Quyết định 58/2006/QĐ-UBND

Quyết định 58/2006/QĐ-UBND về Chương trình giải quyết việc làm tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2006 – 2010

Quyết định 58/2006/QĐ-UBND Chương trình giải quyết việc làm Bình Thuận 2006 2010 đã được thay thế bởi Quyết định 2893/QĐ-UBND năm 2011 bãi bỏ văn bản quy phạm Bình Thuận và được áp dụng kể từ ngày 30/12/2011.

Nội dung toàn văn Quyết định 58/2006/QĐ-UBND Chương trình giải quyết việc làm Bình Thuận 2006 2010


ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 58/2006/QĐ-UBND

Phan Thiết, ngày 20 tháng 7 năm 2006

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC BAN HÀNH CHƯƠNG TRÌNH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TỈNH BÌNH THUẬN GIAI ĐOẠN 2006 – 2010

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Nghị quyết số 42/2006/NQ-HĐND ngày 10/7/2006 của Hội đồng nhân dân Tỉnh khóa VIII - kỳ họp thứ 6 về Chương trình giải quyết việc làm tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2006 – 2010;

Theo đề nghị của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Nay ban hành kèm theo Quyết định này “Chương trình giải quyết việc làm tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2006 – 2010”.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày kể từ ngày ký.

Điều 3. Chánh Văn phòng UBND Tỉnh, Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Thủ trưởng các Sở, Ban, Ngành Tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố căn cứ Quyết định thi hành./.

 

 

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH




Huỳnh Tấn Thành

 

CHƯƠNG TRÌNH

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TỈNH BÌNH THUẬN GIAI ĐOẠN 2006 – 2010
(Ban hành kèm theo Quyết định số 58/2006/QĐ-UBND ngày 20 tháng 7 năm 2006 của UBND tỉnh Bình Thuận)

Phần I

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM GIAI ĐOẠN 2001 – 2005.

I. Kết quả thực hiện:

Thực hiện Chương trình giải quyết việc làm giai đoạn 2001 – 2005, đồng thời với việc chỉ đạo điều hành các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, toàn Tỉnh đã giải quyết việc làm cho 101.380/103.000 người, đạt 98,4% kế hoạch, bình quân hàng năm trên 20.200 người. Tỉnh cũng ban hành các chính sách hỗ trợ, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vốn phát triển các lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp xây dựng, thương mại - dịch vụ; từ đó đã đạt được những mục tiêu quan trọng của Chương trình đề ra. Cụ thể: thông qua các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội và phát triển sản xuất của các thành phần kinh tế đã giải quyết việc làm cho 76.479 người, bình quân hàng năm 15.296 người; thực hiện đề án xuất khẩu lao động, toàn Tỉnh đã tổ chức đưa 223 người đi làm việc ở nước ngoài, bình quân hàng năm 45 người; cung ứng lao động đi làm việc tại các doanh nghiệp, các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Đồng Nai, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh đã giải quyết việc làm cho 10.160 người, bình quân hàng năm 2.032 người; thực hiện cho vay vốn giải quyết việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm 2.458 dự án với doanh số cho vay 54.338 triệu đồng, giải quyết việc làm cho 14.518 người, bình quân hàng năm 2.904 người.

II. Đánh giá chung:

Nhìn chung, do có sự quan tâm chỉ đạo điều hành tích cực của các cấp, các ngành nên công tác giải quyết việc làm cho người lao động trong 05 năm qua có nhiều chuyển biến tích cực. Các chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội đã khơi dậy tiềm năng, thúc đẩy sản xuất phát triển, từ đó thu hút, tạo việc làm mới cho người lao động, cải thiện nâng cao đời sống, ổn định an ninh trật tự xã hội. Đồng thời, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, nhất là trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp từ 67,8% năm 2001, giảm xuống còn 64,9% vào năm 2005; thương mại – dịch vụ từ 21,2% năm 2001, tăng lên 24,2% vào năm 2005; riêng lĩnh vực công nghiệp – xây dựng cơ cấu lao động chuyển dịch không đáng kể (từ năm 2001 đến năm 2005, tỷ trọng lao động trong lĩnh vực này khoảng 11%). Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng về số lượng và quy mô đã tạo việc làm mới cho người lao động. Công tác quản lý, điều hành cho vay vốn quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm ngày càng chặt chẽ. Hoạt động dịch vụ việc làm và xuất khẩu lao động từng bước được phát huy giúp người lao động có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm và nâng cao thu nhập.

Tuy nhiên, trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện Chương trình vẫn còn những tồn tại, hạn chế cơ bản đó là: lao động được giải quyết việc làm chủ yếu là lao động phổ thông, và ở một số lĩnh vực không tập trung như chăn nuôi, trồng rừng, trồng cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ sản... Một số chương trình phát triển cây bông vải, chương trình nuôi tôm chưa đạt kế hoạch đề ra. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp vẫn còn nhỏ lẻ, phát triển làng nghề chưa được đầu tư đúng mức. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch còn yếu kém, chưa có các công trình vui chơi giải trí, còn nhiều dự án chưa triển khai thực hiện làm hạn chế khả năng tạo việc làm. Một số doanh nghiệp Nhà nước hoạt động thua lỗ kéo dài phải giải thể, sáp nhập làm giảm chỗ làm việc ảnh hưởng đến đời sống, việc làm của người lao động. Hoạt động xuất khẩu lao động tuy có chuyển biến hơn nhưng kết quả đạt được vẫn còn thấp so với chỉ tiêu đề ra. Hoạt động tư vấn giới thiệu việc làm chậm được đổi mới, chưa chủ động nắm bắt thông tin về thị trường lao động, chưa đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động và người lao động.

Những tồn tại trên là do công tác chỉ đạo điều hành, phối hợp triển khai thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội ở một số địa phương, Ban, Ngành, Đoàn thể chưa được thường xuyên, kịp thời, chưa coi trọng công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về giải quyết việc làm, nhất là về xuất khẩu lao động nên việc triển khai thực hiện đạt kết quả chưa cao; cán bộ thực hiện công tác giải quyết việc làm ở cấp huyện và cấp xã chưa được tăng cường và thường xuyên thay đổi nên việc tham mưu, đề xuất còn nhiều yếu kém, thiếu kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện.

Phần II

DỰ BÁO VỀ LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG VÀ NHU CẦU GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM HÀNG NĂM GIAI ĐOẠN 2006-2010.

I. Dự báo về lực lượng lao động:

1. Lực lượng lao động toàn Tỉnh năm 2006 là 584.000 người. Trong đó:

a) Lực lượng lao động làm việc trong các ngành kinh tế là 559.000 người, chia ra:

+ Ngành Nông - Lâm - Thủy sản: 358.000 người, chiếm 64%;

+ Ngành Công nghiệp - Xây dựng: 62.000 người, chiếm 11,1%;

+ Ngành Thương mại - Dịch vụ: 139.000 người, chiếm 24,9%.

b) Lực lượng lao động qua đào tạo 105.000 người, chiếm 18%; trong đó đào tạo nghề 43.600 người, chiếm 7,46%.

c) Lao động thất nghiệp 25.000 người, chiếm 4,28% lực lượng lao động.

2. Dự báo đến năm 2010 lực lượng lao động toàn Tỉnh là 653.000 người. Trong đó:

a) Lực lượng lao động làm việc trong các ngành kinh tế là 629.000 người, chia ra:

+ Ngành Nông - Lâm - Thủy sản: 390.000 người, chiếm 62%;

+ Ngành Công nghiệp - Xây dựng: 80.000 người, chiếm 12,7%;

+ Ngành Thương mại - Dịch vụ: 159.000 người, chiếm 25,3%.

b) Lực lượng lao động qua đào tạo 196.000 người, chiếm 30%; trong đó đào tạo nghề 77.500 người, chiếm 11,86%.

c) Lao động thất nghiệp 24.000 người, chiếm 3,7% lực lượng lao động.

Lực lượng lao động Tỉnh ta tuy dồi dào nhưng chất lượng lao động thấp, phần lớn là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo, tác phong và ý thức làm việc chưa cao do còn ảnh hưởng của nền sản xuất nông nghiệp. Mặt khác, do kinh tế của Tỉnh chưa phát triển mạnh nên một bộ phận lao động có trình độ cao sau khi tốt nghiệp không tham gia làm việc cho Tỉnh mà đi làm việc ở các tỉnh, thành phố khác.

II. Dự báo về nhu cầu giải quyết việc làm hàng năm:

Tổng nhu cầu giải quyết việc làm hàng năm khoảng 47.000 người, trong đó:

- Số người thất nghiệp của năm trước chuyển sang: 25.000 người;

- Số người có nhu cầu việc làm tăng thêm hàng năm: 22.000 người, trong đó:

+ Số người đến tuổi lao động (tuổi 15) có nhu cầu giải quyết việc làm: 4.500 người (tổng số người ở độ tuổi 15 là 32.545 người);

+ Bộ đội phục viên, xuất ngũ: 1.000 người;

+ Học sinh trong độ tuổi lao động (từ 15 đến 18 tuổi) thôi học khoảng 40.000 người, trong đó có nhu cầu giải quyết việc làm: 10.000 người;

+ Học sinh tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề: 5.500 người;

+ Số lao động thôi việc hoặc mất việc làm ở các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế: 1.000 người.

Phần III

NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM GIAI DOẠN 2006 – 2010

I. Quan điểm, mục tiêu Chương trình:

1. Quan điểm:

- Giải quyết việc làm phải gắn với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, chuyển dịch cơ cấu lao động, giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân lao động;

- Giải quyết việc làm phải gắn với nâng cao chất lượng lao động, năng suất lao động, phát triển nguồn nhân lực, góp phần thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế Tỉnh nhà;

- Giải quyết việc làm trên các thị trường lao động trong Tỉnh, ngoài Tỉnh và ở ngoài nước, tạo cơ hội cho người lao động làm việc để nâng cao đời sống, nâng cao tay nghề, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương;

- Giải quyết việc làm là trách nhiệm của tất cả các ngành, các cấp, các đoàn thể, gia đình và của mỗi người lao động.

2. Mục tiêu:

- Bảo đảm số lao động được giải quyết việc làm hàng năm phải bằng hoặc lớn hơn số lao động có nhu cầu việc làm tăng thêm; đến năm 2010, tạo việc làm cho từ 110.000 đến 120.000 người;

- Hàng năm, giải quyết việc làm cho 22.000 người, trong đó xuất khẩu lao động từ 300 người trở lên;

- Giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới 4% vào năm 2010;

- Gắn giải quyết việc làm với chuyển dịch cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế, đến năm 2010 cơ cấu lao động làm việc trong các ngành như sau: Nông – Lâm - Thuỷ sản chiếm 62%; Công nghiệp - Xây dựng chiếm 12,7%; Thương mại - Dịch vụ chiếm 25,3%.

II. Nhiệm vụ chủ yếu của Chương trình:

1. Tổ chức thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội:

Tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Tỉnh Đảng bộ lần thứ XI đã đề ra; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế đầu tư phát triển kinh tế, mở rộng ngành nghề để tạo việc làm mới cho người lao động tại địa phương, thông qua đó giải quyết việc làm cho 81.000 người, bình quân hàng năm 16.200 người, tập trung vào các lĩnh vực:

a) Lĩnh vực nông nghiệp nông thôn: Phấn đấu trong 5 năm, giải quyết việc làm cho 14.738 người, bình quân hàng năm 2.948 người, tập trung vào các nội dung:

- Tạo sự chuyển biến về chất trong sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn. Thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, con nuôi theo hướng phát triển nhanh các cây trồng, con nuôi có lợi thế; tập trung hoàn thiện quy hoạch ngành, quy hoạch cây, con trên từng vùng, gắn với sắp xếp, bố trí ổn định dân cư nông thôn;

- Đảm bảo nguồn nguyên liệu bông, cao su, thanh long cung cấp cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu;

- Đẩy mạnh phát triển ngành nghề nông thôn để thu hút lao động tại chỗ, tăng cường giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông thôn để tăng thu nhập cho nông dân trên từng vùng;

- Tiếp tục thực hiện giao đất, khoán rừng ổn định lâu dài cho hộ gia đình và cộng đồng, nhất là giao khoán bảo vệ rừng cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số; củng cố, đổi mới các loại hình kinh tế tập thể mà nòng cốt là Hợp tác xã phải phát triển vững chắc và trọng tâm là khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn;

- Xây dựng và phát triển kinh tế tập thể phải toàn diện trên các mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, xoá đói giảm nghèo… thể hiện vai trò cầu nối trong việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước đến từng hộ sản xuất, thực hiện chuyển giao tiến bộ khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái, xây dựng quy chế dân chủ để xây dựng cộng đồng nông thôn ngày càng phát triển.

b) Lĩnh vực khai thác, chế biến thuỷ hải sản: Phấn đấu trong 5 năm, giải quyết việc làm cho 25.938 người, bình quân hàng năm 5.188 người, tập trung vào các nội dung:

- Phát triển kinh tế thuỷ sản toàn diện theo hướng nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm gắn với công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Tăng cường đầu tư hoàn thiện hệ thống cảng cá Phan Thiết, Phan Rí Cửa, La Gi, các khu neo đậu tàu thuyền, các khu quy hoạch đóng sửa tàu thuyền và dịch vụ tiêu thụ sản phẩm khai thác;

- Tiếp tục đẩy mạnh khai thác hải sản xa bờ, chuyển đổi cơ cấu nghề, sử dụng rộng rãi các trang thiết bị hiện đại phục vụ khai thác;

- Phát triển mạnh sản xuất tôm giống và nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, quy hoạch lại vùng sản xuất tôm thịt và phát triển nuôi trồng theo hướng thâm canh, công nghiệp gắn với quản lý môi trường bảo đảm hiệu quả kinh tế ổn định hơn.

c) Lĩnh vực công nghiệp chế biến và làng nghề tiểu thủ công nghiệp: Phấn đấu trong 5 năm, giải quyết việc làm cho 15.982 người, bình quân hàng năm 3.196 người, tập trung vào các nội dung:

- Tập trung phát triển nhanh các khu công nghiệp lớn, sớm thu hút nhiều dự án công nghiệp, nhất là các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp - dịch vụ dầu khí. Phát triển mạnh các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, xây dựng các làng nghề truyền thống để tạo ra những mặt hàng đặc trưng phục vụ du lịch, tạo điểm tham quan du lịch, tạo thêm nhiều việc làm cho lao động tại chỗ, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn;

- Hoàn thành đầu tư hạ tầng kỹ thuật các Khu chế biến hải sản Nam cảng cá Phan Thiết, Khu Phú Hải và các khu chế biến thủy sản ở Hàm Tân, Tuy Phong để thu hút các nhà đầu tư. Xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, thu hút đầu tư lấp đầy Khu công nghiệp Phan Thiết mở rộng; Khu công nghiệp Hàm Kiệm - Hàm Thuận Nam, Khu công nghiệp Sơn Mỹ - Hàm Tân. Nghiên cứu sửa đổi chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân nhằm tạo điều kiện thành lập mới nhiều doanh nghiệp để tạo chỗ làm việc mới cho người lao động.

d) Lĩnh vực thương mại, dịch vụ và du lịch: Phấn đấu trong 5 năm, giải quyết việc làm cho 24.342 người, bình quân hàng năm 4.868 người, tập trung vào các nội dung:

- Tiếp tục triển khai thực hiện chương trình phát triển xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ đến năm 2010. Khuyến khích doanh nghiệp tự đầu tư đổi mới công nghệ nhằm tăng năng suất, giảm giá thành sản xuất, tạo được sản phẩm xuất khẩu chủ lực có chất lượng, giá trị và kim ngạch xuất khẩu lớn có khả năng cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là các sản phẩm lợi thế của tỉnh như: các loại hải đặc sản, hạt điều, thanh long, tinh bột mì, hàng may mặc…Đầu tư đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, xúc tiến xuất khẩu bằng các nguồn vốn theo chương trình xúc tiến thương mại quốc gia và từ nguồn ngân sách Tỉnh để giới thiệu, quảng bá sản phẩm hàng hóa của địa phương ra thị trường các nước trong khu vực và trên thế giới;

- Tập trung khai thác có hiệu quả cảnh quan thiên nhiên và nhân tạo đã có để phát triển du lịch gồm nhiều loại hình với quy mô phù hợp ở từng địa bàn. Thu hút thêm các dự án có quy mô lớn. Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các loại hình kinh doanh dịch vụ du lịch, khuyến khích đẩy mạnh đầu tư các loại hình vui chơi, giải trí, du lịch sinh thái nghỉ dưỡng để tăng sức hấp dẫn và kéo dài thời gian lưu trú của du khách;

- Tổ chức tốt các hoạt động thông tin, quảng bá du lịch. Tập trung đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển của ngành du lịch; giải quyết các vướng mắc tạo điều kiện thúc đẩy các dự án đầu tư du lịch, đẩy nhanh tiến độ thực hiện đầu tư, sớm đi vào hoạt động. Phát triển du lịch đi đôi phát triển các ngành nghề phục vụ du lịch như thực phẩm sạch, chất lượng cao; hàng thủ công mỹ nghệ lưu niệm; dịch vụ bưu chính viễn thông, ngoại hối…

2. Tổ chức đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài:

Phấn đấu trong 5 năm, giải quyết việc làm cho 1.700 người, bình quân hàng năm 340 người, tập trung vào các nội dung:

- Trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm thực hiện Đề án Xuất khẩu lao động giai đoạn 2003 – 2005, tập trung triển khai có hiệu quả công tác xuất khẩu lao động trong năm 2006 và những năm tiếp theo. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về chủ trương chính sách của Trung ương, của Tỉnh về xuất khẩu lao động, chọn nhân tố điển hình để tuyên truyền nhằm tác động đến người lao động tạo thành phong trào tham gia xuất khẩu lao động. Nâng cao trách nhiệm của các cấp (nhất là cấp xã), các ngành trong việc chỉ đạo hoạt động xuất khẩu lao động;

- Tổ chức đào tạo nghề theo đế án của Chính phủ đến năm 2015 (Quyết định số 33/2006/QĐ – TTg ngày 07/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ) để tạo nguồn lao động có kỹ thuật cho xuất khẩu lao động; đồng thời, tổ chức dạy ngoại ngữ, giáo dục định hướng cho người lao động, nhất là giáo dục ý thức kỷ luật, rèn luyện tác phong công nghiệp cho người lao động nhằm nâng cao chất lượng lao động tham gia xuất khẩu lao động;

- Tiếp tục thực hiện mô hình tuyển lao động trực tiếp tại cấp xã, phường, thị trấn. Các cơ sở dạy nghề, các Trung tâm giới thiệu việc làm phải phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động để tuyển chọn lao động có chất lượng;

- Thành lập Quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động (khoảng 2 tỷ đồng/năm) và ban hành Quy chế quản lý, sử dụng quỹ nhằm hỗ trợ người lao động, nhất là lao động thuộc diện hộ nghèo có điều kiện tham gia xuất khẩu lao động; hỗ trợ cho người lao động bị rủi ro phải về nước trước thời hạn, hỗ trợ khảo sát thị trường lao động ở nước ngoài và công tác thông tin tuyên truyền về xuất khẩu lao động trên các phương tiện thông tin đại chúng.

3. Cung ứng lao động đi làm việc ngoài tỉnh:

Trong những năm trước mắt, số lao động thất nghiệp của Tỉnh ta còn khá lớn, khả năng thu hút lao động vào làm việc tại các cơ sở trong Tỉnh chưa đáp ứng đủ do kinh tế - xã hội chưa phát triển mạnh, nên chưa tạo được nhiều chỗ làm việc mới. Trong khi đó các doanh nghiệp ở các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, nhất là các khu công nghiệp, khu chế xuất đang rất thiếu lao động, kể cả lao động phổ thông. Do vậy, tuyển và cung ứng lao động đi làm việc ngoài Tỉnh là một giải pháp quan trọng nhằm giải quyết việc làm cho lao động Tỉnh ta. Tuy nhiên, để cung ứng lao động đi làm việc ngoài Tỉnh đạt hiệu quả, hạn chế tối đa tình trạng lao động bỏ về lại địa phương thì vấn đề quan trọng là phải khảo sát kỹ việc chấp hành pháp luật lao động của doanh nghiệp, tìm hiểu về điều kiện làm việc, nơi ăn ở và mức thu nhập của người lao động để trên cơ sở đó có biện pháp tư vấn phù hợp. Phối hợp tốt với các cơ quan quản lý nhà nước về lao động tại các tỉnh bạn để theo dõi, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người lao động. Thông qua việc cung ứng lao động đi làm việc ngoài Tỉnh, trong 5 năm phấn đấu giải quyết việc làm cho 17.300 người, bình quân hàng năm 3.460 người.

4. Thực hiện cho vay vốn giải quyết việc làm:

Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn vay từ Quỹ quốc gia về việc làm do Trung ương cấp mới hàng năm (từ 2,5 đến 3 tỷ đồng) và trích ngân sách Tỉnh từ 1 đến 2 tỷ đồng thành lập Quỹ giải quyết việc làm địa phương để đáp ứng nhu cầu vay của nhân dân, tăng suất đầu tư trên một chỗ làm việc. Nguồn vốn cần tập trung đầu tư vào các dự án phát triển tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến, làng nghề thủ công truyền thống và dịch vụ để tăng hiệu quả kinh tế, đảm bảo giải quyết việc làm ổn định cho người lao động. Tăng cường các biện pháp quản lý nguồn vốn. Thực hiện cho vay đúng đối tượng, đúng quy trình và thủ tục quy định; giảm tỷ lệ vốn tồn đọng dưới mức 5% và tỷ lệ nợ quá hạn dưới mức 3%. Phấn đấu trong 5 năm, giải quyết việc làm cho 10.000 người, bình quân hàng năm 2.000 người.

III. Giải pháp chủ yếu thực hiện Chương trình:

1. Đào tạo nghề:

- Quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ lao động đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề đi đôi với việc giáo dục ý thức, tác phong và tính kỷ luật lao động phù hợp với xu thế công nghiệp hoá, hiện đại hóa;

- Nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành nhất là các ngành kinh tế kỹ thuật trong việc nắm bắt nhu cầu, định hướng ngành nghề đào tạo phù hợp với xu hướng phát triển của ngành trong tương lai;

- Nâng cao chất lượng đào tạo các cơ sở dạy nghề bằng việc tăng cường và nâng cao nghiệp vụ đội ngũ giáo viên, đổi mới trang thiết bị và nội dung chương trình giảng dạy.

2. Các hoạt động hỗ trợ tìm kiếm việc làm và học nghề:

- Tổ chức khảo sát nhu cầu đào tạo nghề, triển khai điều tra lao động - việc làm theo chỉ đạo của Trung ương nhằm thu thập thông tin về tình trạng việc làm, thất nghiệp; sự chuyển dịch cơ cấu lao động làm cơ sở cho việc nghiên cứu xây dựng các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, các chính sách liên quan đến đào tạo nghề và giải quyết việc làm;

- Tổ chức các “Hội chợ việc làm” tại xã và cụm xã, tiến tới thực hiện các phiên giao dịch thường xuyên về việc làm để cung cấp thông tin về việc làm, đào tạo nghề nhằm giúp cho người lao động, nhất là lao động ở các vùng sâu, vùng xa có điều kiện tham gia, tiếp cận đầy đủ các thông tin để lựa chọn nghề học và việc làm phù hợp;

- Tăng cường các hoạt động tư vấn giới thiệu việc làm, củng cố và phát triển các Trung tâm giới thiệu việc làm hiện có. Quy hoạch và thành lập mới hệ thống Trung tâm Giới thiệu việc làm của Hội Liên hiệp phụ nữ, Đoàn Thanh niên (theo Chương trình phát triển thanh niên tỉnh Bình Thuận đến năm 2010). Đầu tư trang thiết bị và tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác tư vấn, giới thiệu việc làm và dạy nghề. Đổi mới hoạt động của các trung tâm để thực sự là cầu nối giữa người sử dụng lao động và người lao động. Thực hiện việc liên kết với xã, phường, thị trấn để tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động làm nòng cốt trong việc tổ chức triển khai ngày Hội việc làm cho thanh niên. Các Trung tâm Giới thiệu việc làm phải thực hiện tốt chức năng giới thiệu việc làm và đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm trong Tỉnh, ngoài Tỉnh và xuất khẩu lao động;

- Hàng năm, xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo dõi công tác lao động - việc làm ở cấp huyện và xã với nội dung, chương trình phù hợp với trình độ tiếp thu của đội ngũ cán bộ làm công tác này ở địa phương nhằm nâng cao năng lực chuyên môn và khả năng tham mưu cho Lãnh đạo về các biện pháp, tổ chức quản lý, điều hành thực hiện chương trình có hiệu quả.

3. Rà soát sửa đổi, bổ sung các chính sách:

- Nghiên cứu, đánh giá phân tích tác động của các chủ trương, chính sách để tăng nguồn việc làm. Đặc biệt chú trọng đến các chính sách như: thu hút đầu tư, đa dạng hóa hình thức đầu tư xây dựng hạ tầng dịch vụ công cộng, chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nguồn nhân lực, chính sách phát triển các vùng và các thành phần kinh tế, phát triển khoa học công nghệ, chính sách hỗ trợ phát triển các vùng nghèo, vùng dân tộc thiểu số, xóa đói giảm nghèo và các chính sách cần thiết khác để phát triển các ngành nghề và sản phẩm lợi thế của Tỉnh;

- Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung chính sách hỗ trợ chi phí giáo dục định hướng cho đối tượng chính sách đi xuất khẩu lao động theo hướng mở rộng đối tượng, tăng mức hỗ trợ phù hợp với chi phí thực tế;

- Đẩy mạnh xã hội hoá công tác đào tạo để thu hút mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư cho giáo dục đào tạo. Tạo điều kiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách khuyến khích để các tổ chức, cá nhân có năng lực đầu tư thành lập cơ sở dạy nghề ngoài công lập đáp ứng đào tạo lao động kỹ thuật cho xuất khẩu lao động và các ngành, nghề mà địa phương đang thiếu;

4. Công tác tuyên truyền, giáo dục:

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề và giải quyết việc làm; từng cấp, từng ngành, từng địa phương phải xây dựng nội dung tuyên truyền mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của ngành, địa phương mình, trong đó nêu rõ nhu cầu đào tạo nghề và khả năng tạo chỗ làm việc mới của từng chương trình, dự án, tổ chức tuyên truyền đến các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là vùng sâu vùng xa để người dân biết tham gia học nghề và tìm kiếm việc làm phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đề ra.

5. Nguồn vốn thực hiện Chương trình:

Huy động các nguồn vốn thuộc các thành phần kinh tế, vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế - xã hội trong và ngoài Tỉnh, vốn của các tổ chức, cá nhân nước ngoài để thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội có thu hút lao động. Dự kiến tổng nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước giai đoạn 2006 – 2010 là 43.350 triệu đồng, trong đó:

- Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Trung ương: 21.250 triệu đồng, trong đó:

+ Quỹ quốc gia về việc làm 15.000 triệu đồng;

+ Điều tra lao động - việc làm 500 triệu đồng;

+ Tổ chức Hội chợ việc làm 500 triệu đồng;

+ Nâng cao năng lực cán bộ làm công tác lao động - việc làm 250 triệu đồng;

+ Nâng cao năng lực các Trung tâm Giới thiệu việc làm 5.000 triệu đồng.

- Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách của Tỉnh 22.100 triệu đồng, trong đó:

+ Quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động 10.000 triệu đồng;

+ Quỹ giải quyết việc làm của Tỉnh 10.000 triệu đồng;

+ Điều tra, khảo sát nhu cầu đào tạo nghề: 1.000 triệu đồng;

+ Điều tra lao động - việc làm 500 triệu đồng;

+ Tổ chức Hội chợ việc làm 500 triệu đồng;

+ Thông tin tuyên truyền: 100 triệu đồng.

- Các nguồn khác.

IV. Tổ chức thực hiện:

1. Thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình giải quyết việc làm giai đoạn 2006 – 2010 ở cấp Tỉnh và cấp huyện, thị xã, thành phố.

a) Ban Chỉ đạo cấp Tỉnh gồm:

+ Phó Chủ tịch UBND phụ trách khối Văn xã làm Trưởng ban;

+ Lãnh đạo Ngành Lao động – TB&XH làm Phó ban thường trực;

+ Mời Bí thư đoàn TNCS Hồ Chí Minh làm Phó ban;

+ Thành viên gồm Lãnh đạo các Sở, Ngành: Kế hoạch & Đầu tư, Tài chính, Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội, Thuỷ sản, Công nghiệp, Thương mại, Du lịch, Giao thông - Vận tải, Xây dựng, Giáo dục và Đào tạo, Thống kê, Công an, Y tế, Văn hoá - Thông tin;

+ Mời Lãnh đạo Liên đoàn Lao động Tỉnh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân tham gia làm thành viên.

Ban Chỉ đạo Chương trình giải quyết việc làm Tỉnh có nhiệm vụ giúp UBND Tỉnh tổ chức triển khai, thực hiện Chương trình, xây dựng kế hoạch giải quyết việc làm hàng năm giao cho các huyện, thị xã, thành phố thực hiện. Theo dõi tiến độ thực hiện Chương trình. Kịp thời tham mưu, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện để thực hiện mục tiêu chương trình đề ra.

b) Ban Chỉ đạo cấp huyện, thị xã, thành phố: thành phần như BCĐ cấp Tỉnh.

Ban Chỉ đạo Chương trình giải quyết việc làm cấp huyện, thị xã, thành phố có nhiệm vụ giúp UBND huyện, thị xã, thành phố xây dựng Chương trình giải quyết việc làm phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Hàng năm, căn cứ vào kế hoạch được UBND Tỉnh giao để phân khai cụ thể cho các xã, phường, thị trấn. Theo dõi tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện và tham mưu UBND huyện, thị xã, thành phố kiến nghị sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách cho phù hợp với tình hình thực tế.

2. Phân công trách nhiệm:

- Sở Lao động – TB&XH (cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo) giúp UBND Tỉnh theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện Chương trình; chuẩn bị nội dung các cuộc họp của Ban Chỉ đạo cấp Tỉnh. Phối hợp với các Sở, Ban, Ngành, Đoàn thể và các tổ chức có liên quan xây dựng các chính sách về đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xây dựng kế hoạch giải quyết việc làm cụ thể hàng năm trình UBND Tỉnh quyết định. Chỉ đạo các Trung tâm Giới thiệu việc làm, các Trung tâm Dạy nghề tổ chức đào tạo nghề, giáo dục định hướng cho người lao động để tạo nguồn cung ứng lao động trong Tỉnh, ngoài Tỉnh và xuất khẩu lao động. Định kỳ quý, 6 tháng, năm tổng hợp đánh giá kết quả thực hiện Chương trình báo cáo UBND Tỉnh và Bộ Lao động – TB&XH;

- Sở Kế hoạch và Đầu tư: khi thẩm định các chương trình, dự án, cấp giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh phải xác định rõ chỉ tiêu tạo chỗ làm việc trong từng chương trình, dự án. Chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính cân đối, bố trí kế hoạch kinh phí hàng năm để thực hiện Chương trình trên cơ sở thống nhất với Sở Lao động – TB&XH; theo dõi, giám sát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch và hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí được cấp hàng năm;

- Sở Tài chính: phối hợp với Sở, Ngành liên quan tham mưu UBND Tỉnh thành lập Quỹ giải quyết việc làm ở địa phương, thành lập Quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động và ban hành Quy chế quản lý, sử dụng các nguồn Quỹ này bảo đảm sử dụng đúng mục đích, đem lại hiệu quả thiết thực. Chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư hàng năm xem xét, cân đối bổ sung nguồn vốn giải quyết việc làm ở địa phương, nguồn kinh phí hỗ trợ chi phí giáo dục định hướng, tổ chức Hội chợ việc làm và các nguồn kinh phí khác phục vụ cho Chương trình giải quyết việc làm;

- Các Sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thuỷ sản, Công nghiệp, Thương mại, Du lịch, Giao thông - Vận tải, Xây dựng, Giáo dục và Đào tạo khi xây dựng kế hoạch và đánh giá kết quả thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội thuộc Ngành phụ trách phải lồng ghép xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực, chỉ tiêu tạo chỗ làm việc mới trong từng chương trình, dự án cụ thể, đánh giá kết quả thực hiện và đề xuất các giải pháp triển khai trong thời gian đến;

- Sở Văn hoá - Thông tin, Báo Bình Thuận, Đài Phát thanh truyền hình: tổ chức tốt việc phổ biến, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Trung ương và của Tỉnh về công tác đào tạo, giải quyết việc làm, nhất là công tác xuất khẩu lao động để mọi người hiểu rõ và tham gia thực hiện;

- Công an Tỉnh: thực hiện việc cấp phát hộ chiếu cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo đúng quy định, bảo đảm nhanh chóng và thuận lợi. Phối hợp với Sở Lao động - TB&XH theo dõi, phát hiện và xử lý kịp thời các tổ chức, cá nhân lợi dụng hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài để trục lợi, thu lời bất chính hoặc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trái pháp luật. Theo dõi, giám sát việc tuyển chọn lao động của các doanh nghiệp tuyển lao động trên địa bàn toàn Tỉnh;

- Sở Y tế, Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội: theo chức năng, nhiệm vụ của mình, thực hiện việc khám sức khỏe, cho vay vốn một cách nhanh chóng, thuận tiện cho người lao động trong lĩnh vực học nghề, giải quyết việc làm, nhất là công tác xuất khẩu lao động;

- Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố:

+ Cụ thể hoá Chương trình giải quyết việc làm của Tỉnh thành chương trình, kế hoạch giải quyết việc làm của cấp mình; giao chỉ tiêu kế hoạch cụ thể về giải quyết việc làm cho các xã, phường, thị trấn; thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình giải quyết việc làm để tổ chức triển khai thực hiện đạt các chỉ tiêu, nhiệm vụ mà Chương trình đề ra. Chỉ đạo các Trung tâm Dạy nghề trực thuộc thực hiện tốt việc nắm bắt thông tin thị trường lao động, phối hợp với các doanh nghiệp ngoài Tỉnh tổ chức việc cung ứng lao động giải quyết việc làm ngoài Tỉnh và xuất khẩu lao động. Thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo định kỳ về UBND Tỉnh (qua Sở Lao động – TB&XH) để theo dõi, chỉ đạo;

+ Chỉ đạo UBND các xã, phường, thị trấn trực thuộc: trên cơ sở Chương trình, kế hoạch giải quyết việc làm của huyện, thị xã, thành phố, từng xã, phường, thị trấn căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương mình xây dựng kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện. Chú ý đến công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các quy định của Tỉnh về giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động, đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm thực hiện đạt kết quả cao nhất. Bố trí cán bộ chuyên trách theo dõi thực hiện công tác đào tạo, giải quyết việc làm và thành lập ban Chỉ đạo giúp UBND triển khai thực hiện;

- Tỉnh Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh:

Nghiên cứu triển khai việc xây dựng đề án thành lập Trung tâm Giới thiệu việc làm cho thanh niên theo Chương trình phát triển thanh niên tỉnh Bình Thuận đến năm 2010 đã được UBND Tỉnh phê duyệt. Phối hợp với Sở Lao động – TB&XH để triển khai Chương trình phối hợp và phát huy vai trò xung kích của Đoàn trong công tác dạy nghề, giải quyết việc làm cho thanh niên năm 2006 và những năm tiếp theo.

- Liên đoàn Lao động Tỉnh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Tỉnh, Hội Nông dân Tỉnh:

Phối hợp với Sở Lao động – TB&XH ký kết chương trình liên tịch để triển khai Chương trình giải quyết việc làm trong tổ chức mình. Tổ chức thực hiện tốt công tác tuyên truyền đến Hội viên của các đoàn thể, rà soát nắm bắt đối tượng có nhu cầu học nghề, giải quyết việc làm, tổ chức đăng ký giới thiệu đến các Trung tâm Giới thiệu việc làm hoặc Trung tâm Dạy nghề để học nghề và giải quyết việc làm cho người lao động.

- Các tổ chức Hội, Đoàn thể tham gia thực hiện Chương trình trong phạm vi đơn vị mình, đồng thời tham gia giám sát việc thực hiện Chương trình của các Sở, Ngành có liên quan.

3. Chế độ thông tin, báo cáo định kỳ:

Định kỳ quý, 6 tháng, năm các Sở, Ngành, Đoàn thể tham gia Ban Chỉ đạo Tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố và các đơn vị có liên quan có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện Chương trình giải quyết việc làm của Ngành, địa phương mình về UBND Tỉnh (thông qua Sở Lao động – TB&XH) để theo dõi, chỉ đạo./.

 

Đã xem:

Đánh giá:  
 

Thuộc tính Văn bản pháp luật 58/2006/QĐ-UBND

Loại văn bảnQuyết định
Số hiệu58/2006/QĐ-UBND
Cơ quan ban hành
Người ký
Ngày ban hành20/07/2006
Ngày hiệu lực30/07/2006
Ngày công báo...
Số công báo
Lĩnh vựcLao động - Tiền lương
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực 14/01/2013
Cập nhật4 năm trước
Yêu cầu cập nhật văn bản này

Download Văn bản pháp luật 58/2006/QĐ-UBND

Lược đồ Quyết định 58/2006/QĐ-UBND Chương trình giải quyết việc làm Bình Thuận 2006 2010


Văn bản bị sửa đổi, bổ sung

    Văn bản liên quan ngôn ngữ

      Văn bản sửa đổi, bổ sung

        Văn bản bị đính chính

          Văn bản được hướng dẫn

            Văn bản đính chính

              Văn bản bị thay thế

                Văn bản hiện thời

                Quyết định 58/2006/QĐ-UBND Chương trình giải quyết việc làm Bình Thuận 2006 2010
                Loại văn bảnQuyết định
                Số hiệu58/2006/QĐ-UBND
                Cơ quan ban hànhTỉnh Bình Thuận
                Người kýHuỳnh Tấn Thành
                Ngày ban hành20/07/2006
                Ngày hiệu lực30/07/2006
                Ngày công báo...
                Số công báo
                Lĩnh vựcLao động - Tiền lương
                Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực 14/01/2013
                Cập nhật4 năm trước

                Văn bản hướng dẫn

                  Văn bản được hợp nhất

                    Văn bản gốc Quyết định 58/2006/QĐ-UBND Chương trình giải quyết việc làm Bình Thuận 2006 2010

                    Lịch sử hiệu lực Quyết định 58/2006/QĐ-UBND Chương trình giải quyết việc làm Bình Thuận 2006 2010