.

- Phát triển các cửa hàng tiện ích.

2.2. Phát triển hệ thống thị trường tư liệu sản xuất:

- Phát triển đa dạng các trung tâm bán buôn theo hướng khuyến khích đấu thầu mua sắm với sản phẩm chủ yếu, khối lượng lớn và cung ứng hàng hoá trực tiếp để giảm chi phí.

- Phát triển các doanh nghiệp bán buôn quy mô lớn.

- Phát triển các trung tâm giao dịch nguyên, phụ liệu cho từng ngành sản phẩm.

- Khuyến khích và hỗ trợ giao dịch giữa các hệ thống theo mạng trên cơ sở thành lập sàn giao dịch điện tử và thị trường giao dịch kỳ hạn.

2.3. Phát triển hệ thống thị trường hàng nông sản:

- Khuyến khích phát triển một số chợ tổng hợp truyền thống thành các siêu thị tổng hợp, chuyên doanh.

- Thiết lập nguồn cung ứng hàng nông sản thực phẩm cho các siêu thị, chuỗi cửa hàng thực phẩm ở đô thị thông qua mối liên kết với các doanh nghiệp thương mại, HTX thương mại dịch vụ bằng việc ký kết hợp đồng, cung ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm với các nhà sản xuất ở nông thôn.

- Khuyến khích phát triển các loại hình liên kết bền vững thông qua hợp đồng kinh tế hai chiều trong việc tổ chức sản xuất và tiêu thụ nông sản với nông dân.

- Hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại, các nhà sản xuất tham gia thị trường giao dịch kỳ hạn.

2.4. Định hướng các loại hình bán buôn trên địa bàn tỉnh:

- Chợ bán buôn nông thuỷ sản: Thực hiện chức năng tập hợp và phân phối nông thuỷ sản, tổ chức bán buôn và một phần bán lẻ, cung cấp đầy đủ dịch vụ chuyên nghiệp cho các hoạt động giao dịch, mua bán, giao nhận, vận chuyển, phân loại, đóng gói, chế biến, bảo quản, thông tin, môi giới... Địa điểm trên trục giao thoa của các tuyến giao thông, phù hợp theo dòng lưu chuyển hàng hoá; cấu trúc gồm các khu chức năng chủ yếu, khu giao dịch, khu quản lý và dịch vụ, khu kho, khu kiểm dịch, khu đóng gói, chế biến.

- Trung tâm thương mại bán buôn tổng hợp hàng tiêu dùng: Khu vực bao gồm nhiều doanh nghiệp bán buôn, các nhà môi giới thương mại, kho của nhà sản xuất, của các nhà bán buôn... Cấu trúc bao gồm: Khu giao dịch, khu kho và khu dịch vụ.

2.5. Định hướng các loại hình bán lẻ:

- Trung tâm thương mại, siêu thị, trung tâm mua sắm: Tiêu chuẩn trung tâm thương mại, siêu thị tuân thủ theo Quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24 tháng 9 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) về việc ban hành Quy chế siêu thị, trung tâm thương mại; trung tâm mua sắm là một khu tập trung các hoạt động thương mại, có nhiều cửa hàng bán lẻ và dịch vụ tập trung.

- Cửa hàng tiện ích: Phát triển hệ thống cửa hàng tiện ích gắn với khu vực dân cư, phù hợp với xu hướng thoả mãn nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng ở thành thị và nông thôn đối với từng nhóm, mặt hàng cụ thể hoặc kinh doanh độc lập hoặc liên kết với nhau trong cùng một hệ thống bằng các hình thức đại lý, nhượng quyền kinh doanh. Các cửa hàng tiện ích có diện tích khoảng 100m2, phục vụ từ 10-24h/ngày, có vị trí kinh doanh ở khu dân cư tập trung dân cư, trên các trục đường đô thị, gần bệnh viện, bến xe và những nơi nhiều người qua lại; mặt hàng kinh doanh là các mặt hàng cần thiết cho tiêu dùng hàng ngày như thực phẩm công nghệ, đồ uống và hàng bách hoá công nghệ, tạp phẩm; phương thức kinh doanh là các kệ giá hàng tự chọn, thanh toán tại quầy thu ngân. Trong các cửa hàng tiện ích khuyến khích phát triển các cửa hàng chuyên doanh, chuyên kinh doanh một loại hàng hoá chính nào đó với chủng loại đa dạng, mặt hàng kinh doanh chính chiếm 90%.

- Chợ bán lẻ: Căn cứ vào những xu hướng, mục tiêu phát triển mạng lưới chợ, yêu cầu bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội, việc phát triển mạng lưới chợ theo hướng:

Xây dựng và phát triển mạng lưới chợ có quy mô phù hợp với quy mô dân số và nhu cầu tiêu dùng, tạo điều kiện phục vụ tốt nhu cầu của dân cư trong khu vực.

Phân bố mạng lưới chợ hợp lý, phù hợp với điều kiện giao thông; phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của các ngành kinh tế, tiêu chuẩn hoá, hiện đại hoá trong xây dựng và phát triển mạng lưới chợ; tuân thủ quy định của Nhà nước về phát triển nông thôn mới; đảm bảo khai thác chợ có hiệu quả.

2.6. Phát triển các đại lý:

Phát triển các đại lý uỷ quyền theo hướng chuyển từ chức năng bán buôn đơn thuần sang cung cấp dịch vụ là chính. Các nhà bán buôn, đại lý uỷ quyền sẽ chuyển trọng tâm từ mua bán, giao dịch, lợi nhuận ngắn hạn chuyển sang xây dựng thương hiệu dịch vụ phân phối hàng hoá. Nguồn lợi nhuận chính của các nhà đại lý sẽ từ chênh lệch giá mua bán hàng hoá chuyển sang giá trị dịch vụ gia tăng.

Tăng mức độ chuyên môn h và chuyên nghiệp hoá trong hệ thống đại lý như: Đại lý nghiệp vụ bán lẻ, đại lý kênh phân phối hàng đặc chủng; đại lý mua hàng qua bưu điện; đại lý mua hàng qua mạng…

2.7. Phát triển kinh doanh nhượng quyền thương mại:

Kinh nghiệm từ các nước phát triển trên thế giới cho thấy kinh doanh theo phương thức nhượng quyền có những ưu thế riêng so với các hình thức kinh doanh khác và rất phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhượng quyền thương mại sẽ làm cho cả người nhượng quyền và người được nhượng quyền cùng có lợi. Người nhận nhượng quyền được kinh doanh thương hiệu đã có tiếng không phải tốn chi phí và thời gian để tạo uy tín đối với khách hàng, nhanh chóng thu được lợi nhuận. Người nhượng quyền sẽ tiết kiệm được vốn đầu tư, nhân công cũng như chi phí quản lý, phí mở rộng mạng lưới.

Khuyến khích các doanh nghiệp Bến Tre có thương hiệu mạnh nhượng quyền thương mại, song họ cần đăng ký quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng quy trình quản lý và có những quy định nhượng quyền rõ ràng, chặt chẽ, chuyên nghiệp đảm bảo lợi ích các bên nhượng quyền và được nhượng quyền.

Khuyến khích các cửa hàng tiện ích nhận nhượng quyền kinh doanh các thương hiệu lớn, nổi tiếng của thế giới, Việt Nam và của Bến Tre.

3. Định hướng phát triển kinh doanh xuất - nhập khẩu:

Phát triển xuất khẩu của Bến Tre phải chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao, tăng sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần tỷ trọng hàng thô. Phát huy thế mạnh của các sản phẩm nông nghiệp, thuỷ - hải sản… những mặt hàng Bến Tre có thế mạnh về vùng nguyên liệu, các sản phẩm chủ lực đã có thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước. Nâng dần tỷ trọng của nhóm hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong cơ cấu hàng xuất khẩu.

Định hướng phát triển thị trường xuất khẩu:

Trên cơ sở trình độ sản xuất, năng lực kinh doanh xuất khẩu của các doanh nghiệp của tỉnh, khả năng tạo ra các sản phẩm xuất khẩu cũng như đánh giá, dự báo về triển vọng thị trường, định hướng phát triển thị trường xuất khẩu của Bến Tre là đa dạng h thị trường, giữ vững thị trường truyền thống, tích cực mở rộng thị trường mới, thị trường có nhu cầu và khả năng thanh toán cao, cụ thể:

+ Thị trường Trung Quốc: Hiện nay, Trung Quốc trở thành bạn hàng thương mại hàng đầu của Việt Nam. Kim ngạch buôn bán 2 chiều với Trung Quốc chiếm 12% tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam, tuy nhiên, chỉ chiếm 0,6% tổng kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc. Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc gồm: Dầu thô, hàng nông sản, thuỷ - hải sản, khoáng sản, hàng dệt may, giày dép. Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc: Sắt thép, phụ liệu may mặc, da giày, thiết bị linh kiện ô tô, xe máy, phân bón, xăng dầu.

Thị trường Trung Quốc không đòi hỏi chất lượng quá cao. Mặt khác, đang thực hiện AC-AFTA, cần tận dụng thời cơ. Các sản phẩm của Bến Tre có thể xuất khẩu vào thị trường này là kẹo dừa, dừa trái, than thiêu kết, chỉ xơ dừa, trái cây. Điều quan trọng là phải chú ý nâng cao chất lượng hàng hoá để có thể cạnh tranh được với các sản phẩm cùng loại của các nhà sản xuất khác bán ở thị trường Trung Quốc.

+ Thị trường Hoa Kỳ: Với dân số hơn 310 triệu người, thu nhập bình quân đầu người đạt 46.000USD, kim ngạch nhập khẩu 1,563 tỷ USD… Hoa Kỳ vẫn là thị trường quan trọng nhất của Việt Nam hiện tại cũng như tương lai. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, từ năm 2003 đến nay, Hoa Kỳ luôn là thị trường giữ vị trí quán quân về tiêu thụ hàng hoá có xuất xứ từ Việt Nam, luôn chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Những mặt hàng chủ yếu Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ là: Thuỷ sản, nông sản, rau quả, dầu thô, hàng mây, tre, cói, thảm, hàng dệt may, cao su, gỗ, linh kiện điện tử, giày dép, gốm sứ, thuỷ tinh. Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ cao nhất là dệt may, da giày, gỗ và thuỷ sản.

Các doanh nghiệp Việt Nam đã quen và hiểu hơn về thị trường Hoa Kỳ, từ đó đã có cách tiếp cận phù hợp và hiệu quả hơn. Nhiều doanh nghiệp Hoa Kỳ đã quan tâm hơn đến thị trường Việt Nam, đang có xu hướng chuyển sang mua hàng từ Việt Nam, thay vì từ các nước khác trong khu vực. Hơn 1 triệu người Việt đang sống tại Hoa Kỳ là thị trường đáng kể và là cầu nối rất tốt để đưa hàng Việt Nam sang thị trường này. Bến Tre cần nắm bắt được những tiềm năng và cơ hội để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này.

+ Thị trường Nhật Bản: Theo Cục Xúc tiến Thương mại - Bộ Công Thương, những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang Nhật Bản tập trung chủ yếu ở các nhóm hàng sau: Hàng dệt may, thuỷ sản, nông sản (cà phê, tiêu, điều, gạo, sắn), dầu thô, than đá, gỗ, rau quả, gốm sứ, giày dép, giấy… và nhập khẩu chủ yếu là sắt thép các loại, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác, ô tô, phương tiện vận tải khác và phụ tùng… Hiện nay, tôm, mực là hai mặt hàng thuỷ sản có kim ngạch xuất khẩu sang Nhật cao. Nhu cầu nhập khẩu tôm của Nhật Bản khoảng 1,9 tỷ USD/năm. Hàng thủ công mỹ nghệ mấy năm gần đây xuất khẩu sang Nhật Bản bắt đầu khởi sắc do nhu cầu tiêu dùng của người Nhật tăng. Trong thời gian tới, các doanh nghiệp Bến Tre cần tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đa dạng hoá sản phẩm, kiểu dáng, bao bì để giữ vững và phát triển xuất khẩu vào thị trường này.

+ Thị trường châu Âu: Tập trung là thị trường EU, đây là thị trường rộng lớn có nhu cầu rất phong phú và đa dạng, hàng hoá xuất khẩu của Bến Tre thâm nhập được vào một nước có thể đến tất cả các nước EU. Bến Tre có thể xuất khẩu sang EU những sản phẩm như: Thuỷ sản, cơm dừa nạo sấy, bột sữa dừa, chỉ xơ dừa, thảm xơ dừa, than hoạt tính, hàng may mặc, hàng thủ công mỹ nghệ, đây là những mặt hàng Bến Tre đã xuất sang EU nhưng còn hạn chế, trong thời gian tới cần tập trung tăng mạnh.

+ Thị trường Hàn Quốc: Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc còn tương đối khiêm tốn. Các mặt hàng xuất khẩu sang Hàn Quốc có nhiều tiềm năng là: Thuỷ sản, Việt Nam là nhà cung cấp thứ 4 nhóm hàng này cho Hàn Quốc sau EU, Nhật Bản và Hoa Kỳ. Các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu là chả cá đông lạnh, nghêu muối, mực khô, bạch tuộc đông lạnh, tôm đông lạnh… ngoài ra, giày dép, gỗ, hàng may mặc, thủ công mỹ nghệ. Các mặt hàng nông sản như gừng, trái cây, rau quả, bánh kẹo còn hạn chế do Việt Nam chưa cạnh tranh được với Trung Quốc ở thị trường này.

+ Thị trường Liên Bang Nga và các nước Đông Âu: Đây là thị trường truyền thống của Việt Nam từ nhiều năm nay, thị trường này dễ tính hơn thị trường EU, nhưng các doanh nghiệp Bến Tre cũng phải chú ý nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm vì thị trường này có sự hiện diện của hàng hoá Trung Quốc, giá rẻ, hàng hoá đa dạng. Các mặt hàng có thể xuất khẩu sang thị trường này là thuỷ hải sản, may mặc, thủ công mỹ nghệ, trái cây.

+ Thị trường ASEAN: Tỷ trọng buôn bán với các nước trong khối ASEAN luôn chiếm từ 20-25% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam, tuy nhiên tỷ trọng này có xu hướng giảm dần. Dù vậy, ASEAN vẫn là thị trường quan trọng của Việt Nam do gần gũi về mặt địa lý, cũng như có nhiều thuận lợi về hợp tác thương mại nội khối. Các mặt hàng chủ yếu xuất khẩu vào thị trường này vẫn sẽ là những hàng hoá tiêu dùng, gạo, thực phẩm, nông sản chế biến và một số mặt hàng điện, điện tử.

+ Thị trường các nước Trung Đông: Là thị trường sức tiêu thụ lớn, hàng hoá đòi hỏi chất lượng không cao, các doanh nghiệp Bến Tre cần chú trọng phát triển mạnh thị trường này. Các mặt hàng có thể vào thị trường này là gạo, nông sản khác, trái cây, thực phẩm.

+ Thị trường châu Phi: Cũng là thị trường tiềm năng, có nhu cầu tăng cao, dân số đông, nhu cầu tiêu thụ hàng hoá nhiều, đa dạng và các mặt hàng mà Việt Nam nói chung và Bến Tre nói riêng có thể xuất khẩu thì hầu hết là những mặt hàng ở các nước này cần. Tuy nhiên nhược điểm lớn là quãng đường xa, khả năng thanh toán khó khăn do đa số là các nước nghèo.

+ Thị trường châu Đại Dương: Tâp trung chủ yếu ở hai nước Australia và New Zealand, Bến Tre đã xuất khẩu được vào thị trường này. Các sản phẩm chủ yếu là: Dừa trái, cơm dừa nạo sấy, cơm dừa đông lạnh, hàng thủ công mỹ nghệ. Trong thời gian tới các doanh nghiệp phải nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm vì sản phẩm tương tự của Trung Quốc và các nước ASEAN trên thị trường này rất đa dạng và giá rẻ.

Định hướng nhập khẩu:

Định hướng trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 và sau 2020 nhập khẩu ưu tiên hàng đầu của Bến Tre là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, nhất là sản xuất hàng xuất khẩu và một số hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống nhân dân. Nhập khẩu phải phục vụ cho sản xuất phát triển, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế của tỉnh.

Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị, nguyên liệu dược, dược phẩm, nguyên liệu thuốc lá, nguyên phụ liệu hàng dệt may, nguyên liệu gia công hàng xuất khẩu cho nước ngoài và một số hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống nhân dân.

Thị trường nhập khẩu máy móc thiết bị tập trung vào các thị trường có công nghệ cao hoặc khá như: Hoa Kỳ, EU, Nhật, Hàn Quốc…

4. Định hướng phát triển các loại hình doanh nghiệp thương mại, các thành phần kinh tế tham gia hoạt động thương mại trên địa bàn:

- Phát triển doanh nghiệp thương mại có vốn Nhà nước phải có đủ năng lực và uy tín để giữ vai trò nòng cốt trong các hoạt động thương mại đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội vững chắc và đảm bảo lợi ích của người sản xuất, người tiêu dùng.

- Hợp tác xã thương mại là tổ chức kinh tế đang được khuyến khích phát triển. HTX có nhiều mô hình tổ chức đa dạng: HTX nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tín dụng, thương mại song đa số đều tham gia hoạt động thương mại. HTX được tổ chức trên nền tảng sở hữu tư nhân, liên kết với nhau theo nguyên tắc tự nguyện và cùng có lợi. Họ cùng nhau góp vốn, phối hợp với nhau trong sản xuất kinh doanh, tương trợ giúp đỡ nhau. HTX tham gia vào quá trình cung ứng vật tư, hàng công nghiệp tiêu dùng và tổ chức thu mua, tiêu thụ sản phẩm cho dân cư đô thị và nông thôn đáp ứng nhu cầu cho sản xuất và đời sống.

- Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp ngoài Nhà nước như các công ty cổ phần, TNHH, doanh nghiệp tư nhân nhằm tăng tính cạnh tranh trong các hoạt động thương mại trên địa bàn; khuyến khích thành lập các loại hình doanh nghiệp kinh doanh hàng nông sản với quy mô vừa và nhỏ tạo môi trường cạnh tranh cho các khu vực thị trường; khuyến khích việc thu hút các tập đoàn phân phối đa quốc gia đầu tư cơ sở kinh doanh hiện đại trên địa bàn tỉnh để tăng nhanh tỷ trọng thương mại hiện đại. Đồng thời kích thích các nhà phân phối trong tỉnh nâng cao khả năng cạnh tranh, học hỏi kinh nghiệm.

Các loại hình tổ chức thương mại của tỉnh được hình thành và phát triển theo mối liên kết kinh tế giữa sản xuất - lưu thông - tiêu dùng và giữa các khâu, các công đoạn của quá trình lưu thông:

- Hình thành và phát triển các công ty chuyên doanh bán buôn với hệ thống kho hàng, trung tâm phân phối quản trị theo phương pháp hiện đại, cung cấp hàng cho hệ thống bán lẻ.

- Hình thành và phát triển các công ty nuôi trồng chế biến - tiêu thụ trên cơ sở tạo ra chế độ đồng sở hữu giữa “các nhà” (nhà nông, nhà chế biến, nhà khoa học và nhà phân phối) để ổn định, mở rộng vùng nguyên liệu trên cơ sở ổn định và mở rộng tiêu thụ và liên kết chặt chẽ giữa các khâu nghiên cứu - nuôi trồng - chế biến - tiêu thụ, nhất là thể chế hoá mô hình công - nông - thương.

- Hình thành và phát triển các công ty thương mại đa ngành, tạo lập và quản lý các loại hình tổ chức, hoạt động phân phối khác nhau trên cùng địa bàn, thị trường và kinh doanh nhiều ngành hàng khác nhau nhằm thoả mãn mọi nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng.

- Khuyến khích phát triển và hình thành các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ, công ty con tạo điều kiện để phát triển các mối liên kết dọc bằng cách thiết lập hệ thống phân phối trực thuộc, mở các kênh phân phối ngoài hệ thống theo phương thức đại lý, nhượng quyền thương mại. Các mối liên kết trong và ngoài hệ thống, đặc biệt là các cửa hàng trực thuộc, các đại lý phải được thiết lập ổn định và lâu dài, tạo sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, là phương cách cơ bản để mở rộng lưu thông và là công cụ kinh tế để thực hiện quá trình điều tiết cung cầu và giá cả thị trường.

- Hình thành và phát triển các công ty thương mại chuyên doanh bán lẻ thông qua mô hình trung tâm thương mại, siêu thị, trung tâm mua sắm, chuỗi cửa hàng… liên kết các đơn vị sản xuất hàng tiêu dùng, công ty kinh doanh nhập khẩu, trang trại, các HTX, các chợ đầu mối thông qua hợp đồng mua bán và đơn đặt hàng lâu dài để tạo nguồn cung ứng ổn định, có khối lượng lớn, cung cấp thường xuyên cho các đơn vị bán lẻ trong hệ thống.

- Khuyến khích các cửa hàng bán lẻ của các hộ kinh doanh nâng cấp, đầu tư cơ sở vật chất tạo ra những cửa hàng khang trang với hàng hoá phong phú và đa dạng, thái độ giao tiếp văn minh lịch sự là cơ sở để phát triển mạng lưới bán lẻ rộng khắp thị trường để phục vụ tốt hơn người tiêu dùng. Thông qua các hình thức đại lý, hợp đồng mua bán ổn định, tham gia vào các chuỗi để kết nối các cửa hàng độc lập với các doanh nghiệp sản xuất, phân phối và xuất nhập khẩu. Các cửa hàng bán lẻ phải trở thành các điểm kinh doanh, bám sát sản xuất và tiêu dùng, mở rộng lưu thông, hướng họ kinh doanh văn minh, có trách nhiệm với người tiêu dùng và thông qua họ để thực hiện quá trình điều tiết cung cầu, giá cả thị trường. Khuyến khích họ tìm kiếm thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm tại địa phương, liên kết với nhau để hình thành các liên minh mua bán hàng hoá ở từng khu vực thị trường

5. Định hướng phát triển hệ thống phân phối hàng hoá hiện đại và truyền thống:

- Xây dựng hệ thống phân phối hàng hoá hiện đại như: Trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm, siêu thị tổng hợp và chuyên doanh, cửa hàng tiện ích...

- Kết hợp hài hoà giữa các hình thức mua sắm trực tiếp và thương mại điện tử, đẩy nhanh việc áp dụng công nghệ thông tin của doanh nghiệp thương mại, đặc biệt là trong các doanh nghiệp thương mại vừa và nhỏ.

- Khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại áp dụng những phương thức, công nghệ, thiết bị bán hàng tiên tiến.

- Nâng cấp, tổ chức lại các loại hình thương mại truyền thống thành các loại hình hiện đại; áp dụng phương thức kinh doanh theo chuỗi.

- Phát triển một số doanh nghiệp thương mại quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh trong nước và quốc tế; lựa chọn và hỗ trợ những doanh nghiệp có thương hiệu, năng lực cạnh tranh mạnh, công nghệ quản lý tiên tiến để phát triển mạng lưới theo hợp đồng nhượng quyền kinh doanh, phát triển bán hàng qua đại lý.

6. Định hướng phát triển giao dịch thương mại điện tử:

- Đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử, trong đó chú trọng hoàn thiện khung pháp lý liên quan tới việc thừa nhận giá trị pháp lý của chứng từ điện tử, các quy định kinh doanh dịch vụ thương mại điện tử, đảm bảo an toàn thông tin trong giao dịch thương mại điện tử; tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp và khuyến khích người tiêu dùng mua bán trực tuyến.

- Phát triển nguồn nhân lực về thương mại điện tử; phổ biến, tuyên truyền nâng cao nhận thức về lợi ích và kỹ năng ứng dụng thương mại điện tử cho các doanh nghiệp thuộc các ngành sản xuất, dịch vụ chính và người tiêu dùng; tăng cường đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về thương mại điện tử.

- Để giúp các doanh nghiệp, hộ sản xuất có thể tham gia giao dịch thương mại điện tử, Nhà nước cần thiết lập sàn thương mại điện tử, có trang bị đầy đủ phương tiện, máy móc, thiết bị với đường truyền Internet tốc độ cao, có tích hợp các giải pháp bảo mật và thanh toán… thuận tiện cho các doanh nghiệp thực hiện các nghiệp vụ giao dịch. Sàn giao dịch đảm bảo cho các doanh nghiệp, hộ sản xuất thực hiện thương mại điện tử dạng B2C (doanh nghiệp - khách hàng) và B2B (doanh nghiệp - doanh nghiệp) bao gồm bán lẻ, bán hàng cho nhà phân phối, bán hàng qua hệ thống đại lý.

- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về thương mại điện tử. Xây dựng lực lượng cán bộ có chuyên môn đáp ứng được công tác quản lý nhà nước về thương mại điện tử; xây dựng cơ chế, bộ máy phù hợp và triển khai hoạt động thống kê về thương mại điện tử và các hoạt động hỗ trợ thương mại điện tử; xây dựng các cơ sở dữ liệu sử dụng chung cho các lĩnh vực quản lý doanh nghiệp, quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, thống kê…

7. Định hướng phát triển các dịch vụ phụ trợ cho phân phối hàng hoá:

Các dịch vụ phụ trợ liên quan đến quá trình phân phối hàng hoá như: Bảo quản, lưu kho hàng hoá; lắp ráp, sắp xếp và phân loại hàng hoá có khối lượng lớn, bốc dỡ và phân phối lại đối với hàng hoá khối lượng nhỏ; dịch vụ giao hàng; dịch vụ bảo quản; các dịch vụ khuyến mãi do những người bán buôn thực hiện; các dịch vụ liên quan đến việc kinh doanh của người bán lẻ (chế biến phục vụ cho bán hàng); dịch vụ kho hàng và bãi đỗ xe.

Tổ chức các dịch vụ phụ trợ ở các khu thương mại bán buôn, chợ đầu mối bán buôn...

Chuyên nghiệp hoá các dịch vụ phụ trợ; khuyến khích và hỗ trợ các nhà cung cấp dịch vụ phụ trợ áp dụng các phương thức, thiết bị, công nghệ tiên tiến.

Tập trung h việc đầu tư các khu dịch vụ phụ trợ của ngành thương mại, đảm bảo cung ứng dịch vụ đầy đủ và thuận lợi, chi phí thấp cho các nhà phân phối; thu hút các nguồn lực theo hướng xã hội hoá vào phát triển các dịch vụ phụ trợ.

8. Định hướng phát triển xúc tiến thương mại:

- Phát triển đa dạng các hoạt động xúc tiến thương mại; xây dựng các hoạt động xúc tiến thương mại gắn với phát triển khách hàng, thị trường mục tiêu, trọng điểm, trước hết tập trung vào khách hàng, thị trường truyền thống, cho mặt hàng chủ lực, có thương hiệu, có sức cạnh tranh cao của tỉnh; từng bước phát triển khách hàng, thị trường mới cho các sản phẩm hàng hoá của tỉnh.

- Xây dựng hệ thống cung cấp thông tin, dự báo và định hướng về thị trường trong, ngoài tỉnh để phát triển thị trường và sản phẩm; thu thập, xử lý và cung cấp thông tin thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp công tác xúc tiến thương mại; tổ chức tập huấn nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác xúc tiến thương mại và bồi dưỡng kỹ năng tác nghiệp cho cán bộ quản lý và kinh doanh thương mại.

- Xây dựng, tổ chức thực hiện, quản lý chương trình thương hiệu địa phương; quảng bá hình ảnh địa phương, hình ảnh doanh nghiệp Bến Tre ở trong nước và ngoài nước; hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng, quảng bá và bảo vệ thương hiệu.

- Hình thành và khuyến khích phát triển các hiệp hội, làng nghề và các tổ chức xã hội nghề nghiệp khác trong việc hỗ trợ phát triển thương hiệu, mở rộng thị trường.

IV. QUY HOẠCH HỆ THỐNG HẠ TẦNG THƯƠNG MẠI CHỦ YẾU

1. Bố trí quy hoạch theo không gian thương mại:

Việc bố trí quy hoạch theo không gian thương mại trên địa bàn tỉnh phải đảm bảo vừa tập trung, vừa phân bố đều trên phạm vi lãnh thổ để tạo nên không gian thương mại mở rộng ngay từ các trung tâm vùng, các thị trấn, các chợ đầu mối. Bố trí quy hoạch hạ tầng thương mại trong phạm vi không gian lãnh thổ tỉnh Bến Tre ở ba cấp như sau:

- Cấp cơ sở: Các chợ xã làm hạt nhân phát triển kết hợp với các cửa hàng, điểm bán của các thành phần kinh tế tạo thành khu thương mại trung tâm xã, phường.

- Cấp huyện: Xây dựng các trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm siêu thị, chợ bán buôn, bán lẻ tập trung tại các thị xã, thị trấn theo quy hoạch phát triển hệ thống đô thị đến 2020, đồng thời kết hợp với việc tổ chức lại các đường phố thương mại.

- Cấp tỉnh: Xây dựng trung tâm thương mại, siêu thị, chợ bán buôn, bán lẻ tại TP.Bến Tre. Đây là các công trình thương mại có quy mô lớn nhất, có vai trò chủ đạo, là hạt nhân trong các hoạt động thương mại của toàn tỉnh, không chỉ chi phối đối với các huyện trong tỉnh, mà còn chi phối cả hoạt động thương mại ngoài tỉnh. Các công trình hạ tầng thương mại ở thành phố có điều kiện phát triển vì là nơi tập trung các cơ quan quản lý nhà nước của tỉnh; khu vực tập trung dân cư với mật độ cao, có thu nhập và trình độ tiêu dùng phát triển hơn so với các địa bàn khác trong tỉnh; là trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị của tỉnh; là đầu mối giao thông của tỉnh và đặc biệt có vị trí giao lưu quan trọng với thị trường các tỉnh vùng ĐBSCL và các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Mạng lưới thương mại theo 3 cấp độ này không tách rời nhau mà gắn kết chặt chẽ với nhau nhờ khả năng tổ chức thu mua nông sản, thực phẩm, thuỷ - hải sản. Từ các xã, huyện và phát luồng hàng công nghiệp tiêu dùng, nguyên liệu, nhiên liệu cho sản xuất, nuôi trồng… đến các cơ sở thương mại xã, huyện trong tỉnh. Các loại hình thương mại hiện đại và truyền thống vừa có sự liên kết với vừa có sự độc lập với nhau trong kinh doanh.

Như vậy, việc bố trí cơ cấu thương mại của tỉnh theo không gian nhằm phát huy năng lực nội sinh của nền kinh tế tỉnh và từng bước định hướng các hoạt động kinh tế đến thị trường ngoài tỉnh. Trong đó, không gian thương mại vừa bám theo sự phát triển của sản xuất, tiêu dùng theo quy hoạch phát triển đô thị của tỉnh đến năm 2020 vừa có thể phát huy được ảnh hưởng của nó đối với hoạt động kinh tế của tỉnh, nhất là đối với nông nghiệp và nông thôn.

2. Quy hoạch phát triển các loại hình thương mại chủ yếu:

2.1. Quy hoạch phát triển trung tâm thương mại:

Trung tâm thương mại là loại hình tổ chức kinh doanh thương mại hiện đại, đa chức năng, bao gồm tổ hợp các loại hình cửa hàng, cơ sở hoạt động dịch vụ, hội trường, phòng họp, văn phòng cho thuê… được bố trí tập trung, liên hoàn trong một hoặc một số công trình kiến trúc; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động kinh doanh thương nhân và thoả mãn nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ của khách hàng. Trung tâm thương mại thích hợp với các đô thị lớn, đông dân, sức mua lớn, trình độ tiêu dùng cao.

Từ nay đến năm 2020 quy hoạch phát triển 1 trung tâm hội chợ triển lãm tại TP.Bến Tre, 5 trung tâm thương mại tại TP.Bến Tre, huyện Ba Tri, Bình Đại, Mỏ Cày Nam. Các trung tâm thương mại của tỉnh phải đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định tại Quy chế siêu thị, trung tâm thương mại ban hành kèm theo Quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24 tháng 9 năm 2004 của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương). Sau năm 2020, trung tâm thương mại ở TP.Bến Tre (đô thị loại II) ở các đô thị loại IV (Ba Tri, Bình Đại, Mỏ Cày) phải được nâng cấp lên hạng II; các đô thị loại V như: Châu Thành, Phước Mỹ Trung, Chợ Lách, Thạnh Phú, Giồng Trôm sẽ xây dựng phát triển các trung tâm thương mại đạt chuẩn hạng III.

2.2. Quy hoạch phát triển trung tâm mua sắm:

Từ nay đến năm 2020, quy hoạch phát triển trung tâm mua sắm là một khu tập trung các hoạt động thương mại dịch vụ, có nhiều cửa hàng bán lẻ và dịch vụ bố trí tại một khu vực kiến trúc, cung cấp dịch vụ tổng hợp cho người tiêu dùng. Cấu trúc của trung tâm mua sắm bao gồm hạt nhân là cửa hàng bách hoá, siêu thị và các cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng đồ hiệu, cửa hàng ăn nhanh... và các dãy cửa hàng, có các dịch vụ phụ trợ cho bán lẻ, giải trí... và bãi đỗ xe.

Xây dựng phát triển 5 trung tâm mua sắm tại thị trấn trung tâm của các huyện Giồng Trôm, Châu Thành, Chợ Lách, Thạnh Phú, Mỏ Cày Bắc.

2.3. Quy hoạch phát triển siêu thị:

Siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng hoá của khách hàng.

Từ nay đến năm 2020, quy hoạch nâng cấp và đầu tư mới 23 siêu thị hạng I, hạng III, tổng hợp và chuyên doanh trên địa bàn toàn tỉnh. Các siêu thị phải đáp ứng tiêu chuẩn quy định tại Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24 tháng 9 năm 2004 của Bộ Thương mại. Sau năm 2020, các siêu thị ở trung tâm các đô thị loại IV như: Bình Đại, Ba Tri, Mỏ Cày sẽ nâng cấp lên chuẩn hạng II.

2.4. Quy hoạch phát triển hệ thống chợ:

Hiện tại, Bến Tre có mật độ chợ theo các xã, phường khá cao, bình quân 1 chợ/xã, bán kính phục vụ và quy mô dân số phục vụ khá hợp lý. Hơn nữa, khi điều kiện giao thông phát triển, năng lực vận tải hàng hoá được nâng lên, lực lượng bán hàng đến tận hộ gia đình ngày càng phát triển, khi đó khoảng cách giữa các chợ, giữa chợ với các hộ gia đình sẽ giảm đi tương đối và do đó với mật độ chợ hiện nay sẽ đảm bảo cho nhu cầu lưu thông hàng hoá trên địa bàn. Đồng thời cùng với sự phát triển của các loại hình thương mại khác như siêu thị, các cửa hàng tiện ích sẽ làm giảm nhu cầu mở chợ mới. Vì vậy, trong thời kỳ quy hoạch, đối với hệ thống chợ của tỉnh chủ yếu là nâng cấp cơ sở vật chất (bao hàm cả việc mở rộng quy mô chợ); xây mới chợ đã xuống cấp hoặc ở khu đô thị mới, ở các xã có nhu cầu mua bán mà chưa có chợ… theo tiêu chuẩn hiện hành; từng bước sắp xếp lại chợ tự phát, chợ tạm theo quy hoạch phát triển thương mại và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Theo định hướng bố trí không gian thương mại, các loại hình chợ cũng sẽ được quy hoạch phát triển phù hợp với quy mô phát triển các hoạt động thương mại ở mỗi cấp và yêu cầu kinh tế kỹ thuật của chợ, tuân thủ theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ; Nghị định số 114/2009/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ; Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10 tháng 9 năm 2009 của Bộ Xây dựng ban hành Tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn.

Đến năm 2020, xây mới 65 chợ, nâng cấp 51 chợ đạt chuẩn theo tiêu chí nông thôn mới, TCXDVN: 361 chợ - tiêu chuẩn thiết kế và các quy định khác của Nhà nước về phát triển chợ; sau năm 2020, định hướng mỗi đô thị loại IV của tỉnh có ít nhất 01 chợ hạng 1 tại trung tâm thị xã; ở trung tâm các thị trấn các huyện có ít nhất 1 chợ hạng 2; các chợ còn lại phải đạt tiêu chuẩn hạng 3.

3. Phân bố các loại hình thương mại chủ yếu theo đơn vị hành chính:

3.1. Thành phố Bến Tre:

Thành phố Bến Tre là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, du lịch và đầu mối giao lưu các hoạt động kinh tế trên địa bàn tỉnh, có diện tích tự nhiên 67,5km2; dân số 116.915 người, mật độ dân số là 1.733 người/km2, có 10 phường, 6 xã được xem là khu vực đô thị phát triển nhất trong tỉnh, có mật độ dân số cao, hiện trạng kết cấu hạ tầng thương mại được đầu tư khá hơn các huyện; các hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ phát triển tương đối nhanh, các hoạt động thương mại đang dần được tổ chức theo hướng văn minh hiện đại; thu nhập và trình độ tiêu dùng dân cư khá phát triển, nơi tập trung các cơ quan quản lý nhà nước của tỉnh.

TP.Bến Tre hiện có 2 siêu thị, 14 chợ được xây dựng kiên cố và chợ tạm.

Quy hoạch phát triển thương mại thành phố theo hướng sẽ phát triển các kênh phân phối hàng hoá truyền thống đan xen các kênh phân phối hàng hoá hiện đại và tỷ trọng kênh phân phối hàng hoá hiện đại ngày càng tăng lên.

Bảng 18.1: Tổng hợp quy hoạch các công trình thương mại TP.Bến Tre

TT

Danh mục

Địa chỉ

Phân hạng

Diện tích

(m2)

Vốn đầu tư TT (tr.đồng)

Xây dựng mới

Nâng cấp

I. GIAI ĐOẠN 2011-2015

58.074,2

348.000

04

02

1

TT.HCTL (GĐ 1)

P. Phú Tân

Hạng 2

30.000

100.000

X

 

2

TT thương mại

Phường 3

Hạng III

1.814,2

187.000

X

 

3

Siêu thị (GĐ 2)

Phường 4

Hạng I

20.000

50.000

 

X

4

Siêu thị

Phường 7

Hạng III

2.000

5.000

X

 

5

Chợ nông, thuỷ sản

Phường 8

B.buôn

1.260

3.000

 

X

6

Chợ Mỹ Thạnh An

Xã Mỹ Thạnh An

Hạng 3

3.000

3.000

X

 

II. GIAI ĐOẠN 2016-2020

 14.000

119.000

04

01

1

TTHCTL

P. Phú Tân

GĐ 2

 

50.000

 

X

2

TTTM (GĐ 1)

Xã Mỹ Thạnh An

Hạng III

10.000

60.000

X

 

3

Siêu thị CD

P. Phú Tân

Hạng III

1.000

3.000

X

 

4

Chợ Phường 6

Phường 6

Hạng 3

1.500

3.000

X

 

5

Chợ Tú Điền

P.Phú Khương

Hạng 3

1.500

3.000

X

 

Cộng

72.074,2

467.000

08

03

(Vốn đầu tư tối thiểu trong Quy hoạch được tính toán căn cứ theo Quyết định số 295/QĐ-BXD ngày 22 tháng 3 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc công bố tập suất vốn đầu tư xây dựng công trình năm 2010, điều tra thực tế của cơ quan tư vấn quy hoạch và các công trình đã có chủ đầu tư. Nội dung chi phí trong suất đầu tư chưa bao gồm: Chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, đánh giá tác động môi trường và xử lý các tác động của dự án đến môi trường, kiểm định và chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng, gia cố đặc biệt về nền móng công trình vv…)

Các loại hình thương mại được quy hoạch phát triển như sau:

+ Kênh phân phối hàng h truyền thống.

- Xây mới 03 chợ theo tiêu chuẩn chợ đô thị, từng bước nâng cấp các chợ tạm và x bỏ chợ tự phát. Các chợ có quy mô nhỏ ở các khu dân cư được từng bước chuyển đổi thành siêu thị hoặc cửa hàng tiện ích theo hướng tiện lợi, văn minh, hiện đại. Nâng cấp chợ bán buôn, bán lẻ nông thuỷ sản để tạo điều kiện cho nông dân tập kết nông sản, trái cây (dừa, cam, quýt, bưởi da xanh…), hàng thuỷ sản để phân phối cho hệ thống chợ của thành phố, các huyện và bán buôn ngoài tỉnh. Sau năm 2020, chuyển chợ bán buôn nông - thuỷ sản ra ngoại vi thành phố và thuận tiện giao thông thuỷ bộ.

- Phát triển chợ chiều, chợ đêm để phục vụ mua sắm của người tiêu dùng và nhu cầu khách du lịch và khách vãng lai.

+ Kênh phân phối hàng hoá hiện đại.

- Xây dựng trung tâm hội chợ - triển lãm tổ chức theo hướng đa chức năng, bao gồm: Tổ chức các sự kiện lớn của tỉnh, tổ chức hội chợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm, doanh nghiệp và địa phương; trung tâm hội thảo; trung tâm giao dịch kêu gọi đầu tư, thương mại, dịch vụ; tổ chức giao lưu kinh tế trong và ngoài nước, cung cấp dịch vụ vui chơi giải trí, nơi dừng chân mua sắm của các đoàn khách du lịch. Xây dựng trung tâm thương mại sau năm 2015.

- Xây dựng siêu thị kinh doanh tổng hợp hạng I, III để đảm nhiệm chức năng kinh doanh hàng hoá và kinh doanh các loại hình dịch vụ với hàng hoá phong phú, chất lượng cao, phương thức kinh doanh hiện đại phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của dân cư.

- Định hướng đến năm 2025, đầu tư xây dựng trung tâm thương mại tối thiểu hạng II tại TP.Bến Tre tạo điểm nhấn làm đầu tàu lôi kéo hoạt động thương mại trên địa bàn phát triển và thu hút dân cư của các tỉnh lân cận.

- Khuyến khích, hướng dẫn các cửa hàng tạp hoá nâng cấp chuyển đổi thành các cửa hàng tiện ích phân bố hợp lý trên các tuyến đường nội ô thành phố; phấn đấu có 150-200 cửa hàng tiện ích trong giai đoạn quy hoạch.

3.2. Huyện Giồng Trôm:

Giồng Trôm có diện tích tự nhiên là 313,2km2, dân số là 168.370 người với mật độ 538 người/km2, 01 thị trấn, 21 xã. Giồng Trôm cách TP.Bến Tre 19km, nằm trên đoạn giữa trục đường tỉnh 885 nối TP.Bến Tre với huyện Ba Tri. Đồng thời, nằm giữa 2 tuyến sông lớn Ba Lai - Hàm Luông, thuận lợi cho phát triển thương mại - dịch vụ. Ưu thế kinh tế của huyện là kinh tế vườn trên nền vườn dừa, sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Trong những năm tới, huyện có khả năng xây dựng khu đô thị thương mại thị trấn Giồng Trôm, Cụm công nghiệp Phong Nẫm và Khu công nghiệp Phước Long, Giồng Trôm sẽ phát triển nhanh các mặt hàng sơ chế và chế biến từ trái dừa, ca cao, nông sản khác phục vụ cho chế biến hàng xuất khẩu. Ngoài ra, phát triển hàng thủ công mỹ nghệ từ sản phẩm dừa, kìm kéo; các làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc là đặc sản nổi tiếng và các sản phẩm nông nghiệp khác.

Hiện nay, huyện đang có 19 chợ trong đó 5 chợ được xây kiên cố, 14 chợ được xây bán kiên cố.

Các loại hình thương mại của huyện Giồng Trôm được quy hoạch sau:

+ Phát triển kênh phân phối hàng hoá truyền thống:

- Nâng cấp và xây dựng mới 12 chợ truyền thống. Chợ xây mới phải đạt diện tích tối thiểu theo quy định; từng bước nâng cấp các chợ tạm và xoá bỏ chợ tự phát. Bảng 18.2: Tổng hợp quy hoạch các công trình thương mại H.Giồng Trôm

TT

Danh mục

Địa chỉ

Phân hạng

Diện tích (m2)

Vốn đầu tư TT (tr.đồng)

Xây dựng mới

Nâng cấp

I. GIAI ĐOẠN 2011-2015

45.343

78.000

06

03

1

TT mua sắm (GĐ 1)

TT. Giồng Trôm

Hạng 3

10.000

40.000

X

 

2

Chợ thị trấn

TT. Giồng Trôm

Hạng 2

5.500

3.000

 

X

3

Chợ Bến Tranh

Xã Phước Long

Hạng 3

4.000

3.000

 

X

4

Chợ Linh Phụng

Xã Long Mỹ

Hạng 3

3.000

5.000

X

 

5

Chợ Châu Bình

Xã Châu Bình

Hạng 3

 3.000

1.500

 

X

6

Chợ Hưng Phong

Xã Hưng Phong

Hạng 3

3.000

3.500

X

 

7

Chợ Sơn Đốc

Xã Hưng Nhượng

Hạng 3

4.500

8.000

X

 

8

Chợ Phú Điền

Xã Thuận Điền

Hạng 3

5.043

6.000

X

 

9

Chợ Lương Quới

Xã Lương Quới

Hạng 3

7.300

8.000

X

 

II. GIAI ĐOẠN 2016-2020 

19.000

62.000

03

05

1

TT mua sắm

TT. Giồng Trôm

GĐ 2

 

20.000

 

X

2

Siêu thị chuyên doanh

TT. Giồng Trôm

Hạng III

1.000

20.000

X

 

3

Siêu thị Phước Long

Xã Phước Long

Hạng III

2.000

6.000

X

 

4

Siêu thị Mỹ Thạnh

Xã Mỹ Thạnh

Hạng III

2.000

6.000

X

 

5

Chợ Châu Phú

Xã Châu Hoà

Hạng 3

3.000

2.000

 

X

6

Chợ Mới

Xã Tân Thanh

Hạng 3

 3.000

2.000

 

X

7

Chợ Châu Thới

Xã Châu Hoà

Hạng 3

 3.000

2.000

 

X

8

Chợ Ngã Ba Hưng Lễ

Xã Hưng Lễ

Hạng 3

5.000

4.000

 

X

 Cộng

63.343

140.000

09

08

+ Phát triển kênh phân phối hàng hoá hiện đại:

- Xây dựng mới 01 trung tâm mua sắm tại thị trấn Giồng Trôm, diện tích 01ha, đảm nhiệm đa chức năng cả về kinh doanh hàng hoá và kinh doanh các loại hình dịch vụ.

- Xây dựng 03 siêu thị kinh doanh tổng hợp, chuyên doanh; diện tích mỗi siêu thị tổng hợp 2.000m2, siêu thị chuyên doanh 1.000m2.

- Khuyến khích, hướng dẫn một số cửa hàng của hộ kinh doanh bán lẻ chuyển đổi thành cửa hàng tiện ích trên địa bàn huyện; phấn đấu có 60-80 cửa hàng tiện ích trong giai đoạn quy hoạch.

3.3. Huyện Ba Tri:

Ba Tri có diện tích tự nhiên 358,4km2, dân số 187.946 người với mật độ 524 người/km2. Ba Tri có 01 thị trấn, 23 xã, thị trấn Ba Tri được quy hoạch lên thị xã, đô thị loại IV trong giai đoạn 2011-2015. Ba Tri có vị trí nằm trên tuyến giao thông trục chính của tỉnh ra biển Đông và là trung tâm của 3 huyện ven biển, có tài nguyên đất đai, biển khá phong phú và đa dạng. Đây là điều kiện thuận lợi để huyện phát triển đồng bộ các khu vực kinh tế và là nơi canh tác lương thực kết hợp với chăn nuôi gia súc có quy mô lớn nhất tỉnh. Huyện còn quỹ đất nông nghiệp khá dồi dào, có khả năng bố trí mặt bằng sản xuất, hình thành các vùng chuyên canh nông sản lớn, tạo ra hàng hoá chất lượng cao và tập trung, có khả năng thâm nhập thị trường các đô thị lớn.

Ngoài thế mạnh về kinh tế biển và sản xuất lương thực, Ba Tri còn có điều kiện phát triển công nghiệp chế biến thuỷ sản, du lịch sinh thái. Ba Tri quy hoạch xây dựng 02 cụm công nghiệp: Thị trấn Ba Tri - An Đức, và Cụm công nghiệp An Hoà Tây.

Ba Tri hiện có 31 chợ trong đó có 02 chợ hạng 2, có 22 chợ được xây kiên cố, 04 chợ bán kiên cố và 05 chợ tạm…

Các loại hình thương mại của huyện Ba Tri được quy hoạch như sau:

+ Kênh phân phối hàng hoá truyền thống:

- Nâng cấp, xây dựng mới 10 chợ truyền thống. Chợ xây mới phải đạt diện tích tối thiểu theo quy định, chợ nâng cấp tạm thời giữ diện tích hiện hữu, mở rộng diện tích đủ tiêu chuẩn quy định khi có điều kiện; từng bước nâng cấp các chợ tạm và xoá bỏ chợ tự phát.

- Phát triển các chợ bán buôn nông sản, thuỷ sản: Xây dựng chợ bán buôn hàng nông thuỷ sản tại xã Tân Thuỷ.

+ Phát triển kênh phân phối hàng hoá hiện đại:

- Xây dựng 01 trung tâm thương mại tại thị trấn Ba Tri, diện tích 01ha để đảm nhiệm chức năng kinh doanh hàng hoá và kinh doanh các loại hình dịch vụ theo tiêu chuẩn hiện hành. Các điều kiện thuận lợi cho phát triển của trung tâm thương mại là:

Trung tâm thương mại nằm trên địa bàn thị trấn Ba Tri, có vị trí trung tâm cù lao Bảo, hiện nay, Ba Tri đã nối liền với Bình Đại, Thạnh Phú qua tuyến đường huyện 14 (đường Bắc Nam của huyện) chạy từ cống đập Ba Lai qua thị trấn Ba Tri đến Bến phà An Đức - Mỹ An cùng với đường tỉnh 885 đi về TP.Bến Tre, thị trấn Ba Tri sẽ có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội vùng cù lao Bảo và cả vùng duyên hải phía Đông của tỉnh Bến Tre và là đô thị vùng kinh tế biển của tỉnh.

Trong khu vực có các cụm công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ sản cùng với các ngành tiểu thủ công nghiệp, vận tải thuỷ bộ đã được sớm hình thành và phát triển các tiềm năng sản xuất và xuất ra khỏi huyện một số mặt sản phẩm như: Mía, củ hành, dừa, chuối, gia súc, gia cầm, trứng, cá, tôm, lúa gạo, muối và các loại thuỷ sản khác… Các mặt hàng nhập về Ba Tri là hàng thực phẩm công nghệ, đồ dùng gia đình, hàng kim khí điện máy, chất đốt, vật tư máy móc, gỗ, sắt thép, xi măng…

Ba Tri còn là một trọng điểm lúa gạo của tỉnh, một nền sản xuất nông - diêm nghiệp và có các làng nghề sản phẩm mây tre tập trung, sản xuất rượu Phú Lễ…

Bảng 18.3: Tổng hợp quy hoạch các công trình thương mại Huyện Ba Tri

TT

Danh mục

Địa chỉ

Phân loại

Diện tích

(m2)

Vốn đầu tư TT (tr.đồng)

Xây dựng mới

Nâng cấp

I. GIAI ĐOẠN 2011-2015 

33.780

76.000

07

03

1

TTTM (giai đoạn 1)

Thị trấn Ba Tri

Hạng III

10.000

50.000

X

 

2

Siêu thị Việt Sinh - An Bình

TT. Ba Tri

Hạng III

2.000

5.000

X

 

3

Chợ bán buôn nông thuỷ sản

Xã Tân Thuỷ

Hạng 3

3.000

4.000

X

 

4

Chợ thị trấn

Thị trấn Ba Tri

Hạng 2

780

2.000

 

X

5

Chợ Tân Bình

Xã Tân Thuỷ

Hạng 3

3.000

3.000

X

 

6

Chợ Tân Thành

Xã Tân Thuỷ

Hạng 3

3.000

 3.000

X

 

7

Chợ An Hoà Tây

Xã An Hoà Tây

Hạng 3

3.000

3.000

X

 

8

Chợ Giồng Quéo

XAn Ngãi Tây

Hạng 3

 3.000

1.500

 

X

9

Chợ Tân Hưng

Xã Tân Hưng

Hạng 3

 3.000

1.500

 

X

10

Chợ Tiệm Tôm

Xã An Thuỷ

Hạng 3

3.000

3.000

X

 

II. GIAI ĐOẠN 2016-2020 

11.000

50.000

03

03

1

TTTM (giai đoạn 2)

Thị trấn Ba Tri

Hạng III

 

30.000

 

X

2

Siêu thị tổng hợp

Xã An Ngãi Trung

Hạng III

2.000

6.000

X

 

3

Siêu thị tổng hợp

Xã Tân Xuân

Hạng III

2.000

6.000

X

 

4

Siêu thị CD Tiệm Tôm

Xã An Thuỷ

Hạng III

1.000

3.000

X

 

5

Chợ An Hoà

Xã An Bình Tây

Hạng 3

3.000

2.500

 

X

6

Chợ Mỹ Lợi

Xã Mỹ Thạnh

Hạng 3

3.000

2.500

 

X

 Cộng

44.780

126.000

10

06

- Xây dựng các siêu thị kinh doanh tổng hợp tại: Xã An Ngãi Trung, Tân Xuân, An Thuỷ, khu đô thị Việt Sinh - An Bình; diện tích mỗi siêu thị tổng hợp 2.000m2, siêu thị chuyên doanh 1.000m2.

- Khuyến khích, hướng dẫn tổ chức chuyển đổi một số cửa hàng của hộ kinh doanh bán lẻ thành cửa hàng tiện ích trên địa bàn huyện. Phấn đấu có 80-100 cửa hàng tiện ích trong giai đoạn quy hoạch.

3.4. Huyện Mỏ Cày Bắc:

Mỏ Cày Bắc có diện tích tự nhiên là 158 km2, với dân số 109.724 người và mật độ 694 người/km2, có 13 xã (Phước Mỹ Trung sẽ là thị trấn của huyện), là điểm đầu giao lưu giữa Chợ Lách, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú với TP.Bến Tre, có các tuyến đường bộ quan trọng như: Quốc lộ 57 và quốc lộ 60 chạy qua. Huyện có tiềm năng sản xuất dừa, trái cây, các hàng nông sản khác và chăn nuôi, cung ứng gia súc, gia cầm. Huyện có Cụm công nghiệp Khánh Thạnh Tân, Khu công nghiệp Thanh Tân đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết, cụm công nghiệp may mặc và nhà ở công nhân được ký biên bản ghi nhớ.

Bảng 18.4: Tổng hợp quy hoạch các công trình thương mại huyện Mỏ Cày Bắc

TT

Danh mục

Địa chỉ

Phân loại

Diện tích

(m2)

Vốn đầu tư TT (tr.đồng)

Xây dựng mới

Nâng cấp

 I. GIAI ĐOẠN 2011-2015 

47.228

40.500

09

02

1

Siêu thị

TT. Phước Mỹ Trung

Hạng III

2.000

5.000

X

 

2

Chợ Ba Vát

Phước Mỹ Trung

Hạng 2

13.000

 10.000

X

 

3

Chợ Bang Tra

Xã Nhuận Phú Tân

Hạng 3

5.200

 3.000

 

X

4

Chợ Xếp

Xã Tân Thành Bình

Hạng 3

2.820

 3.000

X

 

5

Chợ Trường Thịnh

Xã Thạnh Ngãi

Hạng 3

3.500

3.000

X

 

6

Chợ Giồng Keo

Xã Tân Bình

Hạng 3

5.000

3.000

X

 

7

Chợ Tân Phú

Xã Tân Phú Tây

Hạng 3

3.600

3.000

X

 

8

Chợ Thành An

Xã Thnh An

Hạng 3

3.108

3.000

X

 

9

Chợ Tích Phúc

Xã Khánh Thạnh Tân

Hạng 3

3.000

3.000

X

 

10

Chợ Tân Thông 2

Xã Thanh Tân

Hạng 3

3.000

1.500

 

X

11

Chợ Giồng Dầu

Xã Tân Thanh Tây

Hạng 3

3.000

3.000

X

 

II. GIAI ĐOẠN 2016-2020 

 20.000

70.000

05

0

1

TT mua sắm

Phước Mỹ Trung

GĐ 1

10.000

50.000

X

 

2

Siêu thị

Xã Thanh Tân

Hạng III

2.000

6.000

X

 

3

Siêu thị

Xã Nhuận Phú Tân

Hạng III

2.000

6.000

X

 

4

Chợ Hưng Khánh Trung A

Xã Hưng Khánh Trung A

Hạng 3

3.000

4.000

X

 

5

Chợ Hoà Lộc

Xã Hoà Lộc

Hạng 3

3.000

4.000

X

 

 Cộng

67.228

110.500

14

02

Mỏ Cày Bắc hiện có 17 chợ, trong đó 2 chợ hạng 2, có 5 chợ được xây dựng bán kiên cố còn lại là chợ tạm…

Các loại hình thương mại của huyện Mỏ Cày Bắc được quy hoạch phát triển như sau:

+ Kênh phân phối hàng hoá truyền thống:

- Nâng cấp, xây dựng mới 12 chợ thị trấn, xã. Chợ xây mới phải đạt diện tích tối thiểu theo quy định, chợ nâng cấp tạm thời giữ diện tích hiện hữu, mở rộng diện tích đủ tiêu chuẩn quy định khi có điều kiện; từng bước nâng cấp các chợ tạm và xoá bỏ chợ tự phát.

+ Kênh phân phối hàng h hiện đại:

- Xây dựng mới 01 trung tâm mua sắm tại thị trấn huyện có diện tích 01ha. Trung tâm đảm nhiệm đa chức năng cả về kinh doanh hàng hoá và kinh doanh các loại hình dịch vụ phục vụ đời sống của dân cư địa phương. Trung tâm nằm trên đường tỉnh 882, nối TP.Bến Tre với huyện Chợ Lách qua sông Cổ Chiên đến tỉnh Vĩnh Long.

- Xây dựng các siêu thị kinh doanh tổng hợp tại Phước Mỹ Trung, xã Nhuận Phú Tân và xã Thanh Tân diện tích 2.000m2/siêu thị.

- Khuyến khích, hướng dẫn tổ chức chuyển đổi một số cửa hàng của hộ kinh doanh bán lẻ thành cửa hàng tiện ích trên địa bàn huyện. Phấn đấu có 60-80 cửa hàng tiện ích trong giai đoạn quy hoạch.

3.5. Huyện Mỏ Cày Nam:

Mỏ Cày Nam có diện tích tự nhiên là 222,1km2, với dân số 147.054 người và mật độ dân số 662 người/km201 thị trấn và 16 xã. Giai đoạn 2011-2015 thị trấn Mỏ Cày được dự kiến sẽ trở thành đô thị loại IV. Huyện là trung tâm kinh tế - văn hoá - xã hội của vùng cù lao Minh bao gồm 4 huyện: Chợ Lách, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và được xem là khu đô thị lớn nhất của cù lao Minh, là điểm đầu giao lưu giữa Mỏ Cày Bắc, Thạnh Phú với TP.Bến Tre cũng như các tỉnh phía Nam sông Cổ Chiên (Vĩnh Long - Trà Vinh) thông qua 2 tuyến đường trục quan trọng quốc lộ 57 và quốc lộ 60.

Trong khu vực có các cụm công nghiệp: An Thạnh, Khu công nghiệp Thành Thới B sẽ được xây dựng. Huyện có tiềm năng sản xuất hàng nông sản: Dừa, trái cây và chăn nuôi, cung ứng gia súc, gia cầm… nhất là chế biến các sản phẩm từ dừa để xuất khẩu như: Than thiêu kết, cơm dừa, chỉ xơ dừa phát triển tương đối mạnh.

Huyện hiện có 17 chợ trong đó có 01 chợ hạng 1, có 07 chợ được xây dựng kiên cố, còn lại là chợ được xây dựng bán kiên cố và chợ tạm.

Các loại hình thương mại của huyện Mỏ Cày Nam được quy hoạch phát triển như sau:

+ Kênh phân phối hàng hoá truyền thống:

- Nâng cấp, xây dựng mới 11 chợ thị trấn, xã. Chợ xây mới phải đạt diện tích tối thiểu theo quy định, chợ nâng cấp tạm thời giữ diện tích hiện hữu, mở rộng diện tích đủ tiêu chuẩn quy định khi có điều kiện; từng bước nâng cấp các chợ tạm và xoá bỏ chợ tự phát.

Bảng 18.5: Tổng hợp quy hoạch các công trình thương mại huyện Mỏ Cày Nam

STT

Danh mục

Địa chỉ

Phân loại

Diện tích

(m2)

Vốn đầu tư TT (tr.đồng)

Xây dựng mới

Nâng cấp

 I. GIAI ĐOẠN 2011-2015 

37.574

70.000

06

03

1

TT thương mại (GĐ 1)

Thị trấn Mỏ Cày

Hạng III

2.000

50.000

X

 

2

Chợ Bình Khánh Đông

Xã Bình Khánh Đông

Hạng 3

 3.000

 1.500

 

X

3

Chợ Định Thuỷ

Xã Định Thuỷ

Hạng 3

6.960

 3.000

X

 

4

Chợ Thơm

Xã An Thạnh

Hạng 3

 3.000

 3.000

X

 

5

Chợ Cái Quao

Xã An Định

Hạng 3

2.608

3.000

X

 

6

Chợ An Bình

Xã An Định

Hạng 3

2.067

3.000

X

 

7

Chợ Vàm Đồn

Xã Hương Mỹ

Hạng 3

3.000

3.000

X

 

8

Chợ Cầu Móng

Xã Hương Mỹ

Hạng 3

2.630

1.500

 

X

9

Chợ thị trấn

Thị trấn

Hạng 1

4.309

2.000

 

X

II. GIAI ĐOẠN 2016-2020 

13.000

54.000

05

1

1

TTTM (GĐ 2)

Thị trấn Mỏ Cày

Hạng III

10.000

30.000

 

X

2

Siêu thị

Xã Hương Mỹ

Hạng III

2.000

6.000

X

 

3

Siêu thị

Xã An Thạnh

Hạng III

2.000

6.000

X

 

4

Chợ Thành Thới B

Xã Thành Thới B

Hạng 3

3.000

4.000

X

 

5

Chợ Kênh Tân Trung

Xã Tân Trung

Hạng 3

3.000

4.000

X

 

5

Chợ Kênh Ngang

Xã Tân Hội

Hạng 3

3.000

4.000

X

 

 Cộng

50.574

124.000

11

04

+ Kênh phân phối hàng h hiện đại:

- Xây dựng mới 01 trung tâm thương mại nằm ở thị trấn Mỏ Cày, diện tích 01ha. Đây là trung tâm thương mại có quy mô đạt chuẩn hạng III. Trung tâm đảm nhiệm đa chức năng cả về kinh doanh hàng hoá và kinh doanh các loại hình dịch vụ, phục vụ cho phát triển sản xuất, đời sống sinh hoạt của dân cư địa phương, đồng thời phục vụ nhu cầu cao của các huyện Thạnh Phú, Mỏ Cày Bắc. Các điều kiện thuận lợi cho phát triển của trung tâm thương mại này là: Trung tâm nằm trên giao lộ của các tuyến quốc lộ 60, quốc lộ 57, trong đó quốc lộ 60 là trục hành lang ven biển của vùng ĐBSCL và quốc lộ 57 là trục xuyên cù lao Minh nối từ huyện Chợ Lách (giáp tỉnh Vĩnh Long) qua Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú đến biển Đông; giao thông thuỷ cũng có điều kiện thuận lợi, là đầu mối giao lưu buôn bán, trung chuyển hàng hoá từ ĐBSCL đi TP.Hồ Chí Minh và ngược lại.

- Xây dựng siêu thị kinh doanh tổng hợp tại xã Hương Mỹ, xã An Thạnh diện tích 2.000m2.

- Khuyến khích, hướng dẫn tổ chức chuyển đổi một số cửa hàng của hộ kinh doanh bán lẻ thành cửa hàng tiện ích trên địa bàn huyện. Phấn đấu có 80-100 cửa hàng tiện ích trong giai đoạn quy hoạch.

3.6. Huyện Châu Thành:

Bảng 18.6: Tổng hợp quy hoạch các công trình thương mại H.Châu Thành

TT

Danh mục

Địa chỉ

Phân loại

Diện tích

(m2)

Vốn đầu tư TT (tr.đồng)

Xây dựng mới

Nâng cấp

I. GIAI ĐOẠN 2011-2015

22.000

22.000

04

04

1

Siêu thị

Xã Giao Long

Hạng III

2.000

5.000

X

 

2

Siêu thị

Xã Tiên Thuỷ

Hạng III

2.000

5.000

X

 

3

Chợ Qưới Thành

Xã Qưới Thành

Hạng 3

3.000

1.500

 

X

4

Chợ Hữu Định

Xã Hữu Định

Hạng 3

3.000

3.000

X

 

5

Chợ Tường Đa

Xã Tường Đa

Hạng 3

3.000

1.500

 

X

6

Chợ An Hiệp

Xã An Hiệp

Hạng 3

3.000

1.500

 

X

7

Chợ Lộc Sơn

Xã Phú An Hoà

Hạng 3

 3.000

1.500

 

X

8

Chợ Tân Huề Đông

Tân Thạch

Hạng 3

3.000

3.000

X

 

II. GIAI ĐOẠN 2016-2020

37.000

76.000

05

05

1

TT mua sắm (GĐ 1)

TT. Châu Thành

Hạng 3

10.000

50.000

X

 

2

Chợ Qưới Sơn

Xã Qưới Sơn

Hạng 3

 3.000

2.000

 

X

3

Chợ Giao Long

Xã Giao Long

Hạng 3

 3.000

2.000

 

X

4

Chợ Tân Bắc

Tân Phú

Hạng 3

 3.000

2.000

 

X

5

Chợ Phú Túc

Phú Túc

Hạng 3

3.000

2.000

 

X

6

Chợ Cái Nứa

Sơn Hoà

Hạng 3

3.000

2.000

 

X

7

Chợ Giao Hoà

Xã Giao Hoà

Hạng 3

3.000

4.000

X

 

8

Chợ Phước Thạnh

Xã Phước Thạnh

Hạng 3

3.000

4.000

X

 

9

Chợ An Phước

Xã An Phước

Hạng 3

3.000

4.000

X

 

10

Chợ An Khánh

Xã An Khánh

Hạng 3

3.000

4.000

X

 

 Cộng

59.000

98.000

09

09

Châu Thành có diện tích tự nhiên 228,7km2, dân số 157.367 người với mật độ 688 người/km2, có 01 thị trấn và 22 xã. Châu Thành là huyện vùng ven TP.Bến Tre, có cự ly gần với các tỉnh lân cận, thuận tiện giao thông cả đường bộ và đường thuỷ. Châu Thành có nhiều thuận lợi về phát triển thương mại, du lịch và các dịch vụ khác. Châu Thành có hệ thống các cơ sở kinh tế công nghiệp, dịch vụ du lịch đã hình thành. Các khu công nghiệp quy mô lớn của Châu Thành như: Giao Long, An Hiệp, Cụm công nghiệp An Hoá, Tiên Thuỷ có điều kiện phát triển nhanh hơn so với các huyện khác trong tỉnh.

Châu Thành hiện có 23 chợ, trong đó có 15 chợ được xây dựng kiên cố, 6 chợ xây dựng bán kiên cố, 2 chợ tạm. Các loại hình thương mại của huyện Châu Thành được dự kiến quy hoạch phát triển như sau:

+ Phát triển kênh phân phối hàng hoá truyền thống:

- Xây dựng mới, nâng cấp 15 chợ. Chợ xây mới phải đạt diện tích tối thiểu theo quy định, chợ nâng cấp tạm thời giữ diện tích hiện hữu, mở rộng diện tích đủ tiêu chuẩn quy định khi có điều kiện; từng bước nâng cấp các chợ tạm và xoá bỏ chợ tự phát.

+ Phát triển kênh phân phối hiện đại:

- Xây dựng mới 01 trung tâm mua sắm tại thị trấn huyện có diện tích 01ha. Trung tâm đảm nhiệm đa chức năng cả về kinh doanh hàng hoá và kinh doanh các loại hình dịch vụ phục vụ đời sống của dân cư địa phương. Trung tâm nằm trên quốc lộ 60, nối TP.Bến Tre với tỉnh Tiền Giang.

- Xây dựng mới 02 siêu thị tại xã Giao Long và xã Tiên Thuỷ; diện tích mỗi siêu thị 2.000m2.

- Khuyến khích, hướng dẫn tổ chức chuyển đổi một số cửa hàng của hộ kinh doanh bán lẻ thành cửa hàng tiện ích trên địa bàn huyện. Phấn đấu có 60-80 cửa hàng tiện ích trong giai đoạn quy hoạch.

3.7. Huyện Thạnh Phú:

Thạnh Phú có diện tích tự nhiên là 422,7km2, dân số 127.742 người, mật độ dân số bình quân 302 người/km2, có 01 thị trấn và 17 xã. Thạnh Phú nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Hàm Luông, Cổ Chiên; là địa bàn nhiễm mặn và lợ từ biển Đông, ảnh hưởng thuỷ triều trực tiếp, tài nguyên thuỷ sinh phong phú. Các đặc điểm trên tuy không có ưu thế cho thâm canh nông nghiệp nhưng lại thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản. Huyện có vị trí thuận lợi về đường sông và đang tiến hành đầu tư về đường bộ, do đó huyện có điều kiện phát triển giao thông thuỷ bộ giao lưu hàng hoá với các tỉnh lân cận và trung tâm kinh tế khác, từ đó đẩy nhanh nhịp độ phát triển thương mại - dịch vụ.

Hệ thống các cơ sở và hoạt động kinh tế tiểu thủ công nghiệp, thương mại, vận tải, ngân hàng và dịch vụ của huyện đã hình thành và đang thích nghi với nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển và đa dạng. Huyện có cụm công nghiệp 10ha tại thị trấn và được quy hoạch thêm 10ha vào giai đoạn 2011-2015.

Huyện hiện có 17 chợ, trong đó có 01 chợ hạng 2, có 6 chợ được xây dựng kiên cố, 03 chợ được xây dựng bán kiên cố, còn lại là chợ tạm.

Bảng 18.7: Tổng hợp quy hoạch các công trình thương mại huyện Thạnh Phú

STT

Danh mục

Địa chỉ

Phân

 loại

Diện tích

(m2)

Vốn đầu tư TT (tr.đồng)

Xây dựng mới

Nâng cấp

 I. GIAI ĐOẠN 2011-2015 

26.393

21.500

04

05

1

Siêu thị

TT. Thạnh Phú

Hạng III

2.000

5.000

X

 

2

Chợ Giồng Luông

Xã Đại Điền

Hạng 3

2.900

 1.500

 

X

3

Chợ An Nhơn

Xã An Nhơn

Hạng 3

3.300

 1.500

 

X

4

Chợ Cồn Hươu

Xã Giao Thạnh

Hạng 3

2.200

1.500

 

X

5

Chợ Tân Phong

Xã Tân Phong

Hạng 3

4.093

1.500

 

X

6

Chợ An Điền

Xã An Điền

Hạng 3

3.000

3.000

X

 

7

Chợ Hoà Lợi

Xã Hoà Lợi

Hạng 3

3.000

3.000

X

 

8

Chợ Quới Điền

Xã Quới Điền

Hạng 3

2.900

1.500

 

X

9

Chợ Mỹ An

Xã Mỹ An

Hạng 3

3.000

3.000

X

 

II. GIAI ĐOẠN 2016-2020 

43.554

88.000

09

02

1

TT mua sắm

TT.Thạnh Phú

GĐ 1

10.000

50.000

X

 

2

Siêu thị

Xã Giao Thạnh

Hạng III

2.000

6.000

X

 

3

Chợ Thạnh Hải

Thạnh Hải

Hạng 3

3.000

4.000

X

 

4

Chợ Giồng Ớt

An Thuận